VĂN CÁCH ? CÁCH MẠNG VĂN HÓA! (Nguyễn Hữu Nhật)

Tàu sao Ta vậy

Nước ta có ‘’cách mạng văn hóa’’ không ? Có! Khởi tự cái nhà ông này:

vanhoacachmang_hochiminhHồ chí Minh, một trong khoảng 145 bí danh của Nguyễn sinh Cung, XO ШИ MИH

Trước hết phải nói về Văn Cách Tàu. Thời ‘’Quốc-Cộng hòa hợp’’ ở Tàu, Lương Thực Thu, sinh năm 1902 tại Chiết Giang, tốt nghiệp Đại Học Haward, ‘’trùm văn nghệ’’ của phe Tưởng Giới Thạch, chủ trương: ‘’Văn nghệ không liên quan gì đến kháng chiến’’. Kháng chiến, ở đây là chống Nhật. Một nhà phê bình văn học khác, tốt nghiệp Đại Học Edinburg bên Anh và Strasbourg bên Pháp là Chu Quang Tiềm sinh năm 1889 ở An Huy, cũng lớn tiếng cho rằng: ‘’Văn học phải lãnh tĩnh, siêu thoát!’’. Có nghĩa là nhà văn ‘’phải lãnh đạm với thời cuộc, thoát ly chính trị!’’ (Tài liệu của Nguyễn Hiến Lê).

Nhưng Lão Xá, một nhà văn thiên tả, chủ tịch ‘’Hiệp hội Trung Hoa toàn quốc văn nghệ giới kháng địch’’ lại chủ trương: Văn nghệ ‘’cần thiết thực đi vào nhân dân, cần ra mặt trận để phát động quần chúng, động viên binh sĩ, lực lượng văn nghệ phải hòa với tiếng súng, nhất là đánh vào lưng quân thù’’.

Cuối cùng, năm 1938 ở Diêm An, về đường lối văn nghệ Mao đã nói huỵch toẹt ra: ‘’Chúng ta phải kiên quyết bỏ những hứng thú sáng tác phong kiến, tiểu tư sản, tự do chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, hư vô chủ nghĩa, nghệ thuật vị nghệ thuật, đồi trị bi quan theo lối quý tộc và các hứng thú sáng tác phi vô sản, phi nhân dân, phi đại chúng khác.’’

Kết quả: Có mối tương quan giữa văn học và lịch sử, là: Tưởng Giới Thạch chạy qua Đảo Đài Loan, Tổng Thống Lý Tôn Nhân của Trung Hoa Dân Quốc chạy thẳng sang…Mỹ.

Tàu sao, Ta vậy, chỉ hơi khác nhau là ở Ta có người ‘’bàn giao chính quyền’’ nên không ai phải chạy ra Đảo Phú Quốc mà đều ‘’doọt’’ thẳng sang Pháp, Úc, Mỹ nếu thoát được.

Phe thua trận ở Tàu, công tâm mà nói, bao nhiêu cũng đông đảo giới trí thức và văn nghệ sĩ ‘’có học’’ và có ‘’tính độc lập’’ nhiều, rất nhiều, hơn phe thắng trận. Sao vẫn cứ chạy dài ? Phải chăng, ở đâu và thời nào cũng vậy, 10.000 người dân tộc thiểu số và 1.000.000 nông dân hiểu được thứ ‘’văn nghệ quần chúng’’, như thơ văn của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan:

‘’Cụ Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc đẩu là vầng thái dương
Chúng con đi giữa đêm trường
Nhờ cho dìu dắt, dẫn đường chúng con
Ơn cha như nước như non
như gương Hồ Thủy, như hòn Thái Sơn.
’’

(Dân Ca Việt Nam, trang 376, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1971)

Sự dễ hiểu không là sức mạnh nhưng nó tạo ra sức mạnh/bạo lực:

‘’Cụ Hồ ở giữa lòng dân
Tuy xa xa lắm, nhưng gần gần ghê.
’’

(Dân Ca Việt Nam, trang 376, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1971)

Nếu lấy ‘’núi rừng bao vây nông thôn’’, lấy ‘’nông thôn bao vây thành thị’’ để cướp và nắm chính quyền thời ‘’mường, mán’’ và ‘’bần cố nông’’ làm sao mà hiểu được thơ, như thơ Thanh Tâm Tuyền, đại loại thế này:

‘’Cho anh khóc bằng mắt em
những cuộc tình Budapest!

Chiều không xanh, không tím, không hồng
Những ống khói tàu mệt lả
’’

Hoặc thơ tình của Nguyên Sa Trần Bích Lan:

‘’Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường…
’’

Văn nghệ phục tùng chính trị

Việc nhân dân Hung Gia Lợi, năm 1957, vùng lên chống Nga đỏ và chính quyền cộng sản Hung là chính trị. Thơ Thanh Tâm Tuyền nói tới Budapes, đâu có tách rời chính trị ? Nhưng chính trị, theo quan điểm cộng sản, không phải là thứ chính trị kiểu ‘’ông Dzư Văn Tâm’’ bênh vực Hung Gia Lợi, mà phải nghe cho tinh lời Mao: ‘’Khi ta nói văn nghệ phục tùng chính trị thì chính trị đó là chính trị của giai cấp, của quần chúng chứ không phải là chính trị của một số nhà chính trị…’’

Nghĩa là: ‘’Tư tưởng và tình cảm của nhà văn phải chan hòa thành một khối với tư tưởng, tình cảm của công nông binh!’’ trung với đảng.

Mà ‘’đại biểu’’ duy nhất của công, nông, binh là ‘’đảng’’, là ‘’lãnh tụ’’.

Tàu sao, Ta vậy, năm 1948, Trường Chinh Đặng Xuân Khu, tức Khu Khểnh người làng Hành Thiện Tỉnh Nam Định, tức ‘’nhà thơ’’ Sóng Hồng, lúc bấy giờ là tổng bí thư của đảng cộng sản Việt Nam, cũng nhắm mắt theo Mao mà viết: ‘’Đề cương văn học Mác’’ cho giới văn nghệ sĩ nước ta. Cũng ‘’chính trị lãnh đạo văn nghệ’’. Chinh dữ hơn cả Mao.

‘’1.- Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đường lối chính sách của đảng. Văn nghệ sĩ phải trung thành với lý tưởng cộng sản và đấu tranh không mệt mỏi cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

2.- Văn nghệ sĩ bằng hoạt động văn nghệ và hoạt động xã hội của mình cần luôn luôn phấn đấu để tăng cường sự lãnh đạo của đảng, củng cố lòng tin của quần chúng đối với đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.’’

‘’Đề cương văn hóa Mác’’ gồm cả trăm điểm, chỉ cần hai điểm trên cũng đủ cho thấy bản chất của đảng cộng sản Việt Nam:

a.- Về cứu cánh, là ‘’sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội’’ và ‘’bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin’’.

b.- Về phương tiện, là ‘’phục vụ đường lối chính sách của đảng’’, ‘’để tăng cường sự lãnh đạo của đảng’’ và ‘’củng cố lòng tin của quần chúng đối với đảng’’.

Chỉ riêng ‘’phương tiện’’ cuối cùng, cũng khiến văn nghệ sĩ trở thành một bọn ‘’cò mồi’’ của đảng, dùng thơ văn để dụ người dân theo…đảng.

Mà đường lối, chính sách của đảng lại chỉ nhằm hướng đến việc thực hiện cho bằng được ước mơ của Các Mác, một người Đức gốc Do Thái và Lê Nin, một người dân Bạch Nga.

Khi chủ nghĩa cộng sản trên thế giới bị phá sản và ở nước ta cũng không còn mấy ai coi Mác-Lê-Mao như…các thánh, cộng sản Việt bèn xoay qua chuyện không tưởng là ‘’tư tưởng Hồ chí Minh’’. Văn nghệ sĩ trong nước vẫn:

Theo thì sống, chống thì chết

Nhìn lại vụ Nhân Văn-Giai Phẩm ở nước ta, chính là chiếc bóng của cuộc Văn Cách, cách mạng văn hóa đợt 1, của Tàu khi Mao còn ở chiến khu Diên An, Từ 1938 tới 1942, cộng sản Tàu đã vạch rõ hướng văn nghệ:

‘’Vị trí của công tác văn nghệ (của đảng) trong toàn bộ công tác cách mạng của đảng đã được xác định, nó phải phục tùng nhiệm vụ của cách mạng mà đảng đã quy định…’’

Chỉ đi chệch đường, một chút mà năm 1946 Mao Thuẫn, bộ trưởng bộ văn hóa, chủ tịch hội các nhà văn của Mao, phải ‘’tự kiểm thảo mình, phủ nhận gần hết những tiểu thuyết trước của mình’’ và ‘’không viết tiểu thuyết nữa mà viết nhiều bài báo ca tụng đường lối văn nghệ của Mao’’.

Sau năm 1949, nhà văn Ba Kim ở lại Hoa Lục với cộng sản ‘’bị chỉnh nhiều lần vì có tư tưởng tiểu tư sản, hai lần bị phái qua Triều Tiên để học tập tinh thần chiến đấu’’ của nước Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên.

Cũng sau năm 1949, nhà văn Thẩm Tòng Văn bị ‘’các nhà phê bình của cộng sản đả kích dữ dội, đến nỗi có lần ông muốn tự tử. Ông chỉ làm thinh, rán chịu, tới năm1957 ông được nhận vào hội các nhà văn.’’

Chỉ mới kể tới Mao Thuẫn, Ba Kim và Thẩm Tòng Văn, ba cây bút có nhiều công lao với đảng cộng sản Tàu, mà người thì: Bị đẩy sang chiến trường Triều Tiên, người thì phải viết bài nịnh Mao, người thì cố chịu nhục.

Ngải Thanh, sinh năm 1910 tại Chiết Giang, một nhà Thơ Mới của Tàu trong thập niên 30 thế kỷ 20, thơ ông vang dội tới phương Tây, như:

Cái chết của người lính thổi kèn

Chú lặng lẽ té xuống
Không ai trông thấy chú té
Chú té trên mặt đất mà chú
Yếu dần tới phút cuối cùng này
Và bàn tay chú
còn nắm chặt chiếc kèn
Trên mặt đồng bóng loáng của chiếc kèn
Phản chiếu vết máu
Và vẻ mặt nhợt nhạt của người chết
Mà cũng phản chiếu cả cuộc hành quân bất tận
Của bộ đội tiến hoài và bắn hoài
Và đàn ngựa hí
Và đoàn xe lăn
Và mặt trời, a, mặt trời!
Lóe sáng trên chiếc kèn…

(Nguyễn Hiến Lê dịch)

Năm 1942, Ngải Thanh bị đảng ‘’chỉnh’’, nên sau này trong cuốn ‘’Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc’’, cộng sản không thèm ghi tên ông. Đó cũng là một cách giết, như cộng sản Việt đã ‘’giết’’ Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân…suốt mấy chục năm liền. Chỉ vì họ là các:

Văn nhân có nhân văn

Văn chương phải có ‘’chất người’’ là nhân văn ? Thật vậy, làm giảm đi hoặc mất hẳn ‘’thú tính’’ cắn xé, đầy đọa nhau, hiển nhiên phải là nhân bản. Các văn nghệ sĩ trong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, 34 người bị lên án chính thức, manh nha từ thái độ của họ trước đó qua vụ Cải Cách Ruộng Đất, chứ không phải chỉ khởi từ việc đời ‘’văn nghệ đứng ngoài chính trị’’ ?

Nhà văn nữ Đinh Linh của Tàu, giải thưởng Staline 1951, với tác phẩm ‘’Thái dương chiếu tại Tang Can hà thượng’’, Mặt trời trên sông Tang Can in năm 1948, tả cảnh đấu tố khốc liệt. Tiếng ‘’người’’ rú trong tòa án nhân dân, dưới ánh đuốc lập lòe:

‘’– Phải! Bắt hắn trả lại tiền bạc và sinh mạng cho chúng ta!’’

Tiếng hoan hô vang dậy trên khán đài và trong đám đông:

‘’– Tất cả các nông dân là anh em với nhau! -Ủng hộ Mao chủ tịch. -Theo Mao chủ tịch đến cùng!’’ Rồi quần chúng ùa lên khán đài, xô đẩy nhau đối chất với Tiều Văn Quí. Vợ Tiều nước mắt giàn giụa, mặt mày lem luốc, đứng trước mặt chồng, năn nỉ cho chồng:

‘’– Xin bà con làm phúc thương hại cho ông lão nhà tôi! Xin bà con làm phúc…’’

Quần chúng leo lên khán đài, la như điên như cuồng:

‘’Giết hắn đi! Hủy mạng hắn đi để cứu mạng chúng ta!’’

Vậy mà năm 1957, Đinh Linh bị khai trừ khỏi đảng chỉ vì cái tội, năm 1941, đã viết ‘’Cảm tưởng về ngày 8 tháng 3’’. Tam bát tiết hữu cảm, ngày Phụ Nữ Quốc Tế. Cho thấy thân phận khốn khổ, nhục nhã của người phụ nữ dưới chế độ cộng sản. Tại Diêm An, căn cứ địa kháng chiến, ‘’cán bộ cũng quan liêu tàn nhẫn.’’

Không ai làm nhà văn và càng không làm nhà văn trung thực được trong guồng máy ‘’chính trị lãnh đạo văn nghệ’’. Phải khen cái gì của đảng cộng sản cũng tốt, từ con người tới sự việc.

Nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm muốn gì ? Năm 1989, ông Nguyễn Mạnh Tường, Tiến Sĩ Luật và Văn Chương cho biết: ‘’Nhân Văn-Giai Phẩm không hề chống đối đảng’’. Các bài trong Nhân Văn và Văn trong các năm từ 1956 tới 1958, chỉ ‘’Chống tham ô lãng phí’’ hoặc ‘’Cùng những thằng nịnh hót’’ hay ‘’Ông bình vôi’’ và ‘’Con ngựa già của Chúa Trịnh’’… Phong Trào Nhân Văn-Giai Phẩm chưa hề đả động tới ‘’bản chất’’ của chủ nghĩa và chế độ cộng sản. Chưa hề đặt vấn đề Dân Quyền: Trưng Cầu Dân Ý để nhân dân miền Bắc được Tự Do lựa chọn thể chế chính trị theo đa số.

Trong Nhân Văn-Giai Phẩm, vẫn còn những câu đầy ‘’sinh mệnh chính trị’’, như ‘’hãy đi mãi như những người cộng sản’’! Sao mà đảng lại điên cuồng, gây bao thảm khốc cho hơn 100 văn nghệ sĩ từng ít nhất cũng chín năm có công kháng chiến ? Câu trả lời, rất dễ hiểu, hễ ai tố đảng lộng quyền, tham ô, tham nhũng, sai lầm, phản dân, hại nước…đảng liền chụp mũ cho là tay sai của ‘’Phòng Nhì’ Pháp, của CIA hoặc nói chung là của ‘’Mỹ-Ngụy’’. Cách mạng vô sản, giai cấp đấu tranh chỉ là màn khói đặc, bởi đa số lãnh tụ của đảng không thuộc giai cấp công nhân và nông dân. Đảng, một tập hợp những tồi tệ nhất của phong kiến, thực dân, phát xít, đế quốc và mafia, rất nhuần nhuyễn…Chấp nhận cộng sản là chấp nhận nghịch lý. Như khi Hồ chí Minh đã để râu thì tự bộ chính trị trở xuống cỡ gộc nào cũng phải cạo râu, dù là lão đồng chí! Để râu cũng độc quyền:

Râu

Có người hỏi Phạm văn Đồng
Cụ chín mươi tuổi sao không sợi nào ?
Đồng cười: Hãy trả lời tao.
Trong bộ chính trị thằng nào để râu ?

Râu còn vậy. Nói chi người. Cộng sản Việt Nam, cùng đệ tam quốc tế thân Tàu còn diệt cả phe thân Nga. Diệt gọn đệ tứ. Quốc gia dân tộc bị diệt nặng nhất. Biết bao triệu người từ kháng chiến Nam bộ tới 9 năm đánh Tây. Cộng sản sá gì hơn một trăm văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm ?

Còn lại, các văn nghệ sĩ và trí thức khác, vì sự sinh tồn, vì an ninh bản thân và gia đình, hay vì hèn nhát nên số thì ngậm đắng, nuốt cay, số thì u uất, nín thở qua sông, sống nhục.

Không thể tưởng tượng nổi văn nghệ sĩ Việt Nam, những người làm giàu cho kho tàng Tâm Thức Việt, bị đầy ải miết tới không còn nhân cách. Những người như Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán…sau vụ Nhân Văn, chỉ đẹp ở giai thoại. Thực tế, bị ‘’đánh’’ đau quá, thay vì phản kháng tới chết, khi ra khỏi tù lại vội vã quy hàng. Những người khác không thể, Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyễn Mạnh Tường…chẳng hạn. Cho nên: Không ai buồn về một Phùng Quán, thời ở trường thiếu sinh quân liên khu 4, với ‘’bài thơ dâng Bác’’.

‘’…Ai người kéo lại tháng năm
Ai người giữ mãi cho trăng sáng tròn
Trăng cao chót vót, chon von
Ước gì Bác trẻ mãi với nước non không ngừng…
’’

Người ta chỉ không vui, sau khi:

‘’…Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cũng bảo là ghét
dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…
’’

Mà khi bị bắt trong vụ Nhân Văn, Phùng Quán đã khai là Thụy An truyền bá ‘’văn hóa thực dân’’ cho Phùng Quán. Thực sự là Phùng Quán muốn học tiếng Pháp và nhà văn Thụy An Lưu Thị Yến đã dạy Pháp văn cho Phùng Quán bằng các tờ báo Paris Match cũ vì không có sách giáo khoa tiếng Pháp ở Hà Nội sau vụ đốt sách năm 1955.

Năm 1954, Phùng Quán từng làm bài thơ ‘’Năm anh hùng Sevastopol!’’, ca tụng chiến sĩ Hồng quân Liên Xô:

‘’Năm 42, giữa trưa hè tháng 6
Liên Xô mênh mông biển lúa chín vàng
Nông trường cày máy reo vang
Công trường búa rộn, suối gang đỏ hồng
Các em tung tăng đến trường
Các chị làm vườn ngo níu áo hoa…
’’

Nhờ những bài ‘’dâng’’ Bác và ‘’kính’’ Liên Xô, con gái Phùng Quán đã được ‘’chiếu cố’’ cho du học ở Nga.

Năm 1995, sau 30 năm bị đảng cấm dùng bút danh Phùng Quán, Phùng Quán viết truyện nhi đồng ‘’Dũng sĩ Chép Còm’’, được in, và reo lên với Cửu Thọ, một cán bộ bạn thuộc ngành xuất bản: ‘’Tao từ Hà Nội vào đây để yêu cầu mày một điều: Mày sửa tên tác giả tập Chép Còm thành tên tao là Phùng Quán, vì tao đã được phục hồi nhà văn và được đăng tên mình lên sách rồi!’’

(Kiến Thức Ngày Nay, số 166, Sài Gòn 1.3.1955).

Tội nghiệp! ‘’Nhà văn’’ mà được ‘’phục hồi’’, mừng y như gái giang hồ ra trường ‘’phục hồi nhân phẩm’’ ?

Trần Dần, bạn thân của Phùng Quán, cũng là một trong những nạn nhân của vụ Nhân Văn, năm 1988 vào Huế chơi được một bạn văn hỏi:

Thưa anh, con người sống ai cũng cần có nhân cách, nhà văn lại càng phải có nhân cách. Theo anh, nhân cách nhà văn quan trọng nhất ở chỗ nào ?

Trần Dần trả lời:

Nhân cách nhà văn chính là văn cách của anh ta. Tôi không thấy mo-đen nào cho văn cách cả. Văn cách là mình, không thằng nào giống thàng nào…

Câu hỏi muốn nhắm đến ‘’cung cách con người’’ của nhà văn. Câu trả lời lại hướng đến ‘’Cách thức viết văn’’ sẽ làm ra nhân cách nhà văn.

Một nhà văn ở Huế, Nguyễn Quang Lập, hỏi Trần Dần và Phùng Quán:

Tôi muốn hỏi lại, các anh đã bị đưa ra khỏi hội nhà văn ba năm, sau đó thành ba mươi năm. Tại sao khi người ta yêu cầu các anh viết đơn để được vào lại các anh lại viết ?

– …Phục hồi thì cũng vô thưởng vô phạt chỉ là hình thức thôi…nhiều người chất vấn tôi mà không trả lời được. Như thế quả hèn thực. Đáng lẽ là một Silence de la mort! Đó là cách trả lời mini nhất.

Nhân sự ‘’phục hồi’’ như thế, ngầm chứng tỏ là 30 năm trước, đảng đã sai ? Nhưng với đảng, khi nạn nhân chịu trở lại hội nhà văn của đảng, có nghĩa là lại chấp nhận sự lãnh đạo của đảng, như 30 năm về trước ? Không một đồng bồi thường, dù bồi thường danh dự, cho 30 năm một công dân chỉ vì thơ văn mà rũ tù.

Hai quả bom nguyên tử của Mỹ, năm 1945, không tàn phá được ‘’tâm hồn Nhật Bản’’. Nhưng chỉ một ‘’đề cương văn hóa Mác’’ năm 1948 của cộng sản Việt Nam hủy hoại toàn bộ ‘’tâm hồn Việt Nam’’. Không ngoa đâu.

Văn cách ? Tàu sao, Ta vậy!

Khi chưa chiếm được Hoa Lục, cộng sản Tàu tạm tha những người như nhà văn nữ Đinh Linh. Khi chưa chiếm được miền Bắc, cộng sản Việt cũng khoan hồng cho những ‘’tiểu tư sản’’ như nhà văn nữ Thụy An. Sau đó, chính trị dùng hàng loạt những thủ đoạn tinh vi, cực kỳ độc ác, cốt thanh lọc, thanh trừng và thanh toán văn nghệ.

Cuộc đại văn hóa cách mạng lần thứ hai, ở Tàu bắt đầu từ tháng 11 năm 1965. Nhiều nhà văn đảng viên không tán thành chính sách ‘’công xã’’ trong kế hoạch ‘’nhảy vọt’’ của Mao thảy đều bị truy bức. Nhà văn Lão Xá, mặc dù từ năm 1949 chỉ chuyên viết kịch ca tụng đảng, tới năm 1965 đã phải tử tự. Nhà văn Quách Mạt Nhược, một cây bút cự phách của đảng cộng sản Tàu, bị Văn Cách bức bách đã phải tự phê:

Theo các tiêu chuẩn
hiện nay
những gì tôi viết ra
trước đây
không có giá trị gì cả
và đáng đem đốt hết…
Nhờ nghiên cứu các tác phẩm
Của Mao chủ tịch
Thợ thuyền
nông dân
và binh sĩ
viết hay hơn tôi

(Nguyễn Hiến Lê dịch)

Đến thế mà Quách Mạt Nhược vẫn bị Vệ binh đỏ (từ 13 tới 23 tuổi) chửi bới là ‘’thằng văn sĩ phản động, con chó đẻ của gia đình phong kiến’’. Vụ Nhân Văn ở nước ta, toàn ‘’người lớn’’ cỡ Phạm huy Thông, Nguyễn đình Thi, Tế Hanh, Hoài Thanh, Nguyễn công Hoan…đua nhau chửi bới thô tục.

Văn cách theo Mao, nói hồi tháng 8 năm 1966, qua nghị quyết về Văn Hóa Văn Nghệ thì: ‘’Đại cách mạng văn hóa nhằm mục đích cách mạng hóa tư tưởng con người.’’

Mà tư tưởng của con người là ‘’làm cho nhân dân hết sức rộng rãi thấm nhuần tư tưởng Mao Trạch Đông.’’

Chẳng những sách cổ, tác phẩm nghệ thuật xưa, đền đài, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ…cả Shakespeara, Beethoven, Tolstoi, Balzac…cũng bị phá hủy, thiêu đốt và ra suúc lăng mạ. Tất cả những gì trước thời Mao, đều bị phê phán, mạt sát. Cả nước chỉ cần một cuốn Mao Tuyển. Như ngày nay ở nước ta, chỉ cần một ‘’Hồ chí Minh Toàn Tập’’, một bộ sách diễn nghĩa ‘’tư tưởng Mao Trạch Đông’’.

Cuộc Văn Cách lần thứ hai ở nưóc ta, thời kỳ ‘’đổi mới’’, lại rực rỡ ‘’trăm hoa đua nở’’, giới văn nghệ sĩ, trí thức tiểu tư sản tưởng chừng như ‘’vận hội mới’’ để họ vùng dậy ‘’làm lịch sử’’. Trong và ngoài nước rộ lên một ‘’phong trào phản kháng’’ khi được đảng ‘’cởi trói’’. Sau đó, họ bị ‘’trói lại’’, tới nay không kiếm đâu ra một ‘’con gà’’ trong cảnh ‘’bách kê tranh minh’’, trăm gà đua gáy. Tại sao ? Bởi kiêu căng và hèn hạ là hai thuộc tính của một số người cầm bút ở nước ta ? Suốt ba mươi năm bị nhục mạ, qua vụ Nhân Văn, mà không có một tác phẩm nào do nạn nhân viết lên nỗi uất hận. Kiêu căng nên khinh đảng. Hèn hạ đâm ra sợ đảng. Ra tù, Hoàng Cầm chỉ làm thơ ‘’diêu bông’’, Trần Dần làm thơ ‘’mini’’, Phùng Quán viết truyện…cá chép.

Mỗi đời nhà văn Việt Nam, từ mọi phía, gần như một pho sử về cuộc nhân sinh. Vừa bi kịch vừa hùng tráng. Nhưng những gì đọc được, cho tới nay, chưa thấy chất bi tráng.

Người cầm bút

‘’Một dàn dăm bảy đứa
bị giống nòi khinh khi
và quê hương ruồng rẫy
Đầu thai lầm thế kỷ’’ ?

(Ý thơ Vũ Hoàng Chương)

1.

Vũ Hoàng Chương dẫu tả
về chính cuộc đời ông
hay bạn bè thời đó
người đọc có biết không ?

Thơ, viết thay Huy Cận,
kẻ lóc thịt Nhân Văn,
lột da cho hả giận
Lửa Thiêng tàn, ăn năn ?

Ông kể giùm Xuân Diệu
Phấn Thông Vàng về đâu
Thơ Thơ đòi chặt đầu
người nào làm chủ đất!

Vũ Hoàng Chương nói hộ
ai như Nguyễn Công Hoan
Đống Rác Ngoại Thành đổ
lấp chữ nghĩa hàm oan

Quê hương phải ruồng rẫy
phường bất cận nhân tính,
giống nòi phải xem khinh
thứ văn nghệ cạm bẫy

Quả thật là đốn mạt
lập thiên bằng văn chương
ướt đẫm máu sát phạt
quân xó chợ đầu đường.

2.

Tôi là Nguyễn Mạnh Tường
có làm gì nên tội
mà chuốc lấy tai ương
suốt một đời cô độc ?
Bạn bè đều tránh mặt,
học trò lãnh từ xa,
lo ăn mờ con mắt
buồn quá nên chóng già
Khi phải bán tủ sách
đau như ruột đứt ra,
mà người ta cân ký
cầm tiền nước mắt sa
Sách vở như con cái,
đã bán mình chuộc cha,
cho qua cơn đói rách
thôi, có nói, cũng là…
Hai mảnh bằng tiến sĩ
không nuôi nổi một thân
may cũng nhờ bà vợ
quen cái thói tảo tần…
Vẫn hơn Trần Đức Thảo
thạc sĩ đi lang thang,
cặp kính mất một mắt,
hè phố quốc kêu vang
Vợ đi lấy người khác
từ ngày chồng vào tù
vì cái tội kẻ sĩ
chọn lầm bạn thất phu

3.

Tôi, chính là Nguyễn Bính
đã từng Hành Phương Nam
vào những Đêm Sao Sáng
ngỡ mình ngựa bất kham
Ngờ đâu cơm với áo
cột chặt cánh chim bay
bốn tám tuổi nằm chết
ở nơi bị đi đày
‘’Gió đêm nay lành lạnh
sương đêm nay phai màu
gươm sáng bặt giọng thép
thù sâu, ôi thù sâu!’’
Thơ làm thời đánh Pháp
không câu nào không run
giặc lũ giặc cướp nước,
bước chân chưa hề chùn
Vậy mà đầu gục xuống
nghe hơi thở thiếu cơm
yếu dần lồng ngực lép
người tóp như sợi rơm
Hai chục năm đánh giặc
không cứu được người ngay
để Hà Nội bớt bẩn
vì một lũ mặt dầy
Đêm xuân ở Nam Định
ở trọ nhà người ta,
trợn trừng hai hốc mắt
há miệng, không kêu la
Cơn mang cho thiên hạ
thân mình từng ăn mày
ngay dưới chân Tháp Bút,
thèm một hơi rượu cay
Tại sao mình là người
đâu phải cục đất thó
mà cả chuyện khóc, cười
cũng phải xin phép nó ?
Tôi, chính là Nguyễn Bính
không ký bản tự khai
là Nhân Văn có tội,
được viết sẵn rất dài…
Nhớ lời chị Trúc dặn:
‘’Trời cho em tài hoa,
cậu đừng quên, nghe Bính
cố giữ lấy nếp nhà!’’

Người ta khiêng Nguyễn Bính
đi qua mảnh vườn soan
mưa phùn đêm trừ tịch
mùi hương ướt áo quan
Ông chủ nhà hỏi vợ:
‘’Sao cứ nhẹ như bông,
xác một người tội nặng,
Sao cứ nhẹ như không ?’’

4.

Tôi, là Vũ Hoàng Chương
mười phương Phật tịnh độ
biết trước Trời Một Phương
nơi thuyền đi ra biển
Lửa Từ Bi thắp sáng,
sau lưng bóng tối buồn,
lên bờ người thổn thức
nghe tiếng nấc của hồn…
Mây không còn Thơ nữa
nói gì tới Thơ Mây
nhìn ra khung ‘’cửa gió’’,
đến ước mơ cũng gầy
Xà lim ngày choạng vạng
nhọ nhem cả bóng chiều
Cảm Thông người tù lẻ
con chuột rít lên kêu
Đường gươm dù lỡ hụt
Tâm Sự Kẻ Sang Tần
loáng ngời bay ánh thép
làm đẹp thêm mùa xuân
Mùa xuân sáu chục tuổi
làm sáu chục bài thơ
tập Cành Hoa Trắng Mộng
tính in mừng, ai ngờ
Ru tù được ít bữa,
về nhà nằm suôi tay,
chết không nỡ nhắm mắt
bên cửa sổ Gác Mây…

5.

Nghĩ ngợi nhiều hóa điên
chỉ ngồi viết Sử Ký
như ông Tư Mã Thiên
cũng sinh lầm thế kỷ ?
Bị chém đầu ba họ
như ông Cao Chu Thần
đứng dậy cùng nông dân
hẳn quê hương ruồng bỏ ?
Nòi giống chỉ khinh bỉ
kẻ hãm hại giống nòi
quê hương chỉ ruồng rẫy
người cầm bút tôi đòi
Thế kỷ nào cũng vậy
con người sống đấu tranh,
giữa điều thiện và ác,
cho đời được yên lành
Không sinh lầm hay đúng,
ở giữa cuộc Tử Sinh,
ước Cành Hoa Trắng Mộng
giấc mơ Người vị Tình.

Nguyễn Hữu Nhật

vanhoacachmang_daoduchcm

 Chuyển bài: Mr. Quân Thiên Phụng

(nguồn: http://covangvietnam.com/)

This entry was posted in Bình-luận - Quan-điểm. Bookmark the permalink.