NƯỚC TA HĂM CHÍN CỔ THÀNH: Phần I (Lê Bá Vận)

“Nước ta hăm chín cổ thành,
Vì ai còn lại một mình Huế tôi.”
(
Ca dao Cộng Sản)

Gồm:

  • Phần 1: NƯỚC TA HĂM CHÍN CỔ THÀNH
  • Phần 2:
    • A- DANH NHÂN VĂN HÓA CỔ THÀNH
    • B- THÀNH XƯA ĐÂU TÁ?

PHẦN 1. NƯỚC TA HĂM CHÍN CỔ THÀNH

Thành nhà Hồ.

Thành nhà Hồ.

Ông cha chúng ta đã xây đắp rất nhiều thành cổ có qui mô lớn.
Điều này khác biệt với các nước bạn ở chung quanh.
Những thành cổ đó là những công trình phòng thủ rộng lớn, kiên cố.
Một số lớn thành cổ được thiết kế theo kiểu pháo đài chiến đấu Vauban là tên một kỹ sư quân sự của vua Louis XIV ở Pháp vào thế kỷ 17.
Xưa nhất là thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Thành nhà Hồ, Thanh Hóa, xây năm 1397. Một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn. Thành nhà Hồ được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa thế giới.
Những tòa thành cổ với tường cao, hào sâu, đình, đài, cung điện là nơi lưu giữ các giá trị quí báu về phong cách kiến trúc, văn hóa, lịch sử của Việt Nam.

Trung Hoa có ba thành cổ nổi tiếng được bảo trì tình trạng tốt:

  1. Tử Cấm Thành (Cổ Cung) ở Bắc Kinh, chu vi 3.426 m.
  2. Thành cổ Bình Dao, tỉnh Sơn Tây miền bắc Trung Quôć, chu vi 6157 m
  3. Thành cổ Tây An (kinh đô Trường An cũ),Thiểm Tây, chu vi 11,9 km..

Nhà Nguyễn xây tất cả 29 thành cổ,

Khởi công từ đời Gia Long, hoàn chỉnh đời Minh Mạng.
Tường thành xây bằng đất, gạch hộp, chân thành dày hơn đỉnh, xây bằng đá xanh và đá ong.
Chỉ kể một số:

Ki hoa Dai Noi
Ký họa Đại Nội Huế
13ngoaithanhhanoi_cuabac
Ngoài thành Hà Nội, cửa Bắc
thanhbacninh_bưuanh
Bắc Ninh cổng chính trên bưu ảnh Pháp
(Tonkin – Porte Principale de la Citadelle de Bac- Ninh)
Thành_Hải_Dương
Thành Hải Dương – thành Đông năm 1885
4cuadongthanhsontay
Cửa Đông thành Sơn Tây
8thanhcoVinh
Thành cổ Vinh
thanhcoquangtri
Thành cổ Quảng Trị 1967
GiaDinhThanh
Thành Gia Định

– Kinh thành Huế, hình 4 cạnh, chu vi gần 10 km.Tường cao 6,6 m, dày 21m.
Trong Kinh thành Huế có Đại Nội bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.

– Thành cổ Hà Nội, hình 4 cạnh, chu vi khoảng trên 4 km. Tường thành cao 4,4 m, dày 16 m. Chùa Một Cột nằm ở cạnh tây, trên đường Hùng Vương.

– Thành cổ Bắc Ninh xưa, rất đẹp, hình 6 cạnh, chu vi 2238 m.

– Thành cổ Hải Dương có hình 6 cạnh, chu vi 2.206 m, cao 4,4 m, mở 4 cửa.

– Thành cổ Sơn Tây , hình 4 cạnh, chu vi khoảng 1600 m.

-Thành cổ Vinh, hình 6 cạnh, 420.000 m2. Tường thành cao 4,42 m, hào rộng 28 m, sâu 3,20 m.

– Thành cổ Đồng Hới, Quảng Ngãi, hình 4 cạnh. Chu vi trên 2000 m. Tường cao 4 m. Ba cửa.

– Thành cổ Quảng Trị, hình 4 cạnh, chu vi gần 2000 m. Tường cao 3.6 m, dày 10 m.

– Thành cổ Bình Định chu vi hơn 4 km. Tường thành cao hơn 5m, chân tường dày 10m. Bốn cửa.

– Thành cổ Biên Hòa, hình 4 cạnh. Chu vi 1352m. Tường thành cao 3.4 m, dày 4m.

– Nam bộ trước đây còn có những thành cổ như Gia Định, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Vũng Tàu…

Tất cả các thành cổ đều có hào nước sâu và rộng bao bọc và có từ 3 đến 4 cổng ra vào, dày sâu. Kinh thành Huế thì có 10 cửa chính. Thành Hà Nội có 5 cửa. Cửa Bắc nay vẫn còn.

Cổng Thành cổ Vinh năm 1929.  Ảnh: Trần Đình Quân

Cổng Thành cổ Vinh năm 1929.
Ảnh: Trần Đình Quân

Điển hình mô tả: thành cổ Vinh có 3 cửa ra vào. Cửa tiền: Là cửa chính hướng về phía Nam, cửa để Vua ngự giá, các quan trong lục bộ triều đình và Tổng đốc ra vào. Cửa Tả hướng về phía đông. Cửa hữu hướng về phía Tây. Muốn đi qua các cửa đều phải qua một cái cầu.

Bên trong, công trình lớn nhất là hành cung, phía đông Hành cung có dinh Thống Đốc, phía nam có dinh Bố chánh và Án sát, dinh lãnh binh, dinh đốc học, phía bắc có trại lính và nhà ngục. Sau này phía tây có nhà giám binh người Pháp.

Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các vọng gác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc. (Google).

Trong thành cổ còn có nhiều nhà gia đình vợ con công chức, lính tráng. Và cả dân nhưng không nhiều: thầy thợ, cúp tóc, mộc… gánh bún, buôn bán lặt vặt.

Sau ngày Cách mạng tháng 8, 1945 các cơ sở trên trở thành cơ quan của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Đó là chuyện trước kia. Trong chiến tranh chống Pháp tất cả các thành cổ triều Nguyễn đều bị Cộng Sản (CS) san bằng để tiêu thổ kháng chiến, ngoại trừ kinh thành Huế, Pháp đến Cộng Sản không kịp phá. Nực cười cho Pháp “Dầu xây chín đợt phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một thành.”

Cũng là một thất bại lớn cho CS không kịp phá hủy kinh thành Huế.

Song trong rủi ro lại có sự may mắn?

Chiến tranh bom đạn có góp phần trong vài trường hợp.

Các thành cổ Thanh Hóa, Vinh, Quảng Ngãi, Bình Định… bị CS huy động quân dân cán dùng cuốc xẻng san bằng rất oan ức trong năm 1947.

Cửa Đông Thành Bình Định trước 1945

Cửa Đông Thành Bình Định trước 1945

Chuyện phá thành Bình Định oan ức:

“Cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc lại hào khí đánh Pháp những năm đầu của cuộc kháng chiến, người Bình Định, nhất là người An Nhơn, không thể nào không nhắc lại những ngày đêm rầm rập, khẩn trương, cả huyện đi phá thành Bình Định để “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến quân thù.

Hồi ấy, tâm trạng chung của nhiều người là rất tiếc ngôi thành cổ, một công trình kiến trúc to đẹp không còn nữa, nhưng đành lòng chấp nhận. Vì người ta tin rằng ngày mai mình sẽ được cái rất lớn là nước nhà độc lập, nhân dân ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, bước ra đón ánh sáng của cuộc đời tự do mà người ta đã từng trăm năm, ngàn năm mơ ước.” (“Ký ức thành cổ Bình Định” – (Bút ký của Huỳnh Kim Bửu, Tháng Mười 5, 2012 bởi xunauvn).

Thành cổ Thanh Hoá

Thành cổ Thanh Hoá

Chuyện phá thị xã Thanh Hóa. Lệnh tiêu thổ kháng chiến được ban hành như sau:

“Ngày 20/ 02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vào thăm Thanh Hóa… Trong buổi nói chuyện với nhân dân thành phố Thanh Hóa, Bác kêu gọi mọi người phải thực hiện tiêu thổ kháng chiến.

Người nói: “Đánh thì phải phá hoại, ta không phá thì giặc cũng phá.” Ta phải phá để chặn chúng lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng” .

Cả Thanh Hóa, trong đó có nhân dân thành phố Thanh Hóa, đứng lên tự nguyên(???)tiêu thổ kháng chiến…”Tản cư! tản cư là yêu nước”, “Tản cư là tích cực tham gia kháng chiến”… Người dân tự đập phá nhà mình, rời thành phố về nông thôn.

Trong thị xã, những khu công sở kiên cố như toà nhà sứ, sở đoan, kho bạc, nhà dây thép, khánh sạn Ray No, rạp chiếu chóng Gô Mông cũng như dinh thự của các quan lại bộ máy chính quyền cũ trong thành và cả toà thành cổ kính nối tiếp nhau bị phá bỏ…

Những ngôi nhà còn lại kể cả những bức tường còn độ cao lút đầu người cũng bị san bằng, nhất quyết không để một vật gì làm chướng ngại dù chỉ là làm mộc che chắn cho lũ giặc cướp nước…” (Diễn đàn Lịch sử Việt Nam “Tại sao Hạc Thành (Thành cổ Thanh Hóa) không còn?”)

Lắm người không hiểu vì sao ở thế kỷ trước vua quan nhà Nguyễn không nghĩ ra chiến thuật tiêu thổ kháng chiến hay ho tài tình này để chống Pháp. Pháp không kiếm ra thức ăn, nơi ở, lại khó bề di chuyển tất phải lo tháo lui và chúng ta đâu bị mất nước! Thật đáng tiếc!

Giá có Hồ Chí Minh lúc đó để tiêu thổ kháng chiến!

Nhưng lại lo Hồ Chí Minh hù dọa: “Đánh thì phải phá hoại, ta không phá thì giặc cũng phá.” Biết rồi song nghĩ lại có chắc đúng vậy không?

Giặc Pháp hồi chúng đánh chiếm nước ta các nhà cửa, thành cổ chúng không đụng đến.

Năm 1947 Pháp chiếm được Đồng Hới mà cũng không thấy chúng ra lệnh phá phách gì.

bando-thanhcodonghoiChuyện Thành cổ Đồng Hới lúc đó như sau, rất điển hình:

Khoảng đầu năm 1947 quân Pháp đổ bộ lên Đồng Hới.

Tôi còn nhớ kỹ. Mấy lâu nay từ ngày lệnh toàn quốc kháng chiến được ban hành Đồng Hới khá yên tĩnh. Không có gì là chộn rộn. Mọi sinh hoạt kể như bình thường. Một số gia đình có gốc ở thôn quê thì cẩn thận sắp đặt đôi chút phòng bắt buộc tản cư.

Đột nhiên chiều tối hôm trước có người nói hình như thấy có tàu thủy một chiếc đến đậu ngoài biển không xa cửa sông (sông Nhật lệ). Không ai hiểu mô tê. Không nghe ủy ban cho loa phóng thanh loan tin báo động. Chắc lỗi vì đêm tối và không quan trọng. Nhiều người nói là tàu buôn? hoặc bàn tán trách nhau trông gà ra cuốc. Trong bóng đêm khó phân biệt.

Sáng tinh sương hôm sau, một – hoặc hai, tôi không dám nhìn kỹ – chiếc máy bay bay nhiều vòng vù vù trên thị xã xả súng bắn xuống. Nghe tiếng cành cây gãy đổ xuống ào ào, dễ sợ.

Chừng hơn nửa giờ, hoặc có thể lâu hơn tiếng súng và tiếng máy bay im bặt và im luôn. Tàu bay chắc về lại Huế hoặc Quảng Trị. Nửa giờ sau đã nghe tiếng Tây xì xồ ngoài đường, đúng là Tây từ tàu thủy đêm hôm qua đậu ngoài khơi, sáng nay đổ bộ vào.

Vậy là Pháp đã chiếm Đồng Hới.

Các ông ủy ban nhân dân, công an, du kích, tự vệ … đã rút lui nhanh lẹ lên rừng núi, chiến khu không xa mấy, có thể ngay từ trong đêm, không thông báo gì – đánh trống, gõ phèng la, phóng loa – cho dân chúng hay biết.

Thị xã Đồng Hới nhà cửa còn nguyên vẹn, thành cổ cũng vậy, ủy ban hành chánh và kháng chiến rút lui không kịp ra lệnh tiêu thổ kháng chiến.

Thực tình sự tháo chạy của các ông ủy ban không đáng trách vì tương quan lực lượng hai bên quá chênh lệch, song thiết tưởng mấy ổng cũng nên nghĩ đến các người dân và cho họ hay biết kịp thời.

Pháp đến, nhưng trong thị xã sau đó tôi chỉ thấy bóng dáng vài người Pháp đi lại, mặc đồ nhà binh nhưng làm việc dân chính hành chánh. Tôi còn nhớ ông lớn nhất nghe gọi là Trung úy Crenn. Chẳng biết chính tả viết vậy đúng không.

Pháp không giữ quân trong thị xã, không vào ở trong thành cổ hoặc chiếm cứ tòa khách sạn bungalow, lầu 2 tầng sang trọng kiên cố ở ngoài cửa hữu cổ thành.

Quân đội Pháp xe cộ súng ống kéo nhau đi đóng đồn đâu xa mất tiêu, tại các trục lộ giao thông, xây lô cốt, rào kẽm gai v.v…và từ đó xuất phát hành quân tảo thanh, bình định.

Chỉ có dân vùng quê mới thấy lính Pháp, ở trong đồn hoặc đi bố ráp. Giữa thị xã không thấy bóng dáng chúng, hoặc họa hoằn, lẻ tẻ.

Nghĩ lại nhiều năm sau khi Pháp kéo nhau đến đóng quân tại lòng chảo thung lũng Điện Biên Phủ, khỉ ho cò gáy, xây doanh trại, hầm trú ẩn, công sự chiến đấu, phi đạo v.v…mới toanh.

Biết vậy thì chính phủ cho tiêu thổ ở Điên Biên Phủ trước, Pháp đến chẳng còn dùng được gì ắt phải bỏ đi.

Năm 1954 Hiệp định Genève chia vĩ tuyến. Cộng Sản tiếp quản thị xã Đồng Hới phồn thịnh, lớn thêm và thành cổ nguyên vẹn. Hiện nay thì thành cổ Đồng Hới chỉ còn lại vết tích.

Thế cho biết có đập phá san bằng thành cổ cũng bằng thừa.

Thời Pháp thuộc trong thành cổ mỗi tỉnh lỵ chỉ có trại lính khố xanh (chân quấn xà cạp xanh) trang bị súng trường, có nhiệm vụ giữ an ninh, tuần tra, cai quản nhà lao (thường phạm). Tôi vẫn thấy lính dắt nhà phạt (tù nhân) đi làm cỏ bên vệ đường.

Lính khố đỏ mới là lính tác chiến, đánh dẹp thì luôn đóng trại đâu xa ngoài bìa thị xã hoặc xa hơn, ở cùng đồn theo lính Pháp.

Tôi mà còn biết được vậy thì điều này chắc chắn bác Hồ Chí Minh nắm rõ.

Lê Bá Vận

—>Phần II

This entry was posted in * Lê Bá Vận, Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.