CHUYỆN CỦA MỘT NGÔI TRƯỜNG (Hà Việt Hùng)

Khóa sinh trường Thiếu Sinh Quân VNCH

Khóa sinh trường Thiếu Sinh Quân VNCH

Xế trưa ngày 29 tháng Tư, 1975, theo lệnh Chỉ Huy Trưởng, toàn thể Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam [1] di chuyển ra bến tàu, gần trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Quốc Gia ở Cát Lở, cách ngã tư Bến Đình khoảng một cây số để lên tàu di tản. Từ Trường, tôi đi bộ qua đường Lê Lợi, về nhà ở trại Cô Giang, Phường Thắng Tam. Tôi chỉ kịp trao đổi với mẹ tôi vài lời. Năm đó mẹ tôi đã 55 tuổi, người ốm yếu, còn tôi là SQ trẻ, chưa lập gia đình. Sau khi bị thương lần thứ hai tại Trà Ôn, tôi nhận giấy thuyên chuyển về Trường TSQVN. Tại đây, tôi tạm thời được sắp xếp dạy Anh Văn, khi vết thương ở chân trái chưa lành.

– Mẹ chuẩn bị nhanh lên. Mình phải đi ngay bây giờ.

– Đi đâu? Mẹ tôi hỏi.

– Mình theo Trường ra tầu, đi Phú Quốc hay Guam, rồi sau qua Mỹ.

– Qua Mỹ lạnh lắm. Mẹ không chịu nổi đâu.

Nghe mẹ hỏi, tôi trả lời đại như vậy. Sự thực đầu óc tôi đang khô đặc, quýnh quáng, đợi Chỉ Huy Trưởng quyết định, chứ còn biết đi đâu. Đó là mẩu đối thoại ngắn gọn giữa hai mẹ con tôi. Sau khi mẹ tôi xếp vội vài bộ quần áo bỏ vào vali, tôi cột chặt vào sau chiếc Honda Dame. Xong, tôi lấy cây Carbin trong tủ, đeo vào vai, đội nón sắt, dắt xe ra khỏi nhà sau khi đã khóa cửa cẩn thận, rồi chở mẹ tôi nhập vào đoàn người chạy ra bến tàu.

Bên ngoài, dọc theo con đường dẫn ra bến tàu, khoảng gần 400 em TSQ [2] di chuyển chỉnh tề, cộng với các gia đình binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan nối đuôi nhau. Một số nhà dân ở hai bên đường, thấy chúng tôi di chuyển, đã hiếu kỳ ra đứng nhìn theo. Chỉ Huy Trưởng ngồi trên xe díp có tài xế lái, dẫn đầu “đoàn quân”. Có vài người đi xe gắn máy. Còn lại đều đi bộ. Chỉ Huy Trưởng lúc bấy giờ là Trung Tá Ngô Văn Dzoanh, người đã thay thế Đại Tá Hồ Nhựt Quan (Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 9) cách đó hơn một năm.

Tôi chở mẹ tôi chạy chậm, khoảng gần cuối đoàn người. Không ai nói với ai một lời. Tôi để ý, không thấy một vị Sĩ quan quen biết nào ở Ban Văn Hóa cả. Lúc đó, tôi không nhớ đầu óc mình đã suy nghĩ gì. Khi đến gần Rạnh Dừa, bỗng nhiên đoàn người dừng lại, nhốn nháo. Tôi không thấy Trung Tá Ngô Văn Dzoanh đâu. Nghe nói ông đang nói chuyện với các sĩ quan chỉ huy một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đang chiếm giữ bến tàu.

Đến khi có lệnh tất cả mọi người phải quay về Trường, tôi cũng về theo. Có người cho là tình trạng bến tàu lúc bấy giờ có thể không được an ninh. Nếu Trường TSQ lên tàu, sẽ tạo ra một tình trạng hết sức lộn xộn, chậm trễ. Việt Cộng từ phiá Bà Rịa có thể pháo kích lên tàu bất cứ lúc nào. Tôi kể lại chuyện này với tất cả sự dè dặt, vì sự thực, tôi không được nghe nội dung câu chuyện giữa các sĩ quan TQLC và Trung Tá Ngô văn Dzoanh. Ngoài ra, vì đi gần cuối, tôi không hề thấy một người lính hay Sĩ quan TQLC nào, cũng chưa thấy chiếc tàu của Hải Quân đâu cả, và cũng không biết nó mang tên gì.

Thế là đoàn người quay đầu lại, di chuyển về Trường trong nỗi thất vọng.

Về đến nhà, thấy cửa nẻo vẫn được khóa kỹ lưỡng. Tôi dắt xe vào nhà với cái vali đằng sau, nói mẹ tôi chờ, rồi đi bộ qua Trường.

Ngay trước cột cờ, khoảng gần 400 em TSQ mặc đồ vàng, đã nghiêm chỉnh xếp hàng đôi từ nhỏ đến lớn, lặng lẽ chờ đợi.

Tôi đứng cạnh Phòng Sĩ Quan Trực gần cổng ngoài cùng với một số người khác. Thấy loáng thoáng có Thiếu tá Nguyễn Văn Thương, Trưởng Khối Quân Huấn; Đại Úy Hoàng, Liên Đoàn Trưởng LĐ /TSQ; Đại Úy Lê Viết Đắc, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ Hùng Vương; Trung Úy Lê Văn (?) Tuất, An Ninh; Chuẩn Úy Hà Văn Cúc, An Ninh; Chuẩn Úy Lâm A Mạ, Chuẩn Úy Khôi… Nếu tôi không lầm, các Sĩ quan này đều là Cựu TSQ (AET). Xin mở một dấu ngoặc ở đây. Khoảng tháng 1, 1975 Trung Úy Tuất là Đại Đội Trưởng Đ Đ Tác Chiến của trường TSQ. Tôi là Trung Đội Trưởng TĐ 1, Chuẩn Úy Mạ là TĐT/TĐ 2, và một C/U (quên tên) là TĐT/TĐ3. Cứ cách 3 đêm, các TĐ thay phiên nhau lên ngọn núi phía sau trường TSQ, gần đài vi ba, nằm trực chiến.

Lúc bấy giờ Trung Tá Ngô Văn Dzoanh không ngồi trong văn phòng của ông. Ông đứng phía trước Phòng Sĩ Quan Trực. Tôi được biết Trường có kế hoạch di tản ra hạm đội, và đang chờ trực thăng đáp xuống.

Tôi nghĩ đến mẹ tôi đang chờ ở Trại Cô Giang, nhưng tôi đã tự trấn an mình ngay. Nhà tôi ở trong Trại Cô Giang, căn số 2, dãy thứ nhất, đối diện với Trường, chỉ cách bề ngang đường Lê Lợi. Nếu gần đến lượt, tôi chạy về đưa mẹ tôi qua Trường, cũng vẫn còn kịp lên trực thăng.

Khoảng một tiếng sau, một chiếc trực thăng đáp xuống sân Trường. Sáu hay bảy em TSQ nhỏ đứng đầu bước lên. Sau đó, tôi thấy có một người đàn ông Mỹ. Trước đó tôi đã gặp ông này vài lần, nhưng không nhớ ở đâu. Hình như ông ta là Kỹ Sư Cố Vấn. Ông ta leo lên cùng với cô vợ người Việt Nam và đứa con gái nhỏ. Tôi còn thấy hai ông Trung Sĩ Chỉnh và Ngộ (con trai bà giáo Thảo sản xuất và bán mắm ruốc nổi tiếng ở VT) nữa. Hai người này là Hạ Sĩ Quan An Ninh, không biết họ từ đâu chạy ra chỗ trực thăng đang đậu, rồi leo lên. Tôi thấy tất cả đều im lặng. Lúc đó, tôi không nhận thấy mình ngây thơ, khờ khạo. Thử làm một bài tính đơn giản. Mỗi chuyến trực thăng có thể chở được 20 người ngồi cả trên sàn. Cộng chung các em TSQ với các cán bộ nhà Trường và gia đình họ, tối thiểu khoảng 7-8 trăm người. Nếu chỉ có một chiếc trực thăng, để chở hết, phải mất 40 chuyến. Không ai biết tàu đang đậu ở đâu ngoài khơi, nhưng thử ước lượng mỗi chuyến mất độ 30 phút cho thời gian bay đi, bay về, lên, xuống. Vậy là, phải mất 20 tiếng! Một chuyện không thể nào thực hiện được khi Cộng quân đã tới Bà Rịa.

Ngay sau đó trực thăng bay đi. Chúng tôi im lặng chờ chuyến thứ hai đáp xuống.

Chúng tôi cứ đứng chờ như thế đến 2-3 tiếng. Sau cùng, Trung Tá Ngô Văn Dzoanh xuất hiện. Ông buồn bã xem đồng hồ, rồi nói với những người đang đứng trước Phòng Sĩ Quan Trực:

– Đến giờ phút này moi hoàn toàn thất vọng rồi. Trực thăng không xuống nữa đâu. Thôi, các toi hãy về nhà tự lo cho gia đình.

Ông chỉ nói có bấy nhiêu. Vì đứng gần ông nên tôi nghe rất rõ. Dường như tiếng nói của ông bị đứt đoạn, uất ức, nghẹn ngào. Có vài em TSQ đứng gần đấy, thấy chúng tôi tan hàng, đã khóc theo. Tình cảnh này có thể ví như một đàn gà. Đàn gà con đang đi theo mẹ, nhởn nhơ bắt sâu, bỗng từ trên trời xuất hiện một bầy diều hâu hung ác. Đàn gà con chạy vội núp vào cánh mẹ. Bầy diều hâu bay xà xuống. Đàn gà náo loạn, tan tác.

Tôi về nhà. Trại Cô Giang vắng ngắt. Nhà bà y tá bên phải và nhà Thiếu Úy Hòa bên trái đóng chặt cửa. Không biết họ có ở trong nhà không. Một lúc sau tôi thấy Đại Úy Trần Đình Ân, Trưởng Ban Văn Hóa[3], mặc quân phục, đội mũ bê rê màu xanh đậm, chở vợ bằng xe Suzuki chạy ra đường cái, ngang qua nhà tôi. Vợ chồng Đ/U Ân thấy tôi đang đứng trước cửa nhà, không nói gì, chỉ có ánh mắt, nhưng khi ấy tôi lại không hiểu được. Tôi biết họ đang vội.

Gần như Trại Cô Giang không còn ai. Tôi bàn với mẹ tôi chạy tới tá túc nhà anh An ở khu chợ mới, Phường Thắng Nhì. Bà cô ruột của anh An là bạn thân của mẹ tôi khi còn đi học ngày nhỏ. Bỗng nhiên, Thiếu Úy Từ Hữu Mỹ[4] bước qua nhà tôi. Th/U Mỹ ở cách nhà tôi vài căn. Gia đình của Th/U Mỹ ở Chương Thiện, mới lấy vợ được vài tháng. Quê vợ ở Bình Dương. Hai người bị kẹt lại Vũng Tàu. Th/U Mỹ ngỏ ý “xin” đi theo tôi vì không biết đi đâu cả. Có thể ngày mai Việt Cộng sẽ tới đây.

Một lần nữa, tôi lại khóa cửa nhà. Tôi chở mẹ tôi bằng xe Honda Dame, Th/U Mỹ chở vợ bằng xe đạp mini chạy bên cạnh. Cả hai chúng tôi vẫn mặc bộ đồ trận và “lon lá” đầy đủ. Ra đến đường, một em TSQ chặn tôi lại. Em đưa cho tôi trái lựu đạn M26.

– Thầy giữ “cái này” xài.

Có thể em là TSQ lớp 11 hay 12. Vì thời giờ gấp rút, tôi không kịp hỏi tên em, chỉ nhớ là đã cám ơn. Tôi biết khi chúng tôi đi rồi, em lại quay về Trường, vì còn biết đi đâu.

Lúc đó chúng tôi được trang bị gần như đầy đủ: quân phục tác chiến, nón sắt, súng carbin, băng đạn, thẻ bài. Riêng tôi còn có thêm trái lựu đạn trước ngực.

Chúng tôi chạy xe dọc theo con đường phía bên ngoài, song song với Trường TSQ. Trường nằm bên phải, buồn bã, lạnh lùng. Ngang khu Liên Đoàn, tôi còn thấy vài ba bộ đồ vàng lảng vảng ở ngoài hành lang, hay dưới cột cờ. Không biết các em đang làm gì. Thôi nhé, vĩnh biệt các em. Vì vận nước đổi thay, thầy trò chúng ta phải chia tay nhau. Chúng tôi đã làm bổn phận, mặc dù chưa xong, của những người thầy đối với các em, nhưng chúng tôi đã không chu tất bổn phận của những người mẹ. Chúng tôi biết, những thứ các em thực sự cần có lúc bấy giờ là mái ấm gia đình, ở đó tràn ngập tình thương yêu của những người mẹ, người cha hay người anh, người chị.

Khu Văn Hoá vắng ngắt. Kiến trúc có hai cầu thang bằng đá và xi măng ở hai bên. Có những lớp học ở tầng dưới và ở trên lầu. Có những giáo sư đã cùng dạy học với tôi ở đó. Đại Úy Nguyễn Văn Thi (về từ Võ Bị Đàlạt, dậy Toán), Trung Úy Trần Trị Chi, Trung Úy Nguyễn Văn Minh, Trung Úy Lê Văn (?) Thiện (dậy Vạn Vật), Trung Úy Lâm Quang Đạt (dậy Pháp Văn), Thiếu Úy Phạm Quang Tuyên (dậy Anh Văn), Thiếu Úy Phạm Việt Hùng (dậy Văn), Thiếu Úy La Hoa Hùng (dậy Toán), Thiếu Úy Trần Quang (?) Huy (dậy Triết), và một vài người nữa mới thuyên chuyển về tôi không kịp biết tên. Ở trường TSQ, chúng tôi quen gọi các Sĩ Quan Văn Hoá là Giáo Sư, phần lớn những người này đều tốt nghiệp Đại học, và có nhiều người dậy cả ở trường tư Vùng Tầu.

Đối diện với Trường TSQ, có một dãy tường dài màu trắng. Ở đó, bây giờ tôi còn thấy viết một câu nói nổi tiếng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng tin những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.” Vào giờ phút ấy, tôi vẫn còn thấy câu nói đó rất đúng; nó như một thách đố, nhưng lại nghẹn ngào, uất hận.

Trên đường, chúng tôi thấy mọi nhà đều đóng cửa. Phố xá vắng lặng như chiều 30 Tết. Không một người qua lại.

Chúng tôi rẽ trái để tới nhà anh An ở khu chợ mới, Phường Thắng Nhì, vào khoảng 4 giờ chiều. Cửa đóng kín. Tôi gõ cửa. Bất ngờ thấy chúng tôi tới, anh An lo sợ ra mặt. Chắc anh không muốn có chuyện gì phiền phức đến gia đình mình. Nhưng chị An không nói gì.

Nhìn thấy chúng tôi đùm đề súng đạn, anh An cuống lên:

– Trời ơi, đến giờ này mà các chú còn súng đạn như thế này. “Chúng nó” tới sát bên rồi.

Rồi quay qua thằng cháu, anh giục:

– Khánh. Mày mang những thứ này vứt qua hàng rào. Nhanh lên.

Khánh là lính Nhảy Dù từ Vùng 1, Vùng 2 mới di tản về.

Chúng tôi lặng lẽ cởi bỏ súng đạn, kể cả thẻ bài, đưa cho Khánh. Khánh đi ra phía sau, vứt những thứ đó qua bên kia hàng rào. Chúng tôi vào nhà, lột được cái áo, nhưng chưa kịp thay. Hai đứa còn mặc quần lính trận. Lúc đó Việt Cộng đã tới sát bên. Chúng tràn ngập khu nghĩa địa cách nhà anh An chỉ vài trăm thước. Không có tiếng súng nào.

Chúng tôi ngồi trong nhà, chờ xem động tĩnh. Đêm đó, đầu óc tôi căng thẳng, không sao ngủ được. Mãi gần sáng tôi mới thiếp đi.

Sáng sớm hôm sau, 30 tháng Tư, tôi choàng tỉnh dậy vì có những tiếng động ở bên ngoài. Từ trong nhà, tôi nhìn qua lỗ khóa. Khoảng một tiểu đội Việt Cộng đang đứng lố nhố trước cửa nhà anh An, chỉ cách tôi 4-5 thước, qua một cánh cửa gỗ. Chúng đang xì xào bàn tán những gì tôi nghe không rõ. Tôi nhìn thấy những chiếc nón cối bạc màu, những đôi dép râu bao quanh những đôi chân cáu bẩn, và những đôi giầy vải màu nâu bạc phếch. Nào là vũ khí, máy truyền tin. Cạnh chỗ chúng đang đứng, có một miếng gỗ đóng xơ xài trên cái cột, với hàng chữ nguệch ngoạc “TÙ HÀNG BINH ĐI LỐI NÀY”, và ở dưới có một hình mũi tên chỉ về hướng đài vi ba, Phường Thắng Tam. Ngoài ra, còn có một tấm bảng khác với hàng chữ “HÀNG SỐNG, CHỐNG CHẾT” được đóng ngay đó.

Đến khoảng 8 giờ sáng, tôi lại nhìn qua lỗ khóa một lần nữa. Rõ mồn một. Bọn Việt Cộng vẫn còn đứng lố nhố trước cửa nhà anh An. Vài phút sau, tôi không còn tin vào mắt mình được nữa. Tay Nhiều[5], Nghị viên (NV) Thành phố Vũng Tàu được một tên đệ tử còn trẻ chở tới bằng xe Honda 67 màu đen. Cả hai đều mặc áo trắng. Tên trẻ tuổi đeo băng đỏ ở cánh tay. Chiếc xe dừng lại, được chống càng nghiêng qua một bên, NV Nhiều bước xuống, nét mặt nghiêm trọng, nói chuyện với tên Việt Cộng đeo K.54, hình như là cấp chỉ huy. NV Nhiều nói gì với tên Việt Cộng, tôi nghe không rõ, chỉ thấy tên Việt Cộng nhìn NV Nhiều, thỉnh thoảng lại gật gù. Tôi đoán họ đã gặp và “thông tin” với nhau vài lần rồi, vì khi tôi thấy, hai người có vẻ biết nhau từ trước.

Tôi bàng hoàng, tự nhiên cảm thấy lạnh người. Tôi ngoắc Th/U Từ Hữu Mỹ lại, nói nhỏ:

– Thằng cha Nhiều là Việt Cộng Nằm Vùng. Vậy mà lâu nay tụi mình không biết.

– Đâu, tôi coi?

Th/U Mỹ nhìn qua lỗ khoá một chập, rồi quay qua tôi:

– Đ.M. Anh tính sao?

Th/U Mỹ chửi thề nho nhỏ, không nói gì thêm. Tôi cũng im lặng. Thực ra, ngay lúc đó tôi không cảm thấy sợ hãi chút nào. Tôi chỉ thấy hoang mang. Sự việc xảy ra quá sức bất ngờ, ngoài sự tưởng tượng của mình. Tại sao giờ này thằng cha Nhiều còn đứng kia? Anh ta là NV Thành Phố cơ mà? Tại sao anh ta không di tản? Anh ta không muốn đi, hay không đi được? Anh ta định làm gì? Chuyện gì đã xảy ra cho Đại Tá Thị Trưởng Vũ Duy Tạo? Nếu NV Nhiều biết có Th/U Mỹ và tôi đang đứng phiá sau cánh cửa này, quan sát anh ta qua lỗ khóa, không biết anh ta sẽ phản ứng ra sao, anh ta có “báo cáo cán bộ” có hai tên “Sĩ quan ngụy” đang ở sau cánh cửa, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho hai chúng tôi. Hàng trăm câu hỏi cứ xoáy trong đầu tôi lúc bấy giờ.

Khi tôi mới thuyên chuyển về Trường TSQ, NV Nhiều còn là Trung Úy, dạy Toán. Tôi chưa có dịp nào nói chuyện trực tiếp với anh ta, ngoài trừ vài lần gặp anh ta trên đường dẫn vào khu Văn Hoá, cả hai cười cười, gật đầu. Anh ta thân với Đại Úy Hồ Công Tâm[6], Cựu Trưởng Ban Văn Hoá. Về sau, anh ta ra ứng cử chức vụ NV Thành Phố. Đ/U Tâm nhờ nhóm Sĩ Quan trẻ chúng tôi vận động cho anh ta. Chính tôi đã cầm cả trăm cái business cards của anh ta, đi giới thiệu với mọi người quen biết, nào là ở tư gia, ở quán cà phê, ở tiệm cơm…những nơi bọn chúng tôi hay la cà, tán gẫu. Kết quả, anh ta đắc cử một cách vẻ vang. Hình như anh ta có số phiếu cao thứ nhì. Sau vụ này, chúng tôi vẫn không có được một lời cám ơn, một cái bắt tay, hay một ly cà phê. Mấy tháng sau, anh ta xin giải ngũ. Cuộc sống huy hoàng, thảnh thơi và quyền lực của một Nghị viên Thành phố bắt đầu. Mấy gia đình giầu và tai mắt ở Vũng Tàu, có con gái lớn, vồn vã anh ta ra mặt. Anh ta dựa dẫm Đại Tá Vũ Duy Tạo. Có lần anh ta theo Đại Tá Tạo đi “tham quan” Trường TSQ, không quên dắt theo mấy cô ả mặc áo dài. Tội nghiệp, lần đó cả Trường TSQ phải đứng dàn chào. Tôi biết anh ta muốn lợi dụng những dịp này để “lấy le” với chúng tôi. Chỉ có vậy thôi.

Vậy mà bây giờ anh ta đứng kia, áo sơ mi trắng, bộ điệu khúm núm, xum xoe, không đúng phong độ hay tư cách của một Nghị viên tí nào.

Tôi chán ngán quay vào. Tôi nói với anh An là tôi và Th/U Mỹ thấy NV Nhiều đứng ngoài đường, đang “báo cáo” với tên chỉ huy VC. Anh An có vẻ ngao ngán.

Trưa hôm đó, tôi chở mẹ tôi về lại Trại Cô Giang. Cửa đằng trước vẫn có ổ khoá nằm đấy, nhưng cửa sau đã bị ai đó phá hỏng và bên trong bị xáo trộn, một ít đồ bị mất. Nhưng không có gì quan trọng cả. Những ngày tháng sắp tới, nào biết cuộc đời sẽ trôi giạt về đâu, vậy thì, có gì để tiếc nuối đâu. Tôi chỉ thấy chán ngán và chấp nhận.

Tôi nhìn qua Trường TSQ, tất cả đều vắng vẻ, lạnh lùng, ngoại trừ cái cổng sắt to lớn bị hư hại. Đó là dấu tích của trái đạn B.40 do Việt Cộng bắn vào khi tấn công Trường, và đó cũng là trận chiến đơn độc, trận thử lửa đầu tiên, nhưng rất hào hùng của các em TSQ bé nhỏ, còn trong độ tuổi thơ ngây. Trận đánh này đã xảy ra từ buổi sáng đến buổi trưa ngày 30 tháng Tư khi tôi đang ở nhà anh An ở Phường Thắng Nhì [7].

Cũng trưa hôm đó, qua làn sóng Ðài Phát Thanh Saigon, TT Dương Văn Minh ban lệnh đầu hàng. Thế là hết.

Sáng ngày 1 tháng Năm, tôi ra “trình diện” sơ khởi ở Phường Thắng Tam. Trình diện xong, tôi xách xe Honda chạy lung tung quanh Vũng Tàu như một người mất trí.

Buổi tối hôm đó, tôi lại buồn tình xách xe chạy ra bãi trước. Đang đứng nhìn ra biển, tôi gặp Đại Úy Hoàng, Cán bộ Liên Đoàn Trưởng TSQ. Hai chúng tôi nhìn nhau, chỉ nhè nhẹ lắc đầu, không nói gì với nhau cả. Có vài chiếc tàu neo ở ngoài khơi, thật xa, thật xa.

Vài ngày sau, từ Trại Cô Giang, tôi nhìn thấy những chiếc xe tải quân đội Molotova chạy vào trường TSQ, chất đầy đồ đạc và giường sắt (loại giường của quân đội Mỹ), chở về đâu không biết. Trường TSQ có khoảng 2 ngàn chiếc giường như vậy, để cho các em TSQ sử dụng. Những chiếc xe Molotova chạy ra chạy vào nhiều chuyến để chở “chiến lợi phẩm”. Lúc đó, không còn một em TSQ nào trong Trường. Chỉ cần nửa ngày, trường TSQ đã được “dọn” sạch sẽ. “Tàn dư Mỹ Ngụy” được phân tán nhanh chóng, có thể ra cả tới miền Bắc.

Mấy ngày sau, tôi gặp Chuẩn Úy Lâm A Mạ (AET) mua cuốc xẻng ở tiệm làm đồ sắt của anh An ở ngã tư Bến Đình. Ch/U Mạ đang chuẩn bị cho những ngày tháng mới và những công việc mới. Còn Chuẩn Úy Khôi (cũng là AET) đang chăm sóc cái quán Mưa Rừng với bà vợ thứ hai ở gần Trường TSQ.

Qua ngày hôm sau, có hai ba tên Việt Cộng, đội nón cối, vác AK đến nhà tôi, “ra lệnh” tôi chỉ được ở trong Trại Cô Giang vài ngày nữa, rồi phải dọn đi, trả nhà cho “Cách mạng”.

Sau khi nghe tin Cầu Cỏ May đã được sửa lại, Th/U Mỹ và vợ đã từ giã mẹ con tôi về Bình Dương, gửi lại chiếc xe đạp mini. Hai hôm sau, bà mẹ vợ đã đến lấy về.

Trại Cô Giang ngày càng vắng vẻ. Tôi chần chừ ít ngày nữa. Sau cùng, mướn một chiếc xe tải nhỏ, dọn về Sàigòn. Tôi đưa mẹ tôi về “tạm giữ” căn biệt thự nhỏ trong Cư xá Phủ Tổng Thống cạnh cầu Sàigòn. Căn biệt thự này làm chưa xong. Nền nhà chưa được lót gạch. Cửa sổ chưa có, ngay cả cửa chính cũng chưa có khoá. Sân vườn toang hoác. Chồng của bà chị họ tôi là Đ/U Nha sĩ Phủ Tổng Thống, mua đất ở đây xây biệt thự. Xây chưa xong, Việt Cộng ập tới. Trong khi tôi và mẹ tôi không có chỗ trú ngụ, nên nhận làm “quản gia” thật đúng lúc.

Căn biệt thự tôi ở gần ngã tư. Bên trái là biệt thự của một Trung Tá Nha Quân Pháp (quên tên). Đối diện có một ngôi chùa nhỏ. Khoảng một trung đội VC đóng trong ngôi chùa này. Chúng đặt trạm gác, kiểm soát người qua lại. Trong căn biệt thự “không có cửa nẻo”, tôi vội vã đốt hết mọi giấy tờ và hình ảnh. Chỉ giữ lại cái Thẻ Sinh Viên Luật Khoa năm I có hiện lực đến cuối năm. Không ngờ đó lại là bùa hộ mạng của tôi.

Từ bên chùa, sáng nào cũng có 3-4 tên qua nhà tôi chơi. Chúng cứ nghĩ tôi là sinh viên. Mấy ngày đầu tôi pha cà phê mời tụi nó uống “xã giao”. Tụi nó cứ khua tay “thôi, thôi”. Nhưng vẫn uống tì tì. Mấy ngày sau tụi nó “quen mui, thấy mùi…” qua nhà tôi hoài, nhưng tôi lại hết cà phê, hết sữa. Tụi nó quay qua hỏi muợn tôi chiếc Honda Dame chạy chơi quanh cư xá. Một hai lần sau tôi cũng kiếm cách từ chối, nói là hết xăng.

Ông anh tôi còn xây cái phòng vệ sinh đằng sau sân đậu xe. Phòng vệ sinh cũng chưa có cửa. Buổi sáng vài ba đứa nhăn nhó chạy vội qua nhà tôi, làm tùm lum. Mẹ tôi lại phải vất vả kỳ cọ, đến nỗi bà phải viết lên tường hàng chữ “người lịch sự nhớ dội nước”. Có đứa qua nhà tôi quát “Thím nói ai?”. Mẹ tôi tỉnh bơ trả lời “Nói người nào bất lịch sự đó.”

Sau 2-3 lần “tẽn tò”, đến cuối tháng Sáu, 1975, tôi từ giã mẹ tôi, lên đường “đi học”. Vì lỡ trình diện ở Vũng Tàu nên tôi phải ra đấy để đợi “đi học”, mặc dù tôi đã về Sàigòn. Thoạt đầu, tôi được đưa đến Long Thành, ở trong doanh trại của một đơn vị Công Binh cũ, cách Suối Tre khoảng một tiếng đi bộ. Tại đây, tôi lại bị kinh ngạc một lần nữa khi gặp NV Nhiều. Chắc hẳn anh ta đã bị Việt Cộng “sa thải”, không còn được tin dùng nữa. Khi trái chanh đã được vắt kiệt, bây giờ chỉ còn việc vứt vào thùng rác, không thương tiếc.

Lần đầu gặp tôi tại đây, có lẽ thấy tôi quen quen, anh ta nhe răng cười. Tôi phớt lờ. Tôi nhớ chỉ gặp anh ta 2-3 lần, vì ở hai C khác nhau. Rồi sau đó, qua những lần chuyển trại, không biết anh ta ra sao, về đâu.

Cuối năm 1993, tôi và gia đình qua Mỹ theo diện HO. Một hôm đi khám răng ở LB, ông bố cô Nha sĩ, kiếm mối cho con, đến chở gia đình tôi, sau khi biết tôi ở trường TSQ, hỏi tôi có biết NV Nhiều không. Ông nói ông là anh em cột chèo với NV Nhiều, hiện NV Nhiều cũng đang ở L.B. cùng với bà vợ Nha Sĩ (?). Tôi giật mình và quá sức ngạc nhiên. Vậy là anh ta đã sang Mỹ sớm hơn ai hết. Không biết anh ta đã bị “ở tù” bao lâu? Không biết anh ta sang Mỹ theo diện gì? (HO, ODP, vượt biên, con lai, hay bảo lãnh). Ông ta nói với NV Nhiều là tôi và gia đình mới qua, và nói là NV Nhiều sẽ ra mừng chúng tôi. Hôm sau, ông ta nói với tôi là NV Nhiều xin lỗi, vì bận việc, không đến mừng gia đình tôi được. Tôi chắc chắn không bao giờ NV Nhiều muốn (hay dám) giáp mặt bất cứ ai ở Trường TSQ cũ, vì tự nhiên cứ thấy lương tâm mình hổ thẹn, mặc dù vẫn tưởng việc làm của mình không ai biết. Nhưng anh ta phải biết là dưới gầm trời này, không có chuyện gì bí mật cả, nhất là khi mình có tội. Tôi định kể chuyện cho ông ta nghe, nhưng lại thôi.

Mấy năm sau, một lần vô tình tôi gặp NV Nhiều ở VVH. Trong khi chờ “ông thầy” massage tới, anh ta lấy sách ra đọc ngay bên cạnh tôi. Có thể anh ta không nhận ra tôi (?). Tôi hỏi anh ta có còn nhớ ai ở Trường TSQ không, còn nhớ Đ/U Hồ Công Tâm không. Anh ta lắc đầu, trả lời yếu ớt: “Tôi quên rồi”.

Đã gần 40 năm trôi qua, chúng ta vẫn không thể quên được ngày Cộng quân cướp miền Nam, không thể quên được ngày chúng ta phải chịu nhận sự trả thù cay độc của chúng ở những trại tù, trong Nam cũng như ngoài Bắc. Có những chuyện dường như mới xảy ra ngày hôm qua, ngày hôm nay, hay mới tức thời. Làm sao quên được. Bây giờ, có những đêm ngủ, chúng ta còn bị những cơn ác mộng ám ảnh, có khi vẫn thảng thốt ngồi dậy, nhìn quanh, căm phẫn, bàng hoàng.

Tuyệt nhiên tôi không có một hiềm khích hay tư thù cá nhân nào đối với NV Nhiều. Nhưng xét ra, anh ta đã bôi lọ thanh danh cao quý của người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã “đâm sau lưng các chiến sĩ”, đã “ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản”, đã cúi đầu làm tay sai chỉ điểm cho bọn Việt Cộng khi chúng xua quân cưỡng chiếm miền Nam. Có thể anh ta là Việt Cộng nằm vùng, và cũng có thể anh ta chỉ là thứ 30 tháng Tư tép riu đón gió trở cờ. Sau khi cháy nhà, đã có những con chuột xấu xí ra mặt. Những con chuột đã làm náo loạn, và gây kinh hoàng cho mọi người một thời gian lâu dài.

Những kẻ phản bội, nhất là phản bội tổ quốc, vẫn thường có nhiều thủ đoạn tráo trở, lừa bịp, luồn cúi, hèn hạ. Phải nói ra để nhận diện, tẩy chay.

Đã gần 40 năm qua, tôi định không kể chuyện này. Nhưng nếu vậy, lịch sử dân tộc sẽ mất đi sự công bằng. Trong khi bao nhiêu người con thân yêu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ chính nghĩa tự do trên từng tấc đất, có kẻ đã lợi dụng, sống ích kỷ, phè phỡn, bon chen, lúc nào cũng muốn đè đầu đè cổ người khác. Đến khi đất nước gặp nạn, những kẻ đó lại đang tâm làm ngơ, phủi tay, phản bội, và trốn chạy trước hơn ai hết. Phải nói ra để lương tâm được ngủ yên, mặc dù đã quá muộn màng.

Hà Việt Hùng

Chú thích:

[1] Sau khi Trường TSQ Cao Nguyên (Pleiku) sát nhập vào Trường TSQ Vũng Tàu, trường này đổi tên là Trường TSQ Việt Nam. Khi tôi thuyên chuyển về đây cuối năm 1973, Trường đã có tên này rồi.
[2] Bình thường, quân số TSQ vào khoảng 1400-1500. Trước tháng Tư 1975, Trường đã cấp giấy phép cho trên 1000 em có gia đình ở Sàigòn và các vùng phụ cận, Vùng 3 và Vùng 4 được về nhà.
[3] Đ/U Ân thay thế Đ/U Hồ Công Tâm khoảng gần một năm trước đó. Vợ ông là chị bà con bên ngoại của tôi.
[4] Th/U Mỹ trước dạy Anh Văn ở Khối Văn Hoá, sau đổi qua Khối Quân Sự.
[5] Đã đổi tên (TG).
[6] Sau năm 1983, tôi gặp ông Tâm ở Sàigòn, ông nói “ông không thích Mỹ”. Trước 75, ông đã du học Mỹ 2 lần do Quân đội gửi đi. Nếu muốn đi, ông đã đi vào ngày 30 tháng Tư, 75. Sau đó tôi không có dịp gặp ông nữa.
[7] Trận đánh này đã được hai Cựu TSQ Lớp 12 Nguyễn Anh Dũng và Lâm A Sáng thuật lại trong “Trận chiến bi hùng cuối cùng của TSQ Vũng Tàu 1975” in trong cuốn Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử (Việt Nam 2003).

This entry was posted in * Mùa QUỐC HẬN, Hồi-ký - Bút-ký. Bookmark the permalink.