Đón Xuân Nầy Nhớ Xuân Mậu Thân Xưa

Để tưởng nhớ đồng bào, đồng hương ruột thịt bị Việt Cộng thảm sát tại thành phố Huế trong vụ Mậu Thân 68 do hai nhân chứng sống trong cuộc tường thuật lại đầy đủ mọi chi tiết…

1- Câu chuyện thứ nhất từ một nhân chứng sống năm 1968 là học sinh mới có 17 tuổi bị bắt tại nhà thờ chính toà Phủ Cam của Tổng Giáo Phận Huế, đưa lên Chùa Từ Đàm rồi dẫn đến khe Đá Mài giết vào đêm mồng 7 tết Mậu Thân nhằm ngày 5 tháng 2 năm 1968 dương lịch, nhưng anh đã may mắn thoát được tử thần trước vụ thảm sát tập thể khoảng 30 phút.

2- Trong vụ thảm sát thứ hai, đồng bào Thừa Thiên và Thành phố Huế bị chôn sống tại khu vực Gia Hội thuộc quận Tả ngạn của Thành phố.

Nhân chứng sống thứ hai nầy là Ông Tuấn (cũng đã trốn thoát), hồi đó mới có 16 tuổi, học sinh lớp đệ tam trường trung học tư thục Nguyễn Du. Sau đó ông là sĩ quan quân lực VNCH và hiện sống tại Úc. Câu chuyện được ghi nhận lại bằng cuộc phỏng vấn khá dài. Người viết đã hệ thống hoá và cô đọng ý và lời, nhưng những điễm chính vẫn giữ nguyên vẹn.

1- Mời nghe ông tường thuật :

hamchontapthe_Hue1968

Vào dịp tết Mậu Thân 68, chúng tôi được ăn tết vào ngày mồng một, nhưng đến đêm đó, súng bắt đầu nổ tại khu chợ Đông Ba vọng qua chợ Xép, nơi tôi đang ở tại ngả tư đường Nguyễn Thành/Mai thúc Loan.

Lúc đầu,chúng tôi tưởng là pháo nổ khai xuân vì có 48 giờ hưu chiến được thỏa thuận giữa 2 miền và qúa lắm là tiếng súng hoà lẫn tiếng pháo mừng Xuân của các anh lính VNCH. Nhưng thưa không, người ta bắt đầu bỏ chạy từ phía chợ Đông Ba. Lúc nầy chúng tôi được biết là Việt Cộng đã về phiá bên kia là chợ Đông Ba. Chúng tôi bắt đầu hoảng sợ. Tất cả đều chui vào những cái sạp hoặc divan để núp.

Đến sáng mồng 2, Việt cộng đầy đường. Chúng mặc đồ đen ngắn tay, quần sọt, tay cầm AK, đi dép râu và đội nón tai bèo. Trong đám lộn xộn đó cũng có những tên mặc đồ bộ đội. Tôi bắt đầu phát hiện ra là có những người tôi quen: bạn tôi, thầy tôi. Người đầu tiên tôi thấy là ông Tôn Thất Dương Tiềm, ông dạy môn Việt văn lớp đệ tam trường tôi.

Hằng ngày ông thường dạy chúng tôi tình yêu thương đồng bào, yêu quê hương, yêu Tổ quốc. Nhưng Trời ơi! Quý vị có biết không, chính ông Tiềm ngày hôm nay lại là người dạy tôi sự tàn ác của Việt cộng qua chính con người ông. Ông vác súng AK, mặc quần xanh bộ đội chính quy và áo chemise trắng ngắn tay.

Tôi thấy ông đang chỉ huy những người mặc đồng phục như ông, tay cầm AK. Chính những người nầy lại chỉ huy những tên mặc đồ đen là du kích. Trong đám đó, tôi còn thấy anh Hoàng văn Giàu, sinh viên đại học Huế.

Tôi đã chứng kiến sự tàn sát của ông thầy tôi, ông Tiềm tại ngã tư Nguyễn Thành/ Mai Thúc Loan vào sáng ngày mồng 2 tết lúc 12 giờ trưa. Những tên du kích bắt 5 người không rõ từ đâu, tay họ bị trói gập ra đằng sau. mặc thường phục và một số khác còn mặc đồ ngũ dẩn ra ngã tư nầy. Lúc nầy cũng có tên Việt cộng nằm vùng Hoàng văn Giàu loong toong chạy theo.

Chúng bắt các nạn nhân sắp hàng, xoay lưng vô tường thành. Tôi thấy rõ ông Tiềm, giáo sư của tôi, chỉ huy vụ nầy. Ông ra lệnh cho tên bộ đội chính quy nói giọng Bắc, tên nầy truyền lệnh lại cho tên du kích giương súng AK lên bắn.

Trong số nạn nhân trên có ông Quế già cảnh sát đã về hưu và những người khác chỉ là dân sự mà tôi biết mặt từ trước. Tuyệt nhiên chưa có một công chức hay quân nhân nào tại chức, tại ngũ. Sau đó, thân nhân nạn nhân chạy đến, chồm tới khóc lóc thảm thiết, nhưng những tên du kích bảo họ: cút đi, cút đi .

Tình trạng thây người với máu, ruồi nhặng dưới ánh nắng kéo dài vài hôm sau ,thân nhân mới len lén đem xác về chôn cất. Đó là lần bắn đầu tiên và người đầu tiên tôi thấy ra lệnh bắn đồng bào tôi, chính là giáo sư khả ái trước đây của tôi, ông Tôn Thất Dương Tiềm !

Tôi ở tại góc đường Nguyễn Thành/ Mai Thúc Loan từ mồng 2 tết tức ngày 31-01-1968 dương lịch cho đến khi có sự xuất hiện những chiếc trực thăng của quân đội Hoa Kỳ và VNCH bắn xuống ở cửa Đông Ba. Vì thế, Ba tôi quyết định phải chạy để tránh lằn đạn giao tranh. Chúng tôi chạy về hướng Mang Cá. Thoát được xóm thứ nhất, xóm thứ hai, nhưng đến xóm thứ ba thì bị những tên du kích chận đường .

Chúng bắt tôi và buộc đi khiêng đồ gồm quân dụng, thực phẫm. Dẫn đi được một hồi, tôi thấy chúng tập trung được 5 người cùng xóm với tôi và đưa đến chùa Diệu Đế. Tại đây, lúc đó có độ mười mấy người trạc tuổi tôi. Chúng sai chúng tôi đi khiêng gạo cơm, đạn dược.

Sau đó, chúng đưa về phiá Gia Hội sống chung quanh các nhà cư dân. Chúng bắt chúng tôi khuân vác trong mấy ngày liền. Những ngày hôm sau, từ phía chợ Đông Ba , chúng tôi thấy máy bay bắn xuống rất rát. Tôi đoán chắc là lính VNCH bắt đầu phản công.

Ngay tối hôm đó, thay vì đi dân công như thường lệ, chúng phát cho chúng tôi cuốc để đào hố. Thoạt tiên tôi nghĩ hố nầy dùng để núp bom đạn từ máy bay bắn xuống. Mười mấy người chúng tôi khi màn đêm buông xuống là đi đào hố, bề sâu 1 thước, bề rộng khoảng 1 sải tay-1thước 60 phân-. Mỗi thằng đào một hố. Xong hố nầy, đào hố khác như đào tuyến công sự phòng thủ vậy.

Đến 3 giờ sáng, tôi thấy một đoàn người từ xa xa đi về phiá chúng tôi. Khi đến gần, thấy họ bị trói cập cánh. Mỗi toán khoảng 15 người bị cột chùm lại với nhau bằng dây điện thoại. Mỗi cái hố chúng tôi đào bằng cở đó. Số nạn nhân nầy có kẻ mặc thường phục, đồ ngủ, đi dép hoặc chân không. Chúng bắt họ quay lưng vào miệng hố. Một tên Việt cộng mặc áo trắng, quần xanh bộ đội, đội nón cối đọc bản án” tội ác với nhân dân, với cách mạng”.

Vừa đọc xong bản án, tên du kích mặc quần sà loỏng đen dùng AK chỉ bắn một người thôi. Nạn nhân nầy rơi xuống hố, những người còn lại bị dính chùm ,cũng bị lật ngữa và té xuống hố. Họ lăn lộn bên dưới. Tên VC chính quy miền Bắc bảo chúng tôi: lấp lẹ, lấp lẹ! . Tôi không lấp, nó đánh tôi. Tôi khóc thương cho đồng bào xấu số của tôi và trả lời: không lấp!. Nó dùng bảng súng AK dọng vào lưng tôi và dùng lưởi lê đâm nhẹ vào ba sườn tôi.

Tất cả chúng tôi đều khóc, chúng đánh tiếp, buộc lòng chúng tôi phải lấp. Trời ơi! Phật ơi! Đồng bào tôi dưới hố đang ngước lên nhìn chúng tôi. Trời ơi! Không lấp thì chúng nó đánh, mà lấp thì đồng bào tôi chết. Có vài người ngẩng đầu lên vì bản năng sinh tồn,chúng dùng bảng súng đánh vào đầu cho chết luôn. Lạy Trời! Lạy Phật! chưa có thằng nào tàn ác như vậy. (vừa kể, vừa khóc)

Đến giờ phút nầy, tháng 2 năm 2008, tôi vẫn bị cơn ác mộng, vẫn nằm ngủ thấy ánh mắt của đồng bào tôi từ dưới hố đang nhìn lên tôi, miệng đầy đất. Họ nằm ngữa, nằm nghiêng trong cơn tuyệt vọng!

Từ những đợt sau, chúng không bắn vì xẹt lửa ban đêm, sợ lộ mục tiêu. Những lần nầy, sau khi tên mặc áo trắng cụt tay đọc bản án, thì tên du kích dùng bảng súng AK đánh vào đầu người thứ nhất làm té ngữa xuống hố, vì dính dây chùm, những người kia cũng bị ngã theo . Ai ngoi đầu lên, chúng dùng bảng súng hay cuốc nện vào đầu cho chết luôn, sau đó bắt chúng tôi lấp.

Những cái sọ nào sau nầy đào lên mà thấy vỡ là nằm trong trường hợp đó khiến tôi chợt nghĩ là 5 người bị bắn đợt đầu tại chợ Xép là chết sướng lắm, không qúa thảm thương như những lần sau đâu! Tôi thấy kiểu Hitler giết người Do Thái chỉ cần xả hơi ngạt là chết liền, chết êm ả hơn là chết chôn bị ngộp và bị đánh vào đầu! Suốt mười mấy ngày đêm, chúng bắt được bao nhiêu thì chúng tôi phải đào hố và chôn sống bấy nhiêu.

Mấy ngày trước khi thành phố Huế được giải toả, lính VC tràn về phía Gia hội nhiều lắm. Độ năm, sáu trăm người. Có lẽ bị quân lực VNCH rượt đuổi nên dồn về đây.

Những đêm sau, khi trời vừa nhá nhem tối, trực thăng rọi đèn bắn xuống, VC bắn lên , trên bắn xuống. Lúc đi đào hố có độ mười mấy người, nhưng tôi chỉ có 4 người cùng xóm quen nhau. Tôi bàn: với tình trạng nầy mình phải lợi dụng cơ hội để trốn thoát vì trước sau gì chúng cũng tìm cách thanh toán bọn mình . Vì khoẻ mạnh, đô con nhất trong đám nên nói gì 3 người kia cũng nghe theo tôi.

Tôi nói nhỏ khi máy bay bắn xuống lúc sập tối , hể tao nháy mắt là bọn mầy chạy về hướng mà chúng nó không chạy,chạy ngược chiều nó, thì còn hy vọng sống sót dù là mong manh. Thà máy bay bắn chết còn sướng hơn là đến lượt bị chôn sống. Và cuối cùng tôi nháy mắt vừa lúc máy bay bắn xuống. Bốn chúng tôi phóng vào bụi cây. Việt cộng bận bắn máy bay và chúng tìm nơi ẩn núp..

Chúng tôi đâm đầu chạy tiếp, nhưng thằng sau hết cùng xóm bị trúng đạn AK, rớt lại. Ba chúng tôi cắm đầu chạy, chạy mãi cho đến khi thấy một vùng sáng có đèn, có xe nhà binh, chúng tôi hét lên : cứu ! cứu ! và thấy anh lính VNCH mặc đồ rằn ri mang khẩu M.16. Chúng tôi lại la lên : cứu! cứu! Người lính nầy biết là dân mình rồi, ảnh giơ tay ngoắt lại.

Trời ơi! mấy chục ngày ở trong tay VC, lần đầu tiên gặp lại anh lính VNCH, tôi chạy tới ôm ảnh vào lòng mừng như mẹ đi chợ về, vừa khóc vì qúa xúc động. Không ai bảo ai, ba chúng tôi ôm ảnh khóc nức nở; cái lòng yêu thương dạt dào người lính VNCH dâng lên trong tôi, một người mà mình cảm thấy có sự bảo vệ. Anh vuốt đầu tôi, nói : không sao đâu em. Tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện. Ảnh cho ăn, tắm rữa,mặc đại đồ lính.

Sau khi lấy lại thành phố Huế, tôi là người chỉ dẫn những địa điểm mà VC chôn sống đồng bào tôi. Bây giờ tại đây, tất cả những người bị bắt buộc đào hố như tôi, ngoài ba chúng tôi thoát được, tất cả đều bị bắn vào đầu chết tại chổ, trước khi chúng tháo chạy. Sau đó tôi mới chỉ những hầm đã đào. Tôi còn nhớ những bộ quần áo đồng bào tôi đã mặc. Vẫn còn liên tưởng đến những ánh mắt nhìn lên tôi…ám ảnh…khiến tôi chạnh lòng đến quặn thắt tâm can.

Mãi đến bây giờ con ma Mậu Thân vẩn ám ảnh cuộc đời tôi . Tôi đã phiêu bạt giang hồ bỏ Huế đi từ dạo đó, quyết không bao giờ trở lại.

Tôi sợ Huế không phải sợ quê hương tôi mà sợ cái qúa khứ khốn nạn do Cộng sản Việt Nam đã gieo hoạ cho Huế. Mỗi lần đài phát thanh nhắc tới Huế hoặc hát nhạc về Huế, tôi tắt radio. Tôi cũng sợ cả giọng Huế. Hể nghe ai nói giọng Huế là tôi giật mình ( như khi nghe Công Tằng Tôn Nữ Ngự Bình nói chuyện trên sân khấu Thuý Nga Paris ).

Cái bóng ma nầy đã 40 năm trôi qua vẫn ám ảnh tôi.

Huế bây giờ tội nghiệp lắm người ơi ! Nó có tên đường Mậu Thân và đường 68. Người dân Huế phải đi qua hai con đường đó bởi chủ nghĩa Mác Lê gian ác còn tồn tại trên quê hương thân yêu của tôi.

Con người Tôn Thất Dương Tiềm- Theo tuần báo Sàigòn Nhỏ số 595 ra ngày 9 -5-2008 trong bài viết của Long Hải có đoạn : Cha con “đạo hữu” Nguyễn Đoá ,con gái Nguyễn thị Đoan Trinh cũng như con rễ Tôn thất Dương Tiềm gần 20 năm vừa sống nhờ vào trường Bồ Đề Huế, vừa hoạt động cho VC. Cuối cùng tới tết Mậu Thân ôm súng đi bắn giết đồng bào mình. (Trước năm 1975, giáo sư tư thục có thể dạy hai trường tư. Như vậy ông nầy vừa dạy trường Bồ Đề lại dạy thêm trường Nguyễn Du.)

Ông Tuấn hồi năm 1968 mới có 16 tuổi và ở trong tay VC suốt mười mấy ngày liền, nên không nêu được thời gian chính xác lúc nào quân lực VNCH và Mỹ phản công chiếm lại Huế. Xin nghe lại một đoạn văn viết trên Sàigòn Nhỏ số 594 ra ngày 2-5 -08 sau đây:

VC bắt đầu tấn công Huế lúc 2 giờ 35 phút sáng 31-1-68 tức sáng mồng 2 tết. Số Cộng quân đưa vào chiếm đóng thành nội Huế khoảng 4000. Số còn lại chiếm một số khu ở ngoại thành . Bộ Tư Lệnh quân khu Trị Thiên không bao giờ tiên liệu sẽ phải đối phó với sư đoàn 1 không kỵ Hoa Kỳ.

Trong 10 ngày đầu Sư đoàn nầy đã án binh bất động. Đợi đến khi VC thiết lập xong các cơ sở quân sự, hành chánh với ý định chiếm giữ Huế lâu dài, lúc 16 giờ ngày10-2-1968, sư đoàn 1 không kỵ Hoa Kỳ mới bắt đầu mở cuộc hành quân tảo thanh VC, đầu tiên từ phiá hữu ngạn sông Hương.

Kể từ ngày 14-2-68, không lực Hoa Kỳ bắt đầu dội bom xuống đầu Cộng quân đang đóng trong thành nội Huế (tả ngạn sông Hương), trong khi đó Việt Cộng đã sát hại tại Khe Đá Mài vào đêm mồng 5-2-1968, tức trước khi Hoa Kỳ dội bom xuống Thành Nội tới 9 ngày !

Bùi Tín và vài người khác nhận định rằng sở dĩ cộng quân đã thảm sát đồng bào Huế vì bị phản công, lập luận nầy không đứng vững bởi ngay từ mồng 2 tết, chúng đã thanh toán 5 người tại ngã tư Nguyễn Thành/ Mai thúc Loan. Còn tại Chùa Từ Đàm đã có 20 nạn nhân bị bắn trong sân Chùa ngay sau khi chiếm Huế. Vụ thảm sát khu Đá Mài cũng đã xảy ra vào đêm mồng 7 tết tức mới đến ngày 5-2-1968 dương lịch.

Những tên VC nầy là bọn nằm vùng mà trong đó có một số sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh năm 1966 do tên Phạm Văn Bồng phát động chống lại chính quyền Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyển Cao Kỳ, Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương điều hành.

Sau khi quân đội và Cảnh sát Dã chiến từ Sàgòn ra giải toả, bọn nằm vùng nầy chạy lên núi, nay trở về phối hợp với những thành phần nằm vùng năm 1968 để ra tay hành động. Chúng đã lập rất kỹ danh sách những người chúng coi là “phản động”, kể cả những trường hợp tư thù cá nhân, trước khi chiếm Huế.

2- Dưới đây là bài tường thuật của một học sinh trung học ở Huế bị Cộng sản bắt tại nhà thờ chính toà Phủ Cam trong tết Mậu Thân 68 rồi đưa lên chùa Từ Đàm và dẫn lên khe Đá Mài để giết tập thể, nhưng anh đã may mắn trốn thoát được với một người bạn chỉ trước đó 30 phút:

Mậu Thân 1968: Thảm sát ở Khe Đá Mài Huế

Mậu Thân 1968:
Thảm sát ở Khe Đá Mài Huế

Hồi ấy tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi từ quê chạy lên, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, tỉnh Thừa Thiên ( nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế ) từ mấy năm trước.

Sáng mồng một tết Mậu Thân, tôi cùng gia đình đi thăm bà con thân thuộc và du xuân với các bạn đồng trang lứa, trong một khung cảnh tạm an bình, vắng tiếng súng, nhờ cuộc hưu chiến mà hai miền Nam Bắc đã cam kết tuân giữ.

Bỗng nhiên, khuya mồng một rạng mồng hai tết, nhiều tiếng đại bác và súng lớn súng nhỏ vang rền khắp xứ đạo của chúng tôi. Sáng hôm sau,tôi nghe nói Việt cộng đang tấn công vào toàn bộ thành phố Huế và đã chiếm nhiều nơi rồi.

Hoảng hốt, cả gia đình tôi cũng như rất nhiều giáo dân chạy đến nhà thờ ( lúc ấy mới hoàn thành phần cung thánh và hai cánh tả hữu ) để ẩn trú, vì đó là nơi an toàn về mặt thể lý ( xây vững chắc, tường vách dày, trần xi măng rát cao ) cũng như về mặt tâm lý ( có thể trông cậy vào ơn phù hộ của Chúa và đông đảo người bên nhau thì bớt sợ hải …)

Tôi thấy đủ hạng : nam nữ già trẻ, linh mục tu sĩ, ngồi chen chúc nhau cả mấy ngàn người ( giáo xứ Phủ Cam lúc đó lên tới 10,000 giáo dân ).

Lúc 1 giờ sáng ngày mồng 6 Tết, chúng mang AK và đèn đuốc xông vào nhà thờ Phủ Cam và lục soát mọi ngỏ ngách. Sau nầy tôi mới biết chúng cố ý lùng bắt cha xứ và mọi cán bộ viên chức chính phủ VNCH, như xảy ra tại nhiều nơi khác trong thành phố Huế lúc ấy.

Thấy chúng vừa xuất hiện, tôi liền lợi dụng bóng tối , nhanh chân chạy đến cầu thang sắt phiá cánh trái nhà thờ ( gần mộ Đức Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền hiện nay ), leo lên trần xi măng, sát mái ngói. Từ trên đó, qua mấy lỗ trổ sẵn để gắn đèn cao áp ( nhưng chưa gắn ), tôi mục kích khá rõ sự việc diễn ra bên dưới.

Tôi thấy lố nhố VC địa phương ( du kích nằm vùng ) lẫn bộ đội chính quy miền Bắc. Chúng lật mặt từng người, chỉ chỏ bên nầy, bên kia. Một câu nói được lặp đi, lặp lại: Đồng bào yên tâm ! Cách mạng đến là để giải phóng ! Các mẹ,các chị, các em có thể ra về. Còn các anh được mời đi học tập, chỉ 3 ngày thôi! Không sao đâu!!!

Thế là mọi tráng niên và thanh niên từ 15 đến 50 tuổi đều bị lôi đứng dậy và dẩn đi, dù là học sinh, thường dân hay công chức… Tiếng kêu khóc vang động cả nhà thờ. Con khóc cha, vợ khóc chồng, cha mẹ khóc con .

Ai nấy linh cảm chuyến đi ” học tập ” này sẽ không có ngày đoàn tụ. Sau này tôi biết thêm là linh mục quản xứ chúng tôi, cha Nguyễn Phùng Tuệ, nhờ ngồi giữa đám nữ tu dòng Mến Thánh Giá với lúp đội trên đầu, nên may mắn chẳng bị VC nhận diện. Bằng không thì bây giờ ngài đã xanh cỏ.

VC ở lại trong nhà thờ suốt đêm hôm đó vài tên, còn những tên khác đi lùng khắp giáo xứ để bắt thêm một số người nữa, cũng từ 15 đến 50, thành thử có nhiều thanh niên và học sinh gặp nạn.

Sáng hôm sau, lúc 8 giờ, bỗng có 2 tên VC theo thang sắt trèo lên trần và khám phá ra tôi. Một đứa tên Hồ Sự, du kích gốc Long Hồ, vừa được đồng bọn giải thoát khỏi lao Thừa Phủ (là nhà lao nằm giữa lòng thành phố Huế, ngay sau lưng tòa hành chánh tỉnh). Tên kia là Đổ Vinh, sinh viên, người gốc làng Sịa. Sau khi lôi tôi xuống, chúng hỏi tôi tại sao lại trèo lên núp. Tôi trả lời là vì nghe con nít khóc ồn ào, chịu không nổi, phải trèo lên đấy để nghỉ.

Chúng dẫn một mình tôi- lúc ấy chẳng còn hồn viá gì nữa- đi xuống dốc nhà thờ , nhưng đến chắn xe lửa thì quẹo trái, men theo đường xe lửa tới chắn Bến Ngự. Từ đây chúng dẩn tôi lên chùa Từ Đàm là nơi VC đang đặt bản doanh. Chúng rất đông đảo, vừa sắc phục, vừa thường phục, vừa bộ đội miền Bắc, vừ du kích nằm vùng miền Nam.

Vào trong khuôn viên chùa, tôi nhận thấy ngôi nhà tăng 5 gian đã đầy người bị bắt, đa số là giáo dân giáo xứ Phủ Cam của tôi. Gian thứ 5 ( đối diện với cây bồ đề ) còn khá trống, để nhốt những người bị bắt trong ngày mồng 7 tết. Tôi cũng trông thấy ông Tin, chủ hiệu ảnh Mỹ Vân, người rất đẹp trai, đang bị trói nơi cây mít. Một tên VC nói :

– Thằng ni trắng trẻo chắc là CẢNH SÁT, bắn quách nó đi cho rồi !

May thay, có một người trong nhóm bị bắt đã vội lên tiếng :

– Tội qúa mấy ông ơi, đây là ông Tin chụp ảnh tại Bến Ngự, cảnh sát mô mà cảnh sát!

Nhờ thế ông Tin được thoát nạn, được cho về. ( Như rứa là Cảnh Sát có giá lắm !)

Tiếp đó, VC đưa cho tôi một tờ giấy để làm bản lý lịch. Chúng bảo là phải khai tên cha, tên mẹ, tên mình, nguyên quán ở đâu, cha mẹ làm chi, bản thân bây giờ làm chi. Khai rõ ràng chính xác, Cách mạng sẽ khoan hồng. Khai tơ lơ mơ, khai dối láo là bắn ngay tại chỗ.

Lúc ấy không hiểu sao Chúa cho tôi đủ sự thông minh và điềm tỉnh nên đã khai hoàn toàn giả, giả từ tên cha mẹ đến tên mình và giả mọi chi tiết khác, như nghề của cha là kéo xe ba gác, nghề của mẹ bán rau hành ở chợ Xép, bản thân thì đang đi học trường kỷ thuật . May mà bọn VC chẳng kiểm tra bằng cách hỏi những người cùng giáo xứ bị bắt đêm hôm trước. Bằng không thì tôi cũng rồi đời tại chỗ!

Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả ngày mồng 7 tết, không được cho ăn gì cả. Lâu lâu tôi thấy VC dẩn thêm một số tù nhân, trong đó tôi nhớ có cậu Long, học sinh, con ông Nguyện ở xóm Đường Đá giáo xứ Phủ Cam. Thỉnh thoảng chúng lại trói ai đó vào gốc cây bồ, bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa.

Sau nầy người ta đếm được có 20 xác, trong đó có anh Hoàng Sự, vốn là cảnh sát gác lao Thừa Phủ, bị đám VC khi được thoát tù, đã bắt đem theo lên đây.

VC cũng cho một vài người về nhắn thân nhân bới cơm nước lên cho người nhà, nhưng với điều kiện : nhắn xong phải đến lại trong ngày , bằng không bạn bè sẽ bị chết thế. Thế là một số anh em Phủ Cam lên tiếng xin thả ông Hồ ( chẳng lẽ là ông Hồ Chí Minh ? ) khá lớn tuổi, làm nghề hớt tóc, nhà ở gần cabin điện đường Hàm Nghi, để ông về lo chuyện tiếp tế thực phẩm.

VC liền hỏi : ” Ai tên Hồ ?” thì có một cậu thanh niên nào đó nhảy ra nói : Hồ đây! Hồ đây! Thế là nó được thả về và rồi trốn luôn, thoát chết. Một vài bạn trẻ cùng tuổi với tôi cũng được cho về nhắn chuyện bới xách rồi quyết không lui, nhờ vậy thoát khỏi cơn thảm tử.

Còn ai vì sợ hãi hay thương bạn mà lên lại Từ Đàm thì cuối cùng bị mất mạng như tôi sẽ kể. Các ” sứ giả” về thông báo với bà con là ai có thân nhân ” đi học tập ” hãy bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là ngày hôm sau, người ta ùn ùn gánh lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề , tết mà…

Họ chẳng thấy thân nhân đâu mà chỉ gặp mấy tên cán bộ VC bảo họ hãy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm độc nầy mà VC tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi giết người tiếp!!!

Lân la dò hỏi và nhìn quanh, tôi thấy trong số thanh niên bị bắt có rất nhiều người bạn của tôi : anh Trị tây lai con ông Ngọc đờn ở nhà thờ, con trai ông Hoàng, lương y thuốc Bắc ở chợ Xép, hai con trai ông Thắng nấu rượu, hai con trai ông Vang thổi kèn, ông Thịnh con ông Năm, hai anh em Bình và Minh con ông Thục mà một là bạn học với cha Phan văn Lợi…

Tôi cũng nghe nói có hai thầy đại chủng viện mà sau nầy tôi mới biết là thầy Nguyễn văn Thứ, nghĩa tử của cha Nguyễn Kim Bính và bạn cùng cha Nguyễn Hữu Giải, rồi thầy Phạm văn Vụ, đồng nghĩa phụ với cha Lợi.

Khi trời bắt đầu sẫm tối, VC bắt chúng tôi ra xếp hàng và một tên tuyên bố :

– Anh em yên tâm! Như đã nói, Cách mạng đưa anh em đi học tập 3 ngày cho thấm nhuần đường lối rồi sẽ về thôi ! Bây giờ chúng ta lên đường.

Rồi chúng bắt đầu dùng dây điện thoại trói thúc ké từng người một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại thành chùm bằng một sợi dây kẽm gai, 20 người làm một chùm, tức hơn 500 người.

Khi chúng tôi bị lôi ra đường (đường Phan Bội Châu hiện giờ ), chừng 7 giờ tối, chúng tôi thấy một đoàn cố vấn dân sự Hoa Kỳ khoảng 14 người cũng bị trói nhưng sau đó được dẫn đi theo hướng khác.

Áp giải chúng tôi lúc nầy không phải là VC nằm vùng, địa phương, nhưng là bộ đội miền Bắc, khoảng 30 tên. Bọn nằm vùng ở lại để đi bắt người tiếp . Bỗng một kẻ mặc áo thầy chùa xuất hiện, đến cạnh chúng tôi mà nói :

– Mô Phật ! Dân Phủ Cam bị bắt cũng nhiều đấy . Chỉ thiếu Trọng Hê va Phú rỗ!

Trọng con ông Hê và Phú mặt rỗ là hai thanh niên công giáo, nhưng lại là hai tay anh  chị khét tiếng cả thành phố. Về sau tôi được biết đa phần những thanh niên bị bắt đêm mồng 6 tết tại nhà thờ Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là học sinh, sinh viên, thanh niên nhút nhát, hiền lành. Còn hạng can đảm, có máu mạo hiểm hay hạng ” du đảng, anh chị ” đều đã đi theo binh lính, dân quân để chiến đấu tự vệ hoặc nhanh chân trốn chạy, không tới nhà thờ trú ẩn, nên đểu thoát chết. Sự đời thật oái oăm!

Hết đường Phan Bội Châu, chúng tôi đi vào đường Thiên Thai (bên trái đàn Nam Giao), sau đó men theo đường vòng đan viện Thiên An, xuôi về lăng Khải Định, VC dẫn chúng tôi bọc phiá sau trụ sở quận Nam Hòa (lúc đó chưa bị chiếm ), ra đến bờ sông Tả Trạch (thượng nguồn sông Hương ). Chúng tôi lầm lủi bước đi trong bóng tối, giữa trời sương lạnh, vừa buồn bả vừa hoang mang, tự hỏi chẳng biết số phận mình rồi ra thế nào, tại sao VC lại tấn công vào ngày xuân, giữa kỳ hưu chiến ?!

Tới bờ sông, VC cho chặt lồ ồ (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua phiá bên kia mà sau nầy tôi mới biết là khu vực lăng vua Gia Long, thuộc vùng núi Tranh hay còn gọi là vùng núi Đình Môn Kim Ngọc. Lúc ấy vào khoảng 9 giờ tối. Từ đó chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, lúc lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe, lần theo con đường mòn mà thỉnh thoảng lại được soi chiếu bằng những cây đèn pin hay vài ngọn đuốc của 30 tên bộ đội.

Tôi thoáng thấy tre nứa và cây cổ thụ dày đặc. Trời mưa lâm râm. Đến khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi được cho dừng lại để tạm nghỉ, ăn uống. Tôi đoán chừng đã đi được hơn chục cây số. Mỗi người được phát một vắt cơm muối mè, đựng trên lá ráy. Hai cánh tay vẫn bị trói . Ít người ăn nổi. Riêng tôi làm 2 vắt.

Ăn xong thì được cho ngủ . Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng chợp mắt để lấy lại sức. Bỗng nhiên như có linh tính, tôi chợt choàng dậy và thấy rung động toàn thân hết sức dữ dội. Máu tôi sôi sùng sục trong đầu. Có chuyện chẳng lành rồi đây! Qủa thế, tôi thoáng nghe hai tên VC gần kề nói nhỏ với nhau: ” Trong vòng 15, 20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn nầy “. Tôi nghe mà bủn rủn cả người! Nghĩ mình đang là học sinh vô tội, lại còn trẻ trung, thế mà 15 phút nữa sẽ bị giết chết, tôi như muốn điên lên .

Dù thế tôi vẫn cầu nguyện : “Lạy Chúa, từ lâu Chúa dạy con phải hiền lành thật thà, không được làm hại ai, vậy mà bây giờ lại có người muốn giết con và các bạn của con nữa . Xin Chúa cho con dùng mưu trí, can đảm và sức mạnh để tự giải thoát mình”. Tôi ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt : “Tụi mình ráng mở dây mà trốn đi ! Mười lăm phút nữa là bọn hắn bắn chết hết đó !” . Chúng tôi quặt ra tay sau, âm thầm lần múi dây trói. Nhờ trời vừa mưa, vừa tối, dây thiện thoại lại trơn nên chỉ ít phút sau là nút buộc lỏng, vung mạnh cánh tay là sẽ bung ra.

Chúng tôi cũng mở múi buộc dây thép gai đang nối mình với những người khác . Tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ vị thế bị trói thúc ké để bọn VC khỏi nghi ngờ. Tôi dặn thằng bạn tiếp : “Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe!”

Đánh thức chúng tôi dậy xong, một tên lên tiếng nói lớn cho cả đoàn : Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Vậy trong anh em ai có một là vàng, hai là tiền, ba là đồng hồ ( Seiko phai hay Seiko năm) càng tốt, bốn là bật lửa thì nộp lại để Cách mạng giữ cho, học xong 3 ngày sẽ trả ; kẻo vào trại, ăn cắp lẩn nhau rồi lại đổ lổi cho Cách mạng, nói xấu cán bộ!

Thế là mọi người riu rít và khổ sở móc ra những thứ quý giá còn giữ trong người. Ai chậm chạp hoặc ngần ngừ thì mấy tên bộ đội tới “giúp” cho. Bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải.

Lúc đó tôi mới để ý thấy tên cán bộ áp giải chùm của tôi đang mang trên hai vai và cột quanh lưng ít nhất cả chục cái radio lớn nhỏ mà chắc hắn đã cướp được của dân dưới thành phố. Với khẩu AK trên tay lại thêm từng ấy máy móc trên người, hắn bước đi lặc lè, chậm chạp, khá cách khoảng mấy tên khác.

Chúng tôi lại bắt đầu đi xuống dốc. Tôi nghe có tiếng róc rách gần kề. Lại một khe nữa! Được vài bước, tôi vỗ nhẹ vào lưng thằng bạn. Cả hai chúng tôi vung tay, dây tuột và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Lấy hết sức bình sinh, tôi đá mạnh vào gót và rồi dưới cằm tên bộ đội áp giải (tên mang cả chùm radio ấy). Hắn ngã ngào. Hai chúng tôi lao vào rừng lồ ô. Bọn VC tri hô lên: ” Bắt, bắt, có mấy thằng trốn” rồi nổ súng đuổi theo chúng tôi. Chạy khoảng vài chục mét, thoáng thấy có một lèn đá – vì trời không đến nổi tối đen như mực- tôi kéo thằng bạn lòn vào trong mất dạng.

Tôi dặn hắn VC nó kêu, nó dụ, tuyệt đối không bao giờ ra nghe! Ra là chết! Một lúc sau tôi nghe có tiếng nói trong bóng đêm :“Bọn chúng chạy mất rồi, nhưng rừng sâu thế nầy khó mà thoát chết nổi! Thôi đi tiếp !”

Khi nghe đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi lèn, đi ngược lên trên hướng đối nghịch. Chừng 15,20 phút sau, tôi bổng nghe từ phiá dưới vọng lên tiếng súng AK nổ vang rền và lưu đạn nổ tới tấp, phải mấy chục băng và mấy chục qủa. Một góc rừng sáng rực! chen vào đó là tiếng khóc la khủng khiếp, chẳng hiểu sao vọng tới tai chúng tôi rõ ràng, khiến tôi dựng tóc gáy, nổi da gà và chẳng bao giờ quên được.

Hai chúng tôi đồng nấc lên: ” Rứa là chết cả rồi! rứa là chết hết rồi. Trời ơi!!” Lúc đó khoảng 12 giờ hay 12 giở30 khuya mồng 7 rạng mồng 8 tết. Tôi bàng hoàng, bủn rủn. Sao lại như thế? Các bạn tôi dưới ấy đều là những người hiền lành, chưa lúc nào cầm súng, chưa một ngày ra trận, chẳng hề làm hại ai, họ có tội tình gì? Bọn chúng có còn là người Việt Nam nữa không? Sau nầy tôi mới biết đây là vụ thảm sát khủng khiếp nhất trong lịch sử Quốc Cộng.

Địa danh Khe Đá Mài mà lúc đó tôi chưa rõ, in hằn vào lịch sửnhân loại và cứa vào da thịt dân tộc như một lưỡi dao sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt đỏ không bao giờ nguội.

Chúng tôi tiếp tục chạy, chạy mãi, bất chấp lau lách, gai góc, bụi bờ, vừa chạy vừa thầm cảm tạ Chúa đã cho mình thoát chết trong gang tấc nhưng cũng thầm cầu nguyện cho những bạn xấu số mới bị hành quyết oan ức, đau đớn, thê thảm, sáng ra thì chúng tôi gặp lại con sông. Biết rằng bơi qua ngay thì có thể bị VC rình chờ bắt lại, chúng tôi men theo sông , ngược lên thượng nguồn cả mấy cây số, đến vùng Lương Miêu Thượng . Tới chỗ vắng, tôi hỏi thằng bạn:

– Mầy biết bơi không?

– Không.

– Tao thì biết. Thôi thì hai đứa mình kiếm 2 cây chuối.

Mầy ôm một cây xuống nước trước, tao ôm một cây bơi sau, đẩy mầy qua sông. Ráng ôm thật chặt, thả tay là chìm, là chết đó. Trới nầy lạnh tao không lặn xuống cứu mầy được mô!

Đúng là ngày hôm đó trời sương mù và lạnh buốt. Thời tiết kéo dài cả tháng tết tại Huế. Có vẻ như Ông Trời bày tỏ niềm sầu khổ xót thương bao nạn nhân vô tội ở đất Thần Kinh này. Vừa bơi tôi vừa miên man nghĩ tới các bạn của tôi.

Máu của họ có xuôi theo triền dốc, hoà vào dòng nước sông Tả Trạch này chăng? Oan hồn họ giờ đây lảng vảng nơi nào? Có ai sống không nhỉ?

Chúng tôi cập bến đò Long Miêu. Từ đây xuôi dòng về trụ sở quận Nam Hòa, hy vọng gặp binh lính Quốc Gia, nhưng cũng có nguy cơ gặp bọn VC chận đường bắt lại. Thành thử chúng tôi nhắm hướng Bắc , tìm đường về Phú Bài. Thằng bạn tôi, do suốt đêm bị gai góc trầy xước, đề nghị đi trên đường quang cho thoải mái. Tôi gạt ngay:

– Ban đêm thì được, chớ ban ngày thì nguy lắm. chịu khó lần theo đường mòn!

Chúng tôi thấy máu và bông băng rơi vải nhiều nơi, chứng tỏ có trận đánh gần đâu đó. Đang đi, tôi chợt hỏi thằng bạn:

– Chừ gặp dân thì mầy trả lời ra răng, nói tao nghe?

– Nhờ anh chớ tôi thì chịu.

Lúc khoảng 9 giờ, chúng tôi gặp hai thằng bé chăn trâu, tôi lên tiếng nói :

– Hai anh là học sinh ở đường Trần Hưng Đạo dưới phố (con đường chính của khu buôn bán, không nói là Phủ Cam ). Cách mạng ( không nói là Việt Cộng ) số về đánh dưới, số còn trên ni. Hai anh vừa mang gạo lên chiến khu hôm qua cho họ. Nay họ cho hai anh về, nhưng lại ướt cả áo quần và đói nữa. Mấy em có biết Cách mạng có ở gần đây không, chỉ cho hai anh, để hai anh kiếm chút cơm ăn, kẻo đói lạnh quá!

– Hai anh qua khỏi đường nầy thì thấy Cách mạng đang hạ trâu ăn mừng!

Thế là chúng tôi hoảng hốt vào rừng lại. Chạy và chạy, chạy tốc lực, chạy như điên, không ngừng lại để nghỉ. Một đổi xa, chúng tôi mới hướng ra lại đồng bằng. Bỗng một đồn lính xuất hiện đằng xa, đến gần thấy bên trong lố nhố mũ sắt. Phe ta rồi! Lần nầy thì vô đây chứ không đi mô nữa cả. Nhất định vô! Lúc đó là khoảng 10 giờ trưa. Đây là đồn biên phòng của một đơn vị quân lực VNCH. Chúng tôi nghe từ đồn có tiếng dõng dạc vang vọng:

– Hai thằng VC muốn về hồi chánh hả? Vào đi! Nhớ để tay lên đầu. Thả tay xuống là bắn đó!

Chúng tôi nhất nhất tuân theo. Vào được bên trong, hoàn hồn, chúng tôi mới nói:

– Hai đứa em là học sinh dưới Phủ Cam, Phước Qủa, bị VC bắt lên rừng từ tố hôm qua với mấy trăm người khác. Nghe tụi nó định giết hết, hai em đã liều mở dây trói, đánh thằng VC rồi bỏ chạy. Còn mấy người kia chắc là chết hết cả rồi! Giờ tụi em chỉ có một nguyện vọng: xin đồn phát súng cho chúng em đánh giặc với, chớ không thể đi ra khỏi đồn nữa.

Viên Sĩ Quan cất tiếng :

– Tổ Quốc đang lâm nguy! Đứa con nào trung, đứa con nào hiếu lúc nầy là biết liền. Thôi mấy em thay áo quần, xức thuốc, xức men, ăn uống thoải mái rồi ở lại với mấy anh! Tội nghiệp!

Họ hỏi chúng tôi về chỗ xảy ra cuộc hành hình nhưng chúng tôi hoàn toàn không thể trả lời được. Giữa rừng rậm lại đêm khuya, biết đâu mà lần.

Gần nửa tháng sau tôi mới gặp lại gia đình họ hàng,bằng hữu thuộc giáo xứ Phủ Cam đang chạy về lánh nạn tại Phú Lương và Phú Bài. Hai chúng tôi quyết định bỏ học để đăng lính. Phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc thôi. Phải báo thù cho anh em bạn bè bị VC giết qúa ư dã man, tàn ác, vô nhân đạo. Tôi nhập bộ binh. Thằng bạn tôi nhảy dù. Nhưng vài năm sau, tôi nghe tin nó chết trận ! Tội nghiệp thật, nhưng đó là cái chết ý nghĩa!

Đến gần tháng 10 năm 1969, nhờ bắt được và khai thác tù binh VC, chính phủ VNCH mới biết địa điểm tội ác chính là khe Đá Mài, nằm trong rừng Đình Môn Kim Ngọc thuộc quận Nam Hoà (nay là xã Đương Hoà, quận Hương Thủy). Nơi đây không thể vào bằng xe vì đường xe không có hoặc không thể đi lọt, mà chỉ vào được bằng lội bộ.

Cây cối chỗ này rất cao, lá dày và mọc theo kiểu hai tầng, tầng thấp gồm những bụi tre và cây nhỏ, tầng cao gồm những cây cổ thụ xoè ra như lọng dù che khuất những gì bên dưới.. Bên dưới hai tầng lá nầy, ánh sánh mặt trời không chiếu sáng nổi. Đúng là nơi giết người mà không cần chôn cất. Công binh đã phải bỏ hai ngày, dùng mìn phá ngã các cây cổ thụ để tạo ra một khoảng trống lớn để cho máy bay trực thăng đáp xuống và tiểu đoàn dù 101 quân lực VNCH đã phụ trách việc bốc các di hài nạn nhân. Các binh sĩ đã tìm thấy cuối một khe nước chảy trong veo ( về sau mang thêm tên Suối Máu, Phủ Cam Tử Lộ ), cả một núi hài cốt, nào sọ, nào xương sườn, nào xương tay, xương chân trắng hếu, nằm rời rạc, nhung cũng có những bộ còn khá nguyên.

Xen vào đó là dây điện thoại và dây thép gai vốn đã trói chúng tôi thành chùm. Rồi áo quần, vải có, len có da có, nguyên chiếc hay từng mảnh, lổ chổ vết thủng. Rồi tràng chuổi, tượng ảnh, chứng minh thư, ống hít mũi, lọ dầu nóng …vương vãi trên bờ, giữa cỏ, dưới nước. Nhờ những di vật nầy mà một số nạn nhân đã được nhận diện. Khi tất cả hài cốt , di vật được chở về trường tiểu học Nam Hoà ( nay gọi là Thuỷ Bằng ) bên hữu ngạn sông Hương, đem phân loại, thân nhân đã ùa đến và không ai cầm nổi nước mắt.

Tất cả oà khóc ,nghẹn ngào. Có người cầu nguyện, có người nguyền rủa, có người lăn ra ngất xiủ khi khám phá ra vật dụng của người thân. Cái chủ nghĩa nào, cái chế độ nào, cái chính đảng nào đã chủ trương dã man như thế?

Cuối củng , đa phần các hài cốt (hơn 400 bộ) được quy tập một chỗ, mang tên nghiã trang Ba Tầng, nằm phiá Nam thành phố Huế, cận kề khu vực Từ Đàm (đất của Phật Giáo ) và Phủ Cam ( đất của Công Giáo).

Nghĩa trang nầy xây thành hình bán nguyệt . Hai bên, phiá trước, có hai bàn thờ che mái, cho tín đồ Phật Giáo và Công giáo đến cầu nguyện. Ở giữa, phía sau một trụ đá dựng đứng với dòng chử Hán làm bia tưởng niệm. Từ đó, tại giáo xứ Phủ Cam của tôi, hằng năm, ngày mồng 10 tết được coi là ngày cầu nguyện tưởng nhớ đến các nạn nhân Mậu Thân .

Chúng tôi có thể tha thứ cho người Cộng Sản nhưng chúng tôi không bao giờ quên được tội ác của họ, y như một câu ngạn ngữ tiếng Anh: Forgive, yes ! Forget, no !

Tiếc thay sau khi vừa chiếm được miền Nam, Cộng sản đã dùng mìn phá ngay trụ bia và hai bàn thờ. Lại thêm một cuộc thảm sát vào hương hồn các nạn nhân mà nỗi oan vẫn chưa được giải. /

Hoàng Hoa Triều viết lại.

This entry was posted in Tết Mậu Thân, Tội Ác Cộng-sản. Bookmark the permalink.