CHÍNH-NGHĨA VẪN LUÔN LÀ CHÍNH-NGHĨA (Đặng Chí Hùng)

1- Thảm trạng của người tị nạn cộng sản sau 30/04/1975

Người viết bài này là người đang mang trong lòng một nỗi lòng biết ơn Canada đã giang rộng vòng tay mình khi người viết đang trong vòng vây của cộng sản Việt Nam. Nhưng bài viết này là sự tổng hợp nhiều ý kiến của nhiều người mà tác giả đã gặp, đã nói chuyện trong hơn 4 tháng ở Canada vừa qua. Họ đều nói : Cảm ơn Canada !

Kể từ ngày mà cộng sản Việt Nam gọi là “cướp chính quyền” thì toàn bộ Miền Bắc đã rơi vào con đường khổ ải do một chế độ độc tài và khát máu kìm kẹp, bức hại. Những CCRĐ, Nhân Văn Giai Phẩm…đã là nỗi kinh hoàng cho cả một miền Bắc đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa hoang tưởng. Rồi sau đó, sau ngày 30/04/1975 thì cả Miền Nam cũng chung một số phận như Miền Bắc. Đó là còn chưa kể đến những năm tháng CSVN gây đau thương cho Miền Nam bằng những hành đông khủng bố, nằm vùng… mà tiêu biểu như tết Mậu Thân với những thảm sát tiêu biểu như ở Huế, hay như mùa hè đỏ lửa để lại đại lộ kinh hoàng xác chết tại Quảng Trị năm 1972…Cả Miền Nam và Miền Bắc sau 1975 là một, và là một nhà tù khổng lồ. Người người tìm đường ra đi, nhà nhà tìm đường đến với tự do. Bởi vì từ công ăn việc làm, nhà cửa, người thân đều bị đảng CSVN cho vào vòng tay của đảng hết. Người dân chỉ còn biết than trời mà thôi !

Vậy là làn sóng thuyền nhân đã xuất hiện. Hàng triệu người ra đi chấp nhận làm mồi cho sóng, cho cá và cả hải tặc. Họ ra đi vì một mục đích duy nhất: Tìm tự do cho mình và sau đó sẽ là dân tộc mình và cả những người thân còn đang nằm trong lao tù cộng sản.

Ba mươi là ngày chia ly
Là ngày tang tóc hai miền Việt Nam
Ai làm cho mẹ lầm than?
Là loài cộng phỉ, là bầy vong nô
Tại vì nô lệ Trung Xô
Phơi thân người Việt, hoang tàn nước non
Sau này muôn lớp cháu con
Hờn căm muôn thuở, nước nào rửa đây?
Mong rằng sông núi cỏ cây
Hồn thiêng dân tộc phơi bày trắng đen…
(ĐCH)

Hãy thử đọc vài hồi ký tù đày của những người đã từng nằm tù để thấy chế độ CSVN ác với người dân thế nào. Đó chính là lý do có hàng triệu người chấp nhận năm ăn, năm thua với số phận chỉ vì muốn thoát khỏi gông cùm cộng sản.

Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH. Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khoá 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại học Luật khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, Đại tá Chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), Cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975), Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù cải tạo (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ từ năm 1990. Ông từng là Chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, nguyên Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng VN vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi có viết: “Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ đươc ăn có 4 chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi. Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa sẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể nhũng vụ gánh phân đi bón nặng gẫy sương sườn và chốc lở sương vai.Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày môt tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực. Sau hơn ba năm bị lưu đầy ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây súc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát”.

h1

Tác giả Nguyễn Chí Thiệp trong cuốn “Trại kiên giam “ nổi tiếng của mình thì viết: “Tiêu chuẩn người phạm kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu . Cơm mới bỏ vào miệng chưa kịp nhai cái lưỡi đã đưa cơm vào cổ. Đến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó”. (Nguyễn Chí Thiệp – Trại Tù Kiên Giam, trang 35).

Hoặc: “Hai chân tôi bị còng chéo để bức cung. Còng chéo hai chân bị đóng cứng chặt giữa hai cái còng hình chữ U và thanh sắt xuyên. Vì độ cao của thanh sắt giở hổng hai chân lên thành ra không thể nằm thẳng lưng, vì nằm như vậy thân mình căng ra hai chân bị siết chặt vào sắt đau buốt tận tủy óc. Người bị còng phải dùng hai khuỷu tay để chống hoặc cởi hết quần áo ra chêm ngang thắt lưng mới chịu được một thời gian. Chờ một vài ngày hai cổ chân gầy đi xoay được lật úp thì hai chân sẽ thẳng ra nhưng phải nằm sấp. Nhưng chỉ vài ngày chân đã sưng húp vì ban đêm bị lắc còng điểm danh”, (Trại Tù Kiên Giam – Nguyễn Chí Thiệp, tr 473).

Trên thực tế, một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân dân, cán chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi “học tập cải tạo,” thưc chất là đưa đi tù để trả thù. Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người, như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng. Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi “cải tạo” và những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những “khu kinh tế mới;” cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch man rợ và thâm độc đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của cộng sản.

Trong các trại tù, người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.

Tất cả những điều đó dẫn đến một thảm trạng mà Liên Hiệp Quốc từng gọi là “Thảm trạng nhân đạo” mà cũng từ đó danh từ “Thuyền Nhân” hay “Boat People” ra đời để ghi dấu tội ác của CSVN. Một bài viết trên VOA Việt Ngữ thống kê về con số thuyền nhân và những người không may mắn như sau:” Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 – và trong cả hai thập niên kế tiếp – hàng triệu người Việt đã vượt biển, vượt biên tìm tự do. Ngày nay, người ta thường chú ý đến tập thể cựu thuyền nhân, ‘bộ nhân’ đã sống sót và định cư thành công ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Úc. Cũng trong hai thập niên đen tối ấy, trên 300 ngàn thuyền nhân Việt Nam đã tử nạn trong rừng sâu, trên biển cả và tại các trại tị nạn ở Đông Nam Á. Rải rác khắp nơi tại các trại tị nạn cũ – từ Thái Lan, Malaysia đến Indonesia và Philippines, hàng ngàn ngôi mộ thuyền nhân đã bị bỏ quên – cho đến khi tổ chức Văn khố Thuyền nhân Việt Nam phát động chương trình thăm viếng và trùng tu mộ phần cho những đồng bào xấu số.”.

Đây là những con số biết nói cho thây cộng sản là loài thú dữ đã gây nên cảnh tang thương cho dân tộc Việt Nam chúng ta mà chúng ta không thể nào quên được.

h2

Trong một tập tài liệu ấn hành vào năm 2000, mang tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 years of Humanitarian Action,” viết về tình trạng tị nạn thế giới, để đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, đã nói về lòng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới đã mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đã vượt qua biết bao thử thách và chông gai để đi tìm con đường sống. Bà Ogata đã tuyên dương những người này là “Những người sống sót vĩ đại của Thế Kỷ 20”. Cuốn sách cho biết:” Ngay từ cuối năm 1975, những đợt người tị nạn Việt Nam đã bắt đầu đến lánh nạn tại các nước lân bang. Vào những ngày đó, Thái Lan đã đón nhận 5,000 người tỵ nạn từ Việt Nam qua, tại Hồng Kông cũng đã có 4,000 tị nạn, Tân Gia Ba 1,800 người, và có khoảng 1,250 người cũng đã đến Phi Luật Tân. Vào tháng 7 năm 1976, khi chế độ Hà Nội loại trừ bộ máy quản chế miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng. Và đến cuối năm 1977, đã có trên 15,000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Cho đến năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân xâm chiếm Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đã có 62,000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông-Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54,000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Những làn sóng tị nạn này đã khiến cho các nước trong khối Đông Nam Á, như Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đã bị xua đuổi cấm không cho lên bờ. Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đã gia tăng.

Sau những cuộc hành trình hãi hùng lênh đênh trên đại dương, một số thuyền nhân cũng đã đến được bến bờ tạm dụng. Những lớp người này đã đem cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện về người cha, người mẹ, đã phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quý hơn vàng được vắt ra từ miếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên. Hay là những chuyện thương tâm về người chết đã cứu được người sống với thịt máu của chính mình. Hoặc nữa là những chuyện nói nhỏ, kể về những trường hợp phải đương đầu với hải tặc. Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này còn phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn phong ba bão táp đã khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả. Không ai dám phỏng đoán với mỗi người có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, đã có bao nhiêu người hy sinh trên đại dương.

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đã viết lê thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hãi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đã đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương trình Ra Đi Có Trật Tự ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương trình cứu người vượt biển đã được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tầu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile de Lumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đã cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.”.

Theo cuốn video tài liệu của Ủy Ban Cứu Nguy Người Vượt Biển về con tầu J. Charcot, sau 20 ngày tìm vớt ngoài khơi Việt Nam:” tầu đã vớt được 520 người, thành phần tuổi tác như sau:Từ 14 đến 30 tuổi có 269 người, tức 51.73%. Học trò có 224 em, gồm 136 nam, 88 nữ, chiếm 43.08%. Người trên 50 tuổi chỉ có 11 người, chiếm 2.11%. Người có nghề nghiệp là 218 người, chiếm 41.92% gồm 154 đàn ông và chỉ có 64 đàn bà …Với thành phần trẻ chiếm đa số và nhất là giới học trò đã làm cho Thế giới rúng động ở mức độ khinh hoàng về cuộc ra đi của người Việt. Hàng trăm ký giả, các nhà xã hội và tôn giáo thiện nguyện đổ xô về Đông Nam Á quan sát thảm nạn thuyền nhân khi những chiếc tầu chở hàng ngàn thuyền nhân đổ bộ lên đảo hoang Pulau Bidong, Galang..”

h3

Và cuối cùng, trên trang chính của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam có đăng tả lại một trong những thàm kịch của thuyền nhân Việt Nam chạy trốn cộng sản đã mô tả” Sáng 1-12-1978 , bão lớn kéo đến. Chẳng bao lâu sau tầu chìm. 170 người thiệt mạng. 150 người sống sót.123 thi hài được chon chồng chất 4 lớp lên nhau trong nghĩa trang Cherang Ruku.46 thi hài khác được mai tang 3 ngày sau đó tại nghĩa trang Balai Bachok, cách Cherang Ruku 30km về hướng Bắc”. Cho đến ngày hôm nay, sau hơn 80 năm cai trị Việt nam thì đảng cộng sản vẫn còn những người ra biển tìm tự do :” Hiện nay vẫn còn có những người Việt Nam phải bỏ nước ra đi bằng thuyền như phong trào thuyền nhân vượt biển cách đây gần 40 năm sau thời điểm 1975.Hãng thông tấn AP hôm nay loan tin tính đến lúc này trong năm nay có 460 người Việt Nam tìm đến được bến bờ nước Úc. Đây là con số bằng cả năm năm qua gộp lại.Tàu chở thuyền nhân Việt Nam mới nhất đến được đảo Christmas Island của Úc là vào hồi tháng trước. Chiếc tàu có số hiệu đăng ký tại tỉnh Kiên Giang. Đây là tỉnh có khoảng cách đến đảo Chirstmas Island hơn 2300 kilomet….Một thuyền nhân có tên Trương Chí Liêm 23 tuổi khi AP liên lạc được qua điện thoại từ Trung Tâm Giam giữ Người Nhập cư Villawood, nằm ở ngoại vi Sydney, cho biết là anh ta thà chết ở trại chứ không để bị cưỡng bức về lại Việt Nam. Người này rời Việt Nam cách đây 5 năm và bị bắt giam ở Indonesia 18 tháng khi đang trên đường tìm đến Úc.” (Bài viết trên RFA)

h4

h5

Chỉ cần đọc sơ sơ vài điều đó, chắc hẳn sống mũi của chúng ta sẽ thấy cay cay, sẽ có những dòng lệ nhỏ xuống từ khóe mắt của chúng ta. Bởi vì chúng ta là người Việt Nam, chúng ta đều là nạn nhân của cộng sản và chúng ta luôn nghĩ về Dân Tộc mình, về những đồng bào xấu số của mình. Đó là nỗi đau mà chúng ta không thể cho phép mình quên đi dễ dàng !

2- Chính nghĩa thuộc về Dân Tộc

Lá cờ Vàng ba sọc đỏ thuộc về lịch sử của dân tộc ta. Người viết đã nhiều lần chứng minh đó là điều mà chúng ta phải trân trọng (Xin xem thêm: Những sự thật cần phải biết 8 và 9). Cờ Vàng khác hẳn lá cờ Phúc Kiến mà đảng CSVN đem về từ Tàu về để rồi ngày hôm nay đảng đem kết nó thành một ngôi sao trong lá cờ sáu sao để chào đón các quan chức đến từ Trung Cộng như là một hình thức ngầm bảo “chúng tôi – đảng CSVN sẽ đưa Việt Nam đúng làm một chư hầu của CS Trung Quốc

 

h6

Vì vậy chúng ta không thể quên một điều rằng, chí có đứng dưới lá cờ Dân Tộc chúng ta mới có chính nghĩa để chống lại đảng CSVN. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta chống cộng sản nhưng đứng dưới lá cờ Cộng Sản được. Vì chủ nghĩa Dân Tộc cũng như truyền thống Dân Tộc của chúng ta là lá cờ Vàng mà từ Bà Triệu, Bà Trưng cho tới thời đệ nhị Cộng Hòa và hàng triệu người Việt tị nạn Cộng Sản đang dùng chính là chính nghĩa Dân Tộc. Cờ Đỏ sao vàng chính là cờ Tàu, là cờ của Cộng Sản chứ không phải giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta. Vì vậy duy trì ngọn cờ Dân Tộc trong lòng người dân Việt Nam trong và ngoài nước chính là trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Điều đó thể hiện cho chính nghĩa Dân Tộc không thể bị phai nhạt theo năm tháng và bởi sự xuyên tạc lịch sử của bạo quyền Cộng Sản.

 

h7

Chúng ta luôn phải nhớ rằng, Cờ Việt Nam Tự Do được hun đúc bằng khí thiêng trời đất và tinh thần quật khởi của dân tộc Việt suốt gần hai ngàn năm lịch sử. Nó tượng trưng cho hồn thiêng sông núi, cho vận hội thái hoà, và cho sự thành công vĩnh cửu của giống nòi Việt Nam. Kể từ năm 40 Tây lịch, thời Hai Bà Trưng, lá cờ Việt Nam Tự Do đã được cải tiến để có hình dạng màu sắc như hiện nay. Thật quả là một ý nghĩa cao cả và đáng được hãnh diện. Lá cờ Việt Nam Tự Do đã thăng trầm với lịch sử oai hùng của dân tộc, nhuốm khí thiêng sông núi, tượng trưng cho dân chủ tự do nhân quyền, cho ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt, cho thái hòa thịnh trị của muôn dân, và cho đoàn kết trong việc giữ nước và dựng nước của tổ tiên ta.

Như vậy có thể thấy Lá cờ Vàng 3 sọc đỏ chính là lá cờ của Việt Nam Tự Do không phải là của riêng một chế độ hay của riêng một chính phủ nào mà là của chung cho cả dân tộc Việt. Lá Cờ Việt Nam Tự Do là linh hồn của cả dân tộc Việt. Lá cờ còn, chính nghĩa còn. Lá cờ còn, tinh thần chiến đấu còn, vì nó là tín bài để chúng ta nhận diện những người Việt Tự Do. Chỗ nào có lá cờ Việt Nam Tự Do thì chỗ đó có tình thương, có dân chủ, có tự do, và có nhân quyền. Giờ này, đa số nhân dân yêu tự do dân chủ, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, mỗi khi nhìn thấy Lá Cờ Việt Nam Tự Do tức là như nhìn thấy vị cứu tinh dân tộc. Không thể nào chúng ta lãng quên điều đó !

 

h8

Những giá trị Dân Tộc mà cụ thể ở đây chính là Lá Cờ Vàng mang trong nó Hồn Thiêng của Sông Núi Việt Nam đã bao lần không chịu khuất phục giặc Tàu hung bạo. Đó là giá trị mà hôm nay chúng ta vẫn còn, đó là một tín hiệu cho ngày đất nước Việt Nam hưng thịnh không còn xa khi không còn Cộng Sản độc tài nữa. Những giá trị thuộc về Chính Nghĩa Dân Tộc cũng chính là những nhát dao đâm vào tim của những con Quỷ Cộng Sản Việt Nam….

3- Cảm ơn Canada !

Từ thảm họa của những nhà tù khổng lồ trong chế độ Cộng Sản sau ngày 30/04/1975. Người dân Việt Nam đã trở thành những thuyền nhân bất đắc dĩ. Nhưng thật may mắn thay, nhiều quốc gia đã giang rộng vòng tay chào đón những con người bất hạnh đến từ mảnh đất hình chữ S đang sống dở, chết dở bởi bàn tay loài Quỷ đỏ. Những quốc gia đã giang rộng vòng tay chào đón, giúp người Việt định cư sau những nỗi kinh hoàng trên biển, trên bộ khi vượt biên tìm đường sống là một danh sách dài như : Hoa Kỳ, Canada, Úc, Hà Lan, Đức , Pháp, Bỉ…Nhưng bài viết này, người viết muốn nói đến Canada vì ngoài việc đã giúp hàng triệu người được định cư sinh sống tại Canada thì gần đây đã nổi lên hai sự kiện mà chúng ta cần phải thêm một lần nữa cảm ơn Canada !

h9

Sự kiện thứ nhất chính là dự luật S-219 của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đưa ra và đang chờ thông qua tại Hạ Viện Canada trước khi nó đi vào đời sống thực tế một cách chính thức. Dự luật này là nhát dao đầu tiên đâm vào con tim của loài quỷ đỏ. Dự luật này đã cho thấy thế giới nói chung và Canada nói riêng công nhận ngày 30/04/1975 chính là dấu mốc của dân tộc Việt Nam phải bỏ nước ra đi vì thảm họa cộng sản. Việc phải đi tìm tự do cho mình chính là sự tố cáo CSVN đã không cho người dân Việt Nam có tự do. Vì thế người dân Việt Nam đã phải ra đi tìm đường sống cho mình. Để trả lời về sự kiện này, TNS Ngô Thanh Hải đã phát biểu với nhà báo Mặc Lâm – RFA như sau: “Đó là dự luật để tưởng nhớ tới hơn hai triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi với tư cách là tị nạn, là thuyền nhân. Thứ hai là để tưởng nhớ 250 ngàn người Việt Nam đã bỏ mình trên biển cả hoặc là bị cướp, bị bão hay điều gì đó. Thứ ba nữa dự luật này nhằm cám ơn chính phủ Canada đã nhận một trăm hai chục ngàn người Việt Nam tỵ nạn vào cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 rồi sau này lên tới 300 ngàn người. Đồng thời cũng là cám ơn chính phủ Canada đã mở rộng vòng tay để đón nhận thuyền nhân tỵ nạn của chúng ta tại đây. Thứ tư nữa là cám ơn chính phủ, nhân dân Canada đã sponsor từ cá nhân, nhà thờ đến các cơ quan thiện nguyện đã bảo trợ giúp đỡ cho chúng ta. Thứ năm là Canada là một quốc gia mà trong thập niên đó, cuối 70 đầu 80 thì Canada là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã nhận người tỵ nạn do đó mà Cao Ủy Tỵ Nạn (UNHCR) Canada đã trao giải Nansen cho Canada”. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải thấy rằng, khi đạo luật này đã chính thức thông qua thì đó chính là một dấu mốc công nhận tội ác của CSVN để cho ngày hôm nay Canada công nhận đó chính là ngày mà Việt Nam hoàn toàn là một nhà tù lớn khiến cho hàng triệu người phải hi sinh vì tự do.

h10

Chính vì là nhát dao đâm vào bộ mặt láo lừa của CSVN nên chúng đã phải căm tức lồng lộn đến cực độ. Ngay khi được Thượng viện Canada thông qua, Dự luật đã gây những phản ứng dữ dội từ phía Cộng Sản Việt Nam. Báo chí Canada hôm 9/12/2014 dẫn lời một trong các quan chức Đại sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở Ottawa, Vũ Việt Dũng, nói việc này “sẽ gây ảnh hưởng xấu tới quan hệ song phương giữa Việt Nam và Canada, cũng như nỗ lực làm sâu rộng quan hệ trong cả các lĩnh vực thương mại và đầu tư”. Đại sứ CSVN, Tô Anh Dũng đã bày tỏ quan ngại với Ngoại trưởng Canada John Baird về dự luật này, mà theo CSVN cho rằng sẽ gửi thông điệp không đúng tới người dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng Sản Việt Nam Lê Thanh Hải tuyên bố Dự luật S219 “có những nội dung sai trái, xuyên tạc lịch sử, khơi lại quá khứ đau buồn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, nhằm phục vụ những mục đích chính trị cá nhân”. Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cũng đã gửi thư cho người đồng nhiệm Canada về việc này. Và đích thân Thủ tướng Ba Dũng của CSVN trong lá thư được gửi cho Văn phòng Thủ tướng thông qua Tòa đại sứ Canada tại Hà Nội hồi trung tuần tháng 12/2014 nói rằng dự luật S – 219 này “đưa ra cái nhìn méo mó về lịch sử Việt Nam và sẽ làm tổn hại đến quan hệ song phương mà cả hai nước đã nỗ lực bồi đắp…”…

Nhưng chính nghĩa vẫn luôn là chính nghĩa như những gì TNS Ngô Thanh Hải đã trả lời với RFA ở trên. Và đặc biệt, Bộ trưởng Lao động Jason Kenney, người chịu trách nhiệm về vấn đề đa văn hóa của Canada trong một tuyên bố nói rằng: “Canada tiếp tục tôn trọng những quan hệ với Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” nhưng ông ủng hộ dự luật bởi nó kỷ niệm 60 ngàn người “đã dám đánh đổi mạng sống để đi tìm tự do, và đã tìm được tự do tại Canada”.

h11

Chính vì điều chính nghĩa đã được tôn trọng nên anh Ba X và đám quan chức CSVN có gào thét thế nào thì theo lời luật sư Vũ Đức Khanh “Quan điểm chính thức của Thủ tướng Harper là bằng mọi giá phải thông qua dự luật này vì đây là năm bầu cử quốc hội liên bang. Bằng chứng là cuối tuần vừa rồi Thủ tướng Harper dự lễ Tết ở Toronto với một rừng cờ vàng với trên 10.000 người tham dự.”. Đó chính là câu trả lời đanh thép nhất cho thấy CSVN đã bị cả thế giới trong đó có Canada đặc biệt coi thường bản mặt ác độc với người dân của họ. Và đó cũng chính là sự kiện thứ hai khiến cho CSVN thêm căm tức. Đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Canada đã liên hệ với Bộ Ngoại giao Canada để bày tỏ quan ngại về việc cờ Việt Nam Cộng hòa được sử dụng trong một sự kiện tại Mississauga ở ngoại vi Toronto dịp hội chợ Tết, và sự kiện có mặt của thủ tướng Harper “Chúng tôi rất ngạc nhiên và quan ngại về chuyện nhiều lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa trước đây đã được treo cạnh các lá cờ Canada tại các địa điểm công cộng ở Toronto,”.

h12

Canada nói chung và chính phủ của thủ tướng Harper nói riêng đã hiểu rõ bản chất của CSVN nên họ đã đứng về phía dân tộc Việt, về những người Việt tị nạn cộng sản. Ngoài việc ủng hộ dự luật S -219 chính là việc ông Harper, bộ trưởng di trú C. Alexsander, bộ trưởng Jason Kenney…đều đứng dưới lá cờ Vàng ba sọc đỏ và trước các bài diễn văn của mình, tất cả đều tiến tới bàn thờ Quốc Tổ Hùng Vương của Việt Nam trên kỳ đài để làm lễ rất trang trọng. Đó là biểu hiện cho tinh thần yêu tự do, nhân ái và chính nghĩa, tôn trọng các giá trị Dân Tộc Việt của chính phủ Canada nói chung và thủ tướng Harper nói riêng. Và đó chính là những nhát dao đâm thẳng vào tim đen của lũ quỷ đỏ CSVN. Rừng cờ Vàng tại Toronto chính là biểu tượng của Dân Tộc Việt bất diệt, là biểu tượng của chính nghĩa được người Canada công nhận !

 

h13

Chính nghĩa Dân Tộc của chúng ta khác biệt Cộng Sản chính là Lá Cờ Vàng dân tộc mà chúng ta tôn thờ và những gì chính phủ Canada đã trân trọng nó như là một lời tuyên ngôn đanh thép không cần phải nói ra bằng lời: Canada trân trọng dân tộc Việt Nam nhưng không coi trọng những tên cộng sản độc tài. Vì vậy một lần nữa chúng ta nói lời cảm ơn những người Canada, chính phủ Canada, thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải …đã không chỉ giúp đỡ chúng ta trên hành trình đi tìm tự do mà còn trân trọng những gì thuộc về bản sắc của dân tộc Việt Nam chúng ta.

Chính nghĩa vẫn là chính nghĩa và CSVN sẽ phải một lần nữa cúi mặt vì những tội ác mình đã gây ra cho dân tộc Việt Nam !

Đặng Chí Hùng
05/02/2015

Advertisements
This entry was posted in * Đặng Chí Hùng, Bình-luận - Quan-điểm. Bookmark the permalink.