Vài ý kiến cá nhân về cuốn “NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT” của tác giả Đặng Chí Hùng

Kính thưa quý vị !

Người viết bài này xin thưa ngay rằng hắn không phải là một con mọt sách hay một tay điểm sách chuyên nghiệp; và cũng chẳng phải là nhà phê bình văn học nghệ thuật gì cả. Chính vì thế những ý kiến nhận xét của hắn viết ra dưới đây, về cuốn Những Sự Thật Cần Phải Biết (NSTCPB) của tác giả Đặng Chí Hùng (ĐCH), rất cá nhân, rất chủ quan, rất hạn hẹp, và do vậy, nhất định có thể sẽ làm phật lòng những độc giả nào không đồng quan điểm. Về chỗ này, hắn xin đề nghị chúng ta hãy thoả thuận với nhau một điểm chung; đó là chúng ta đồng ý chúng ta không nhất trí!

Trước khi đọc sách này, hắn đã được xem một số bài lẻ tẻ của tác giả này, trên mạng lưới toàn cầu. Lúc ấy, dù chẳng biết tác giả là ai, nhưng hắn cũng cảm nhận được rằng, qua những bài viết với nội dung và chứng cớ không thể phủ nhận, ĐCH chứng tỏ mình là người rất am tường về nội tình rối ren cũng như hiện trạng thối nát của Việt Nam, dưới sự cai trị độc tài của đảng cộng sản Việt Nam (CSVN). Theo tác giả, sở dĩ đất nước VN rơi vào tình trạng bi đát hiện tại—xã hội băng hoại, kinh tế lụn bại, nhất là nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng ngày càng trở thành hiện thực—là vì đảng CSVN, mà đứng đầu là Hồ Chí Minh (HCM) từ ngày thành lập đảng, luôn áp dụng chính sách cai trị độc tài đảng trị sắt máu, và thi hành kế hoạch tuyên truyền xảo trá lừa bịp nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, ngay từ ngày thành lập đảng đến bây giờ.

Trước đây hắn không hề biết ĐCH chính là người mà báo chí bản xứ nêu trong những bài liên hệ đến việc chính phủ Canada can thiệp với tà quyền CSVN để bảo lãnh, và cho định cư tại Canada theo qui chế tị nạn chính trị, “một thanh niên sinh trưởng tại miền Bắc cộng sản.” Theo báo chí, lý do có sự ra tay nghĩa hiệp này là vì, vốn là một nước tự do tôn trọng dân chủ nhân quyền, và là nước chủ nhà đã tiếp nhận bao nhiêu thuyền nhân trước đây, Canada không thể ngồi yên khi thấy một nạn nhân khác bị nhà nước độc tài VN nhất định theo dõi và ra sức truy tầm hầu “bắt bỏ bóp” cho bằng được, dù đương sự đã ra trốn khỏi nước, vì tác giả có những việc làm theo lề trái chống lại nhà nước.

Sự kiện nhà nước cộng sản “bức xúc” đến độ buộc phải tìm mọi cách triệt hạ một trong những người bất đồng chính kiến thuộc lớp trẻ cùng chí hướng mới nở rộ những năm gần đây, cho thấy những việc làm của ĐCH quả là có ép-phê mạnh mẽ và thiết thực chống lại nhà nước cộng sản hiện tại ở Việt Nam. Những việc làm đó chủ yếu gồm những lời nói hay bài viết mà “tên phản động ĐCH” đang tung lên mạng toàn cầu, qua đó đông đảo độc giả trong và ngoài nước, đặc biệt giới trẻ có tấm lòng và những ai còn quan tâm, có thể tìm đọc thoải mái và rồi ủng hộ hết mình, bởi vì chúng chứa đựng những nội dung phơi bày sự xảo quyệt, gian trá, thâm độc, tàn nhẫn, bất nhân trong chính sách cai trị sắt máu của đảng CSVN đối người dân, bằng những chứng cớ không ai có thể chối cãi.

Một tác giả được nhiều người biết đến như vậy hẳn phải có hấp lực rất lớn đối với độc giả, đặc biệt với dân tị nạn tại hải ngoại là những người luôn luôn mong mỏi có một VN độc lập tự do không cộng sản để mà về viếng thăm nay mai, và vì vậy rất muốn nghe tiếng nói của những người chống cộng từ trong nước vừa mới đào thoát ra ngoài. Người viết bài này cũng không thoát khỏi sức hút lôi cuốn ấy. Cho nên vào ngày chúa nhật 23-11-2014, hắn không ngần ngại thu xếp thời gian đi dự ngày hội luận về nhân quyền tại Việt Nam, do Cộng động Người Việt Quốc Gia vùng Montreal tổ chức, trong đó được biết có sự hiện diện của blogger ĐCH. Đó là dịp hắn được gặp, à không, được trông thấynghe được chính tác giả ĐCH bằng xương bằng thịt.

Tức là hắn đã được trông thấy ngoại hình và nghe được tiếng nói của đương sự. Về ngoại hình, ĐCH trông không có gì đặc biệt, ngoài nét trẻ trung và chiều cao hơn trung bình của một thanh niên ở tuổi tam thập nhi lập một chút (ĐCH sinh 1982). Và thân hình có thể nói là chắc nịch, thể hiện một thanh niên khoẻ mạnh ở tuổi này. Con người ấy trong bộ âu phục hợp thời, với mái tóc húi cua, trông thật ra dáng một lực sĩ điền kinh thế vận hội quốc tế hơn là một blogger trí thức tiếng tăm. Và đặc biệt con người ấy, khi được trao cho chiếc khăn quàng lá cờ vàng ba sọc đỏ, đã tỏ ra vui vẻ hồn nhiên nhận ngay, choàng lên cổ, để hai đầu buông thõng trên ngực, nổi bật trên nền áo veste đậm màu, và trong khi lúc trao đổi cùng cử toạ, lại dõng dạc tuyên bố, “Đây là lá cờ dân tộc…,” một trong những lời phát biểu không khỏi làm cử toạ vỗ tay tán thưởng.

Riêng khuôn mặt nhìn thẳng hình trái xoan, theo cảm nghĩ của hắn hôm ấy khi nhìn ĐCH trên bàn tham luận đoàn, hình như toát ra nhiều nét nghiêm trang đứng đắn, hơi khép kín của người đứng tuổi luôn cẩn trọng, hơn là vẻ tươi vui cởi mở, hơi buông thả, ở lớp trẻ cùng tuổi ở thế giới tự do. Hắn hy vọng nhận xét này sai, vì hắn không có dịp gặp hay thấy tác giả sau hay ngoài buổi hội luận nói trên.

Còn về tiếng nói, hắn phải thành thật tự khai là hắn rất cảm kích khi nghe. Đó là loại tiếng mạnh mẽ, bình tĩnh, dứt khoát, rõ ràng, lưu loát, và đặc biệt đầy vẻ tự tin mà hắn được nghe khi ĐCH trả lời câu hỏi hay trình bày vấn đề đang được hội trường đề cập. Đây là sự tự tin của một diễn giả trước đám đông; của một người nắm vững, biết rõ, nhớ đúng vấn đề cần hay đang được bàn luận. Hay nói cách khác, đó là một người tự biết mình nói gì, làm gì, và ứng xử thế nào—và biết chắc tất cả đều đúng, chắc—khi được yêu cầu.

Hắn thật sự cảm kích và tâm đắc, và đồng thời cũng tự hổ thẹn—vì chưa bao giờ chịu tìm hiểu cặn kẽ ý nghĩa, khi ĐCH nhắc tới và giải thích hai nhóm từ ngữ hắn thường thấy hoặc hay nghe. Đó là hai nhóm từ ngữ, “Tổ Quốc Ghi Công” của cộng sản và “Tổ Quốc Ghi Ơn” của VNCH mà chúng ta thường thấy ở các mộ bia hay đài kỷ niệm anh hùng tử sĩ của đôi bên—khác nhau chỉ ở từ ngữ thứ tư: CôngƠn.

Hai nhóm chữ này mang sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai thể chế chính trị, có ngụ ý sâu xa, bởi vì có sự khác biệt ở từ ngữ thứ tư ấy. Công thì hời hợt cụ thể, sòng phẳng—anh làm công cho tôi, tôi trả công anh bằng tiền bạc hoặc hiện vật—hoặc tờ giấy ghi Bằng Liệt Sĩ, thế là xong. Nhưng ngược lại, ơn thì rất thâm sâu, trừu tượng và vì vậy, việc trả ơn rất khó, không biết thế nào là xong; nhiều khi người ta phải trả bằng chính xương máu của mình. Ngoài ra, ở đây hắn xin thêm là chúng ta hiếm khi nghe ai nói công nghĩa mà chỉ thường nói ơn nghĩa, tức là ơn còn đi đôi với nghĩa. Hay nói khác đi, ở đây còn có lẽ phải, có sự ràng buộc, và tính hợp đạo lý và vì vậy, là điều nên làm, phải làm, và cần quan tâm; từ đó ơn lại càng sâu xa thâm thuý, càng khó trả cho xong được. (Độc giả tò mò muốn nghe lại, xin google “Hội luận nhân quyền Montreal 2014,” hoặc xem clip cùng tên trên youtube. (*)

Đó là vài cảm nghĩ sơ lược về tác giả ĐCH mà hắn được nhìn thấy trong buổi hội luận nói trên. Bây giờ đến tác phẩm—cuốn NSTCPB mà hắn đang có trong tay. Ngoại hình cuốn sách trông đẹp mắt, do kỹ thuật in ấn tối tân hiện đại ngày nay: tác phẩm in bên Virginia, Hoa-kỳ, do Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản, đầu năm 2014. Ngoài phần chữ in tựa hoặc tên tác giả và nhà xuất bản, người đọc có lẽ phải chú ý ngay đến hai hình in kèm ở bìa trước và bìa sau, vì cả hai rõ ràng là cho thấy cách sinh sống lam lũ và con người khốn khổ, trẻ cũng như già, tại xã hội VN hiện tại.

Nhìn hai hình này, độc giả hải ngoại chúng ta chắc không ai không cảm thấy thương cảm và tội nghiệp cho đồng bào của chúng ta còn đang phải sống dưới chế độ độc tài cộng sản tại quê nhà, đang phải bươn chải cật lực vì miếng cơm manh áo. Đó là hình một bé trai, trần truồng, đứng trong đầm lầy, ở tư thế chuẩn bị mò cua bắt ốc, ở bìa trước; và đối lại, ở bìa sau là ảnh một mẹ già còng lưng dưới đôi quang gánh hàng rong nặng trĩu, bước lê trên đường về….

Kẹp giữa bìa sách in hai tấm hình gợi cảnh thương tâm ấy là nội dung sách, in trải dài đến 520 trang. Trừ hai bài—một giới thiệu tác giả và một tự bạch của chính tác giả, in ở mấy trang đầu, còn lại nội dung thực sự gồm 25 chương, bắt đầu từ trang 27, và chấm dứt ở trang 494 (từ đây đến trang 520 là thư tịch và quảng cáo sách của nhà xuất bản Tiếng Quê Hương). Nhìn ngày tháng in cuối mỗi bài, người ta có thể nói là đây là những bài tác giả viết rải rác trong khoảng thời gian từ 6-6-2012 đến 6-11-2013. Được biết trong thời gian này tác giả đang bị tà quyền Hà Nội theo dõi sít sao và truy đuổi tận tình—ngay trên chính quê hương mình, rồi tới Kampuchia, và tận Thái Lan. Như vậy ĐCH quả là một cây viết sung sức và quyết chí, bởi vì ngoài những bài in trong sách, người ta còn thấy rất nhiều bài khác cùng tác giả xuất hiện trên mạng.

nstcpb2

Độ dài ngắn mỗi chương thay đổi, từ ngắn nhất 8 trang (Chương 19: Mất) đến dài nhất 33 trang (Chương 25: Bằng Chứng Bán Nước của Cộng Sản Việt Nam, chương cuối). Tựa mỗi chương tóm lược nội dung bên dưới, trong đó tác giả, bằng lối văn nghị luận, làm sáng tỏ thêm vấn đề, đồng thời chứng minh bằng những chứng cớ cụ thể, lấy từ nguồn tư liệu đáng tin cậy, từ đó đả phá mọi luận điệu tuyên truyền xảo trá lừa bịp của đảng CSVN. Vì thế trong mỗi chương, độc giả sẽ thấy rất nhiều Thứ nhất, Thứ hai, Thứ ba, v.v.; đó là những nhóm từ ngữ mở đầu mỗi đoạn văn trình bày lý do, hay bằng chứng, để góp phần giải đáp cho vấn đề đặt ra ở thân bài.

Nội dung mỗi chương không trực tiếp liên hệ với nhau, nên độc giả có thể chọn chương nào mình muốn đọc trước, hay đọc nhẩy cóc, tuỳ ý thích hoặc tính tò mò lúc ấy. Tuy vậy có những chương người đọc nên xem liền nhau để thấy sự liên hệ nhân quả của sự việc hoặc vấn đề đang được đề cập. Ví dụ như khi đọc xong Chương 1: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu Bác? (t.27), chúng ta nên đọc tiếp Chương 2: Hồ Chí Minh và Công Hàm 1958 (t.37), bởi vì bài trên đặt vấn đề và chứng mình là Bác Hồ bôn ba sang Pháp chẳng qua là vì sinh kế, chẳng phải “tìm đường cứu nước” như đảng CSVN tuyên truyền bịp bợm, và rồi khi trở thành Tổng Bí Thư kiêm chủ tịch nhà nước, đứng đầu Bộ Chính Trị, Bác đã có ý kiến chỉ đạo khi Phạm Văn Đồng ký công hàm 1958—giờ đây thường được nhắc tới bằng cái tên chính xác hơn “công hàm bán nước”, thừa nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Cộng.

Nếu tò mò về sự bán nước này, độc giả có thể xem tiếp luôn chương ngay sau, Chương 3: Bác, Đảng đã bán những gì và để làm gì? Bởi vì trong đó chúng ta sẽ có câu trả lời về thắc mắc tại sao bán, bán gì, và để làm gì; tất cả đều được giải đáp xác đáng với chứng cớ đảng CSVN chỉ có thể chối quanh, không thuyết phục được ai.

Hoặc Chương 4: Nỗi Đau Cải Cách (t.68), và Chương 5: Dù đau đớn vẫn là sự thật (t.94) nên được đọc tiếp nhau để thấy liên hệ nhân quả trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) mà theo tác giả ĐCH là “cuộc hành quyết đẫm máu nhân dân vô tội.” (t.91).

Sau đây là tựa đề cụ thể từng chương trong NSTCPB. Ch1: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu Bác?; Ch2: Hồ Chí Minh và công hàm 1958; Ch3: Bác, Đảng đã bán những gì và để làm gì?; Ch4: Nỗi đau Cải Cách; Ch5: Dù đau đớn vẫn là sự thật; Ch6: Trí thức cũng chẳng khá hơn; Ch7: Ai đã bán đứng cụ Phan Bội Châu?; Ch8: Hồ Chí Minh & âm mưu Hán hoá VN; Ch9: Âm mưu diệt nội lực dân tộc; Ch10: Lừa dối dân tộc; Ch11: Nguỵ tạo về Cách Mạng Mùa Thu; Ch12: Nướng đân đen trên ngọn lửa hung tàn; Ch13: Ai làm cho Huế đau thương?; Ch14: Người chồng, người cha tồi tệ; Ch15: Sự thật vềĐại Thắng Mùa Xuân 1975”; Ch16: VNCH, nạn nhân chính sáchngậm máu phun người”; Ch17: Nổi dậy hay khủng bố; Ch18: Thống Nhất?Xảo Ngôn!; Ch19: Mất!; Ch20: CSVN: Trẻ em là công cụ chiến tranh!; Ch21: Sinh Bắc Tử Nam; Ch22: Những kẻ cướp ngày; Ch23: Đàn áp và phỉ báng tôn giáo; Ch24: Ngu dân và mị dân để giữ đảng; Ch25: Bằng chứng bán nước của CSVN.

Nhìn những tựa đề nêu trên, người Việt nào dù ở ngoài hay trong nước có quan tâm đến tình hình nước nhà, chắc hẳn cũng đã nghe nói tới hay có đọc qua sự kiện liên hệ, nhất là sang đầu thế kỷ 21 này, với sự bùng nổ của mạng lưới thông tin toàn cầu, khó có ai có thể tránh khỏi không bị tràn ngập tức thì, bởi mọi loại tin tức, về bất cứ việc gì xẩy ra trên thế giới ngay lúc này. Nói cách khác, những sự kiện hay câu hỏi nêu trong NSTCPB “không có gì là quá mới,” như chính ĐCH thừa nhận trong “Đôi Dòng Tự Bạch” in trên trang 19.

Nhưng đối với người viết bài này, vế tiếp theo của phần trích vừa nêu thật là điều mới, bởi vì tác giả “chủ trương dùng các bằng chứng của thế giới cộng sản để bẻ gẫy những gì đảng cộng sản tuyên truyền láo khoét về lịch sử.” Tức là, chủ trương đó làm cho độ khả tín của những vấn đề trình bày trong sách rất cao, phía cộng sản không thể nào bác bỏ hay chối quanh được, và vì vậy, độc giả có thể tin tưởng rằng những vấn đề đó là sự thật có bằng chứng, không phải do tác giả nổ để muốn làm blogger nổi tiếng như hiện tại.

Tất cả những bằng chứng này tác giả lấy từ nguồn ấn phẩm hầu hết của đảng CSVN, hoặc quan thầy Liên Xô, Trung Cộng, trong đó có nhiều tác phẩm của các tác giả thân cộng người nước ngoài. Tựa những ấn phẩm này đều được in mục Tài Liệu Tham Khảo, từ t.499 đến t.511. Ngoài những ấn phẩm này, tác giả còn truy cập những dữ kiện liên hệ trên các trang mạng, hoặc links vào các websites của văn khố hay cục lưu trữ thuộc khối cộng sản. Ở mỗi cuối trang, nếu cần có thêm bằng chứng từ nguồn tham khảo, đều có số ả-rập tương ứng, cho biết nguồn trích dẫn—bắt đầu bằng số (1) ở trang 28 cho đến số (164) ở trang 493.

Bây giờ hắn mời độc giả cùng hắn đọc một chương của NSTCPB. Chúng ta đọc thử Chương 1: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu “Bác”? Bắt đầu từ chương nói về nhân vật Hồ Chí Minh, người mà dân miền Bắc, từ trẻ con đến người lớn, đều phải công kênh tôn xưng là Bác, không gì lô-gích hơn, bởi vì chính ông Bác này là đầu dây mối nhợ cho mọi khổ đau tang thương mất mát mà người dân VN phải chịu đựng từ ngày có Bác đến giờ. Thậm chí nguy cơ đất nước VN sắp sửa thành một quận của Trung Cộng cũng bắt nguồn từ ông Bác bất xứng này.

Mấy hàng chữ đầu chương đặt ngay vấn đề ông Bác làm thủy thủ trên tàu La Touche Tréville sang Pháp “tìm đường cứu nước,” ngày 5-6-1911. Việc cứu nước này xoay quanh hai cái thư ông Bác viết, xin theo học trường thuộc địa Pháp. Vì vậy câu hỏi đặt ra là mấy cái đơn xin học đó có thực không, và đương đơn xin nhập trường này với mục đích gì?

Vấn đề thực hư của đơn không cần phải bàn cãi dài dòng, bởi vì văn khố Pháp còn giữ bản lưu mà trong sách có in lại hình chụp, trong đó Bác tự khai tên tuổi nghề nghiệp hiện tại và ý muốn vào trường Thuộc Địa (École Colonial). Ngoài ra, chính những tài liệu cộng sản như Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Tiểu Sử và Sự Nghiệp, hoặc Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (cả hai đều do NXB Sự Thật, Hà Nội phát hành), cũng thừa nhận sự kiện ông Hồ ra nước ngoài bằng tàu thuỷ, nhưng đồng thời luôn luôn lái việc xuất dương của Bác sang mục đích “tìm đường cứu nước” khi làm đơn xin học.

Câu mấu chốt trong đơn bằng tiếng Pháp có thể cho thấy mục đích thực sự là gì: Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction. Câu này được cả “lề trái” và “lề phải” dịch sang tiếng Việt đại khái giống nhau như sau:

– (trái) Tôi ước mong được trở nên có ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được lợi ích của nền học vấn.

– (phải) Tôi muốn trở nên có ích cho nước Pháp trong quan hệ với đồng bào tôi và đồng thời mong muốn đồng bào tôi thu lợi được từ học hành.

Vì thế người ta có thể cho rằng điều quan trọng không phải nằm trong ý nghĩa của câu văn trên. [Lúc ấy không những bản thân Bác mà cả bố ông bác cũng túng quẫn, vì mới bị cách chức quan do tội giết người, khiến Bác phải làm đơn gởi khâm sứ Pháp tại Huế, xin cho cha làm tuỳ phái trong một sở nào đó, hoặc một chân kèm trẻ dạy cậu ấm cô chiêu con quan lại đâu đó. (Theo tài liệu của Thành Tín, tức Bùi Tín.)] Rất tiếc là dù tỏ ra thiết tha như thế trong đơn, ông bác cũng bị từ chối, khiến Bác vẫn phải làm thuỷ thủ!

Theo lập luận của ĐCH mà kẻ viết bài này cũng rất ủng hộ, câu văn này có thể nói là câu tủ, mẫu, mà bất cứ ai xin học lúc ấy đều dùng; tức là, cũng tương tự như câu chúng ta viết trong CV xin việc bây giờ: Tôi mong muốn trở thành một công nhân tài giỏi, đem lại nhiều lợi ích cụ thể cho Quí Hãng hay Công Ty. Cho nên có gì mà phải thắc mắc?

Thắc mắc là vì cách diễn dịch khiên cưỡng câu văn trên của phía ủng hộ sự kiện Bác tìm đường cứu nước, qua việc Bác xin vào Trường Thuộc Địa. Theo phía lề phải này, vì Bác muốn nâng cao học vấn, rồi khi ra trường giúp “đồng bào tôi” chống thực dân Pháp; chủ trường biết ý đồ không tốt ấy của Bác, nên từ chối! Kiểu giải thích này quá gượng ép, bởi vì lúc ấy (năm 1911), Bác chỉ là một tay thuỷ thủ quèn, 19 tuổi đầu (theo lời khai năm sinh trong đơn, 1892), làm gì đã có tiếng tăm nào để ông chủ trường phải sợ mà bác đơn? Tức là Bác, trẻ người nhưng chí cao, muốn đi học để ra làm quan cho Pháp, nhưng vì chưa đủ tiêu chuẩn học vấn hay thân thế để nhập trường nên bị bác đơn! Thế thôi.

Thôi thì chúng ta cứ chấp nhận là Bác muốn nâng cao kiến thức thông qua việc xin nhập học, nhưng chẳng lẽ lúc ấy mẫu quốc Pháp chỉ có mỗi một Trường Thuộc Địa, không còn trường nào khác để Bác xin vào để học khôn? Đã từng là học sinh Quốc Học Huế chẳng lẽ Bác lại dốt đến độ không biết cái trường này thực dân Pháp mở ra để huấn luyện ai, nhằm mục đích gì?

Túm lại, Bác xin vào trường này là để giải quyết sinh kế cho mình và gia đình lúc ấy, đồng thời thoả mãn mộng làm quan, tiếp tay thực dân Pháp cai trị dân Việt một các đắc lực và hiệu quả hơn! Bác chẳng có tham vọng “tìm đường cứu nước” như đảng CSVN, cũng như chính Bác, với bút danh Trần Dân Tiên, rêu rao tuyên truyền bịa đặt bấy lâu. Đây là sự thật cần phải biết đầu tiên trình bày trong sách NSTCPB.

Sau đó những sự thật cần phải biết khác được phơi bày trong những chương kế tiếp, và sự thật nào cũng được chứng minh rõ ràng cụ thể qua bằng cớ trích từ nguồn của chính đảng CSVN, hay từ đám quan thầy Nga Hoa của họ, hoặc từ những cá nhân đoàn thể thân cộng. Ví dụ như Ch4: Nỗi Đau Cải Cách (t.68), trong đó tác giả trình bày bối cảnh lý do đưa đến cuộc CCRĐ ở miền Bắc từ 1950, cùng các giai đoạn thực hiện, thông qua những sắc lệnh ban hành ngày nào, do ai ký, v.v., được in lại trong sách.

Hoặc ở Ch.16: VNCH: Nạn nhân chính sách “ngậm máu phun người.” (t.288), là chương người viết bài này rất tâm đắc bởi vì hắn cũng là một thành viên trong quân lực VNCH, mà bây giờ có người từ “phía bên kia” đã sáng mắt đứng ra bênh vực! Để trả lời cho mục, “Mỹ xâm lược VN?” trong chương này, tác giả đưa ra tới 5 lý do chứng minh ngược lại. Cụ thể là Mỹ không hề lấy đất hay biển của VN; hoặc quân Mỹ chỉ xuất hiện thực sự vào thời điểm 1964, trong khi đảng CSVN thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cuối năm 1960, với mục tiêu, “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai…” (trích bài học lịch sử lớp 12 tại miền Bắc); hoặc “Người Mỹ chắc chắn không xâm lược Việt Nam như cách người Pháp thực dân làm trước năm 1945…” (trích sách của nhóm tác giả KGB, nxb Quân đội Liên bang Nga, 1999)….

Nói chung lại, độc giả có thể tin tưởng chắc chắn rằng những gì mình đọc ở NSTCPB sẽ giúp mình củng cố hiểu biết của mình về đảng CSVN mà bấy lâu nay có thể còn mơ hồ bán tín bán nghi; tức là những gì tiêu cực mình nghe, đọc về cái đảng ma giáo này đều có thật, với người thật, việc thật. Trang bị những hiểu biết như vậy, độc giả từ đó mới có thể tạo cho mình một thái độ chính trị công bằng và hợp lý, tránh bị chụp mũ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản.”

Trong tinh thần như vậy, người viết bài này chân thành và trang trọng giới thiệu NSTCPB của ĐCH với tất cả những độc giả Việt nào, nhất là với những ai ở hải ngoại, trong số này phải kể đến những vị được chính phủ VNCH cho đi du học trước kia, không có một ngày sống với BácĐảng, từ ngày Saigon bị đổi tên; hoặc những quân cán chính của VNCH, không phải làm tù cải tạo, kéo lê thân xác trong các trại tập trung, lập ra trên khắp miền đất nước, sau ngày 30-4-1975.

Hay, nói bóng gió hơn—hắn muốn giới thiệu sách này tới bất cứ độc giả nào chưa nhận thức hay cảm nghiệm được thế nào là sống dưới chế độ cai trị bằng khẩu AK40nhà tù Hilton của đảng CSVN hiện tại.

Trinh, MĐ
Tháng 4, 2015

Tác giả gửi trực tiếp tới BQT http://covangvietnam.com/

(*): http://covangvietnam.com/kenh-co-vang/hoi-luan-nhan-quyen-tai-motreal-2014/

 

This entry was posted in * Đặng Chí Hùng, Bình-luận - Quan-điểm. Bookmark the permalink.