TÌM LẠI DẤU XƯA (Hồ Phú Bông)

cnt_timlaidauxua

Trước ngày 30-4 năm nay, HH và tôi về thăm quê hương. Chuyến thăm quê với ý muốn tìm về. Thăm lại chốn cũ. Thăm dấu vết xưa. Thăm lại cha mẹ, anh em, bè bạn. Từ trên máy bay nhìn xuống đã thấy bâng khuâng. Kỷ niệm cứ như chờ chực, vỡ bờ! Thấy biển. Thấy đất. Thấy người. Gần đó mà xa đó. Xa đó mà gần đó.

Chuyến bay hạ cánh về đêm. Ánh đèn thành phố mờ đục. Có phải vì chúng tôi nhòe nước mắt, sương mù, không khí nhiều độ ẩm do thời tiết, hay thành phố bị ô nhiểm môi trường nặng?

Hai tay tôi xách hai cái túi còn HH thì cầm giấy tờ. Vừa bước vào làm thủ tục nhập cảnh chúng tôi đã thấy ngay cái khác biệt với các nơi chúng tôi đã từng đi qua. HH và tôi sắp hàng, rồi vào cổng số 15. Ông công an đang ngồi lọt thỏm trong cái bàn giấy lớn, được bọc kín chung quanh. Mặt bàn thì sâu hẳn bên dưới, không thể nhìn thấy cũng như không thể vói xuống được. Qua ô cửa sổ nhỏ, trông ông giông giống như nhân viên ngân hàng ở một nơi đầy nguy hiểm (cần an ninh và bảo mật!). Nhiều nơi chúng tôi đã đi qua, thủ tục trình báo khá đơn giản. Nhân viên tiếp khách lúc nào cũng nở một nụ cười rất thân mật trước khi hỏi ngắn gọn. Thái độ và ngôn ngữ thật lịch sự, nhã nhặn. Khi hoàn tất thủ tục bước qua cửa khách còn nghe được lời chúc tốt đẹp trong chuyến đi. Ở đây, ông công an thật nghiêm nghị. Khuôn mặt thô cứng và nhám. Trông như một bức tượng gỗ được chạm bởi một tay thợ tồi. Ngôn ngữ thì tiết kiệm đến từng âm tiết. HH trình hai cái passport và visa. Ông ngước lên nhìn chúng tôi rồi đưa tay đẩy trả lại. Ông chỉ ngón tay trỏ vào chúng tôi. Gọn lỏn:“Hàng một”

Chúng tôi ngỡ ngàng, quay lại hàng thì mới kịp hiểu được ý ông. Rồi phần ai nấy lo. HH đẩy tôi vào lại trước. Tôi gặp chút khó khăn, hai tay bị kẹt hai cái xách, áo không có túi, nên đành ngậm cái passport và visa trên miệng. Ông xem kỹ hình tôi trên passport rồi nhìn chăm chăm lên mặt. Tôi có chút căng thẳng. Khi còn ở trên máy bay chúng tôi đã sắp xếp, vì có thể công an đã theo dõi và biết bút hiệu của tôi trên một số báo chí. HH biết sẽ phải làm gì nếu tôi bị giữ lại, trục xuất hay bị vu cáo về hành vi chính trị, vì ở đây là một nơi mà bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra, khi “pháp luật là miệng tao” như lời một quan lớn công an đã phán với dân làng Nguyệt Biều ở ngoại ô Huế trong vụ Linh Mục Nguyễn Văn Lý ! Tình cảm tìm về một nơi chốn cũ chợt lạnh đi. Chỉ mới thủ tục sơ khởi, đã cho chúng tôi biết, thật khó tìm lại được quê hương! Vừa giáp mặt với một ông công an thôi mà đã bị nhìn soi mói như một tội phạm thì trái tim làm sao không bị thương tích. Để biết rõ thêm lý lịch tôi, ông phán cộc lốc:“Quê quán(h)?”

Nghe cái giọng Bắc rặt, nhấn mạnh vào chữ cuối, tôi muốn nổi da gà. Cứ tưởng khuôn mặt khó ưa của tôi làm ông không có cảm tình nên mới cư xử như vậy, nhưng HH, một khuôn mặt thật hiền lành, khả ái, cũng bị như tôi. Thế mà chính quyền Việt Nam nói họ đã “đổi mới” từ năm 1986.

Nơi xuất nhập cảnh phải giao tiếp với đủ loại người, màu da, quốc tịch, nên nhân viên phụ trách không còn là cá nhân mà là nét văn minh, văn hóa một dân tộc. Với cách hành xử như vậy thì hình ảnh đất nước sẽ còn lại gì, trong và sau cuộc viếng thăm?

Chúng tôi tự an ủi, có thể chỉ vì HH và tôi không có đô la kèm trong tờ passport (?)

Lúc làm thủ tục hải quan, tôi trình tờ khai quan thuế cho ông công an phụ trách khám hành lý, rồi chất hết lên thang lăn để qua máy rà xét. Ông vờ như lơ đãng. Hành lý của chúng tôi chẳng có gì nhiều. Tiền đem theo cũng không bao nhiêu. Theo lời dặn của người em, tôi nhờ ông đóng dấu. Ông cầm hai tờ giấy khai quan thuế màu vàng, lắt lắt, phân vân, rồi hỏi lại tôi: “Đóng dấu để làm gì?” – “Tôi cũng chẳng biết. Em tôi cho hay nếu không có con dấu trên giấy thì không thể mua chút hàng miễn thuế ở inter-shop”

Ông định nói gì đó nhưng lại thôi, rồi đóng dấu, trả lại tôi. Tôi nói “Cám ơn” nhưng ông tỉnh bơ nhìn người kế tiếp.

Đẩy xe ra được bên ngoài tôi không cảm thấy nóng như dự báo thời tiết cho biết. Có thể phải vật lộn với số hành lý nên người tôi ướt mồ hôi, cơ thể nóng hơn nhiệt độ ngoài trời. Cái đầu tiên HH và tôi nhận được là nụ hôn đằm thắm của gió. Thời tiết Sài Gòn có nóng mấy đi nữa, nhưng những ngọn gió đêm trên đường phố vẫn luôn luôn cho một cảm giác lành lạnh, thật dễ chịu.

Mọi chuyện đã đổi thay nhưng ngọn gió đêm Sài Gòn vẫn còn đây. Kỷ niệm chợt ùa về.

Lố nhố người. Mấy đứa em chạy đến đón. Tôi chỉ nhận ra được mấy đứa cùng thế hệ, còn lớp sau, lạ hẵn như những người chưa quen biết. Em gái tôi lên ngồi chung xe để chỉ đường. Thành phố đã về khuya nhưng lượng xe vẫn thật đông. Chiếc taxi luồn lách thật tài tình. Cho dẫu gần hai mươi năm lái xe ở xứ người tôi chưa bao giờ bị tai nạn hay bị phạt nhưng tôi biết, chắc chắn, tôi không thể nào lái ở đây được. Thành phố như chật lại và cao hẵn lên. Những bảng hiệu, những đèn màu trang trí, cứ loáng thoáng hai bên. Tôi đang trở về đây, trên một thành phố lạ. Tôi đang đi trên những con đường lạ hoắc nhưng nhờ cô em gái ngồi bên giải thích, chính những con đường nầy, ngày xưa, tôi đi về từng buổi đến mòn cả vỏ xe và ngày đó nhớ cả từng trụ cột đèn! Hỏi chuyện anh tài xế mặc đồng phục, tôi lại ngạc nhiên. So với ông công an trong phi trường thì anh tài xế nầy là người rất lịch sự, lễ độ, có tư cách hơn nhiều.

Đến đường Thoại Ngọc Hầu, rạp ciné Đại Lợi vẫn còn đó nhưng khu nghĩa địa thật lớn đối diện biến mất, thay vào là một cái chợ thật lớn và những dãy nhà lầu san sát. Ngày trước khu vực nầy thật vắng, trẻ con thường tụ tập trong nghĩa địa để thả diều. Tôi còn có thể nhớ được tên hai nhà hội: Nghĩa Trang Tương Tế Sa Đéc và Hội Tương Tế Bến Tre. Ngày ấy, đêm đêm vẫn nghe tiếng chuông chùa Hải Quang thật u trầm, tĩnh mịch. Chợt nghe tiếng em tôi nói: “Tới rồi”. Tôi ra khỏi xe, xoay một vòng 360 độ để định hướng tìm căn nhà cũ nhưng đành chịu, không thể nhận ra, cho dù căn nhà gần như không thay đổi, vẫn nằm trong một góc khuất ở một ngã ba. Em tôi tiếp: “Có lẽ tại ban đêm trời tối nên anh chị không nhận ra”.

Bụi hoa biện lý bên góc nhà ba má tôi không còn nữa. Bà Tư già thường ngồi dưới bóng râm của nó với mẹt hàng, mấy trái chuối, vài cái kẹo, cũng đã chết mười mấy năm rồi. Căn nhà chiếm hai lô đất sát vách nhà ba má tôi, của một đôi vợ chồng trẻ đã di tản trước ngày 30-4, lúc đó vừa trồng một cây xoài nhỏ ở góc sân. Chủ nhân mới bây giờ là ông K (cán bộ ở ngoài Bắc vào). Căn nhà đã biến thành một ngôi biệt thự tráng lệ, hai tầng, mà chỉ việc chuyên chở vật liệu xây cất đã làm tắt nghẽn và xáo trộn toàn bộ sinh hoạt dãy phố cả ngày lẫn đêm hơn 3 tháng dài! Mặt tiền có cửa lớn để xe hơi ra vào, có cửa nhỏ kế bên cho xe gắn máy, nhưng suốt ngày vắng bóng người và cửa luôn luôn đóng im ỉm. Lưới B-40 rào cao quanh nhà, che cả lầu 2. Ngôi biệt thự tự cô lập như một pháo đài. Người nhà kể: “Thế mà thỉnh thoảng vẫn bị những bọc nylon cứt quăng qua khỏi hàng rào, rớt tận ban công lầu 2 nhưng họ đành im lặng, không dám lên tiếng. Sự im lặng của họ ở đây không phải là cách cư xử của người có văn hóa, mà lo sợ lãnh thêm hậu quả, không thể truy tìm được thủ phạm!”. Cây xoài con ngày trước đã to lớn sum suê quá đỗi. Nhiều nhánh vươn qua khỏi rào, khoe trái như mời gọi trẻ em trong xóm.

Anh taxi trẻ đưa HH và tôi ra bến xe để đi Đà Lạt. Sáng hôm trước, đứa cháu đã mua sẵn 2 vé hãng xe Thành Bưởi, chỉ 70.000/vé (tương đương 4 đô la rưởi). Kinh nghiệm người nhà cho biết nên đi xe đò loại lớn thay vì mướn xe riêng, vừa tiết kiệm, vừa an toàn và thỏa mái hơn. Khi đến nơi thì dùng taxi. Còn xe đò loại 12 chỗ ngồi, chạy nhanh nhưng thường xảy ra tai nạn. Lộ trình ra bến xe tôi biết. Từ nhà ra Nguyễn Văn Thoại, quẹo trái Trần Quốc Toản, quẹo mặt qua Petrus Ký nhưng anh taxi chạy đường khác. Từ Thoại Ngọc Hầu-Lê Văn Duyệt-Cư Xá Bắc Hải, rồi Tô Hiến Thành đến Petrus Ký (tất cả đều tên đường cũ). Đường nào tôi cũng biết nhưng đường nào tôi cũng không thể nhận ra. Những con đường chắc chắn nguyên vị trí cũ, chỉ có thay tên, nhưng sao lạ lẫm đến không thể nào ngờ! Tôi hỏi tên đường cũ, anh taxi ngớ người: “Cháu không biết” – “Như vậy cháu thuộc lớp trẻ. Cháu thấy đời sống bây giờ có dễ chịu không? Chúng tôi ở xa về nghe nói nạn tham nhũng, hối lộ tràn lan ở Việt nam, dẫn đầu là công an”. Như bắt đúng tần số. Anh taxi phát thanh rôm rả. Sôi nổi đến độ HH phải chen vào lái câu chuyện sang hướng khác, vì sợ bị công an giả dạng để “chụp đầu bọn phản động”. Anh taxi cho biết sự hận thù của người dân, và “mọi người” đều chờ đợi để “làm cỏ bọn nó” khi cơ hội đến! Tôi không nghĩ anh taxi nói đùa để làm vui lòng khách, kiếm thêm chút tiền tip. Anh nói với dẫn chứng cụ thể về hai vụ đánh nhau giữa dân chúng với công an vừa xảy ra ở Sài Gòn và Hà Nội. Đó như là một minh chứng về “mọi người”!

Xe đò đi Đà Lạt sạch sẽ, thanh lịch. Ghế ngồi rộng. Có máy lạnh, riềm cửa và nhạc. Cái thích thú ở đây là được ngồi trên cao nên tầm nhìn thoáng, giúp chúng tôi có dịp tốt để quan sát. Còn thời gian, không quan trọng. Hai đứa cháu sinh viên sợ chúng tôi lớ ngớ khi đi, nên cũng tháp tùng và tiện thể về thăm nhà. Chúng ngồi ngay phía sau, cũng có cell phone, nhưng (có lẽ) sợ HH và tôi, nên không thấy nói cười và khá im lặng! Thỉnh thoảng HH quay ra sau trao thêm mấy cái kẹo gum, cô cháu mới lí nhí với nhau mấy câu.

Bỏ lại đoạn xa lộ Biên Hòa-Hố Nai đầy bụi phía sau. Đến ngã ba Dùi Giây (nơi mà phóng viên báo Tuổi Trẻ trước đây đã phổ biến một số ảnh săn được cảnh công an đang nhận hối lộ nửa khuya với đủ loại xe qua lại) còn thật nhếch nhác. Ngày trước tôi rất thích đoạn đường hai bên luôn rợp bóng cây xanh nầy. Quốc lộ 20 như cây cầu thơ mộng nối liền giữa nắng nóng miền xuôi với thiên nhiên mát lạnh, êm đềm miền cao nguyên. Đây cũng là nhịp cầu tình yêu của HH và tôi.

Dù cảnh cũ rất nhiều đổi thay nhưng màu xanh bạt ngàn vẫn còn đó. Những đồi chuối xa xa, những tảng đá xanh xám bên đường, những thân cây đứng trơ trọi, nét phong trần lem luốc của những dân quê, cho tôi ấm lại chút tình quê mộc mạc. Chỉ tiếc đây là dịp gần 30-4 nên suốt lộ trình quá nhiều cờ búa liềm và đỏ sao vàng, dài lòng thòng, ngúng ngoẫy, được treo xen kẻ trên các trụ đèn đường trong các thị trấn (nhiều nhất là khu vực Dốc Mơ-Gia Kiệm). Cộng Sản Việt Nam đã tự hào “không ai có thể cản nổi bánh xe lịch sử”, thế nhưng đất nước đã khai sinh ra cờ búa liềm, đã quẳng nó vào thùng rác của lịch sử không thương tiếc, còn Việt Nam thì vẫn đem khoe (hay hù?)! Dọc đường, những khu phố, những thôn xóm, những xã, những quận lỵ nhan nhãn khẩu hiệu: “Thôn Văn Hóa”, “Xã Văn Hóa”, “Khu Phố Văn Hóa”, đôi khi chỉ thấy có cái cổng mang khẩu hiệu đỏ chói đứng chơ vơ giữa lối mòn dẫn vào những mái lá xơ xác, lưa thưa.

Thông thường cái gì không có thì mới đưa lên làm khẩu hiệu để kêu gọi. Hiểu như vậy thì thật là chua xót!

Đèo Chuối không khác ngày xưa mấy. Lên đến giữa đèo Bảo Lộc khí hậu chợt thay đổi. Lành lạnh. HH khoát thêm cái áo. Chúng tôi nắm tay nhau, cùng nhìn qua cửa sổ. Những lũng sâu, những khe, suối. Rồi những đồi trà với công nhân, bao bị. Ký ức rào rạt quay về.

Xe ngừng ăn trưa ở Bảo Lộc. Kêu thức ăn cho hai đứa cháu, còn HH và tôi đã thủ sẵn mấy ổ bánh mì đem từ nhà, không dám ăn dọc đường vì sợ bị đau bụng. Ba cô cháu lựa mua trái cây. Giá cả không mắc lắm với Việt Kiều nhưng chắc chắn rất khó khăn với người dân bình thường . Trên xe không thấy ai mua, chắc chỉ có khách về Sài Gòn, còn chúng tôi thì đi ngược đường nên chẳng ai mua chăng?

Thác Prenn mất đi nhiều cảnh thiên nhiên. Ngôi chùa nhìn qua thác, trước kia đẹp kiểu thôn dã, sơ sài, thật thu hút. Còn bây giờ, xây cất, tô điểm thêm nhiều, màu vàng sáng chói. Prenn như hẹp lại và xấu đi.

Không phải chỉ có Sài Gòn mới nhung nhúc người nhưng hình như ở mọi nơi cũng đông hơn. Độ ô nhiễm rất cao. Có thể tới 2/3 người dùng vải che mũi miệng khi chạy xe 2 bánh. Ngay cả Đà Lạt, ngày trước là một thành phố nằm êm đềm giữa thiên nhiên trong lành, giờ đây cũng không còn là biệt lệ. Nghĩ đến Đà Lạt, HH và tôi không giấu được cái nao nức. Cái nao nức của những kẻ yêu nhau, rồi lận đận, rồi thăng trầm, nay trở về tìm lại từng dấu vết kỷ niệm của tháng năm hò hẹn.

Đường dẫn vào thành phố Đà Lạt bây giờ, được chia làm hai làn xe, trồng hoa ở giữa. Thành phố như một cô dâu tái giá, đang trang điểm lại. Cái gì cũng có vẻ khoe khoang.

Cổng viện đại học Đà Lạt ngày trước đơn giản, chỉ có hai trụ hai bên. Một bảng tên nhỏ khắc bằng đá gắn một phía. Lối đi vào thường vắng như đi vào một tu viện. Nét đơn giản, đẹp, và trang nghiêm kiểu phương Tây đó đã mất. Bây giờ trước cổng có thêm hai dãy nhà với quảng cáo và dịch vụ. Một khẩu hiệu giăng ngang cổng như đập vào trán. Lối đi thoáng đã bị đóng kín. Viện đại học Đà Lạt ngày xưa là cái huy hiệu tròn, nhỏ, có cây thông và chữ Thụ Nhân, HH thường đeo trên cổ tay áo lạnh, là giảng đường Spellmann, là những bậc tam cấp giáo đường nơi cao nhất, ở đó HH và tôi từng ngồi nhìn những đám hoa quì dại vàng rực, nhìn về đường đi Đa Thiện, Thung Lũng Tình Yêu… Tôi đưa máy chụp mấy tấm ảnh rồi nghĩ sao lại xóa đi. Ở đây không còn là viện đại học ngày xưa nữa. Tôi là kẻ xa lạ tại một nơi chốn cũ thân quen! Nhìn về hướng đồi Cù, mấy gốc thông già nơi tôi đã dựng xe gắn máy, ngồi đợi HH tan học, nhìn những lối mòn viền cỏ, ngoằn ngoèo chạy xuống lũng xa rồi lại ngược trở lên lưng chừng đồi để cuối cùng gặp đường vòng hồ Xuân Hương… Tất cả đã mất. Một hàng rào lưới màu xanh đã nhốt đồi Cù lại bên trong. Hai cái tên Đồi Cù-Hồ Xuân Hương như tên của đôi tình nhân khắc lồng vào nhau, đan kết với cây cỏ thiên nhiên, giờ đây chỉ còn lại Xuân Hương lẻ loi. Đồi Cù, như tên những chàng trai thời chiến một thời tề tựu về đây, đã chết trong các trại cải tạo, chết sông, chết biển, chết rừng, hay bỏ đi biền biệt. Hồ Xuân Hương còn lại như giọt lệ đợi chờ! Đồi Cù đã là dĩ vãng. Đồi Cù ngày nay là hàng triệu đô la bán cho ngoại quốc. Đà Lạt mất đồi Cù. Xuân Hương mất đồi Cù. Những biển quảng cáo du lịch mất đồi Cù. Xuân Hương ơi!

Hàng rào đã khép lại. Đã cắt chia dĩ vãng và hiện tại.

Buổi chiều, HH và tôi lội bộ đến Domane de Marie như đếm bước thời gian. Ngừng lại đôi phút trước hang đá tượng Đức Mẹ, mà ngày trước mỗi lần HH đi ngang qua đều được các Sơ dạy làm dấu thánh. Bậc tiểu học mấy anh em HH học ở đây. Là con nhà nghèo, học giỏi nên được các Sơ rất thương. Dịp Noel mấy Sơ may cho mỗi đứa một cái áo đẹp đem về khoe cha mẹ. HH kể lại hàng trăm kỷ niệm, mỗi nơi một nỗi nhớ. Những lần HH nhận phần thưởng, những lần trình diễn văn nghệ, những ấm sữa các Sơ đem cho mấy anh em vào những buổi trưa… HH đưa tôi vòng ra phía sau, nơi mà những buổi trưa nghỉ học hai người anh thường leo rào trốn ra rừng hái trái đem về chia cho em gái. Dãy nhà 2 tầng ký túc xá của bọn con trai vẫn còn đó nhưng hình như hoang phế. (Vì thế đất dốc nên nơi chúng tôi đứng ngang tầm tầng trên), không nhìn rõ được tầng dưới. Hàng rào đầy cả dây lá rừng. Cánh cổng khóa đã rỉ. Điều ngạc nhiên là có một ngôi sao vàng thật lớn đang nằm nghiêng ngửa trên mái ngói đỏ rêu phong, đầy xác lá. Chắc hẳn đây là tác phẩm “ấn tượng” của những ngày 30-4 còn sót lại (chưa thể đem cờ đỏ sao vàng vào gắn ngay nơi cửa tu viện, thì gắn trên nóc nhà nầy liếc sang tu viện vậy!). Khung cảnh chung quanh thật vắng vẻ. Chúng tôi bước vào tu viện. Đang lúc có lễ chiều nên đứng bên ngoài nhìn về phố. Ở đây HH và tôi có thể thấy Hội Thánh Tin Lành trên đường Hàm Nghi cũ và nhà cửa lố nhố ở trung tâm thành phố Đà Lạt trong mờ nhạt nắng hoàng hôn.

Đứng giữa bùng binh chợ Đà Lạt tôi muốn ghi lại một số hình ảnh, nhưng xoay vào phía nào cũng bị lướng vướng những khẩu hiệu đỏ, những lá cờ đỏ. Xoay ngược qua hướng nhà thờ Con Gà thì vướng cái tháp Eiffel bưu điện. Tháp chuông thập tự giá nhà thờ nổi bật trên những ngọn thông xanh không còn nữa. Tháp chuông bây giờ như thấp hẵn xuống nhường chỗ cho ngọn tháp cóp nhặt vươn cao (phải chăng đây cũng là một dụng ý?). Tấm biển lớn “Đà Lạt Ngàn Hoa”quảng cáo cho một lễ hội vừa qua, giấy đã bong, rách lòng thòng. Chân cầu thang, nối từ bến xe Minh Trung lên ciné Ngọc Lan (cũ) nồng nặc mùi nước đái. Hình như cả khu vực không có nhà vệ sinh.

Nhà trọ ở cuối đường Hoàng Diệu nên ra thác Cam Ly thật gần. Thác vắng khách. Một người thợ chụp ảnh tiến lại gần với xấp ảnh quảng cáo cầm trên tay, thấy tôi đang móc cái máy Digital ra, anh lặng lẽ bỏ đi. Đứng ở đầu thác, HH và tôi không còn nghe nước đổ (có thể vì đang gặp hạn hán trầm trọng nên thiếu nước). Nhiều cảnh được dựng sẵn mang hình bóng sơn cước: nhà sàn, con trâu, người thượng vạm vỡ đóng khố đeo cái gùi có cung tên, chim ó, cầu tre… Một cô còn trẻ, mặc xà rông, đi chân trần móng đỏ, mang trên vai cái gùi, đang đổ mồ hôi để ông thợ chụp hình chọn kiểu. Một người dắt hai con ngựa ốm đã thắng yên đứng nhìn, người khác loay hoay với cái túi đồ trang điểm. Chắc hẳn đây là ê kíp phục vụ cho cô Việt Kiều đang đóng vai sơn nữ, còn anh chồng (hay kép?) lớ ngớ xa xa. Tôi bước lên cây cầu nối liền giữa hai bờ thác nhìn xuống, dòng thác chảy thật yếu, nước màu rêu đậm, bốc mùi, nên phải quay mặt tránh hướng gió.

Về lại lối cũ một đoạn ngắn, chúng tôi theo đường tắt lên trên đỉnh đồi, nơi đây trước kia là một trung tâm Tin Lành lớn. Ngôi nhà thờ kiến trúc mang nhiều nét của đồng bào thiểu số vẫn còn đây, nhưng bị rào kín bằng kẽm gai, thật sát vách, chỉ chừa độc nhất một cái cửa nhỏ để vào, đang khóa. Tôi lắt lắt ổ khóa, đứng phân vân. Phân vân như cái nắng chiều nhàn nhạt chưa muốn vội chia tay một ngày. Tôi muốn hỏi một ai đó nhưng chung quanh không một bóng người. Ngôi nhà thờ như cái bóng của quá khứ còn tồn tại giữa một khung cảnh đã đổi thay. Một dãy nhà quét vôi vàng có mấy câu khẩu hiệu. Đây là trường dạy và thi lái xe tỉnh Lâm Đồng. Mặt đất quanh nhà thờ đầy những đường vẽ, những cọc, những que và ký hiệu. Tôi trở về theo đường chính, Nguyễn Khuyến.

Vẫn lan man, tại sao phải rào kín một ngôi nhà thờ! Nơi gìn giữ căn bản đạo đức cho xã hội, nơi trú ngụ thiêng liêng của con người sao lại nhốt trong vòng rào kẽm gai?

Đêm cuối ở Đà Lạt, chúng tôi đi dạo phố. HH và tôi đã tay trong tay đi khắp hang cùng ngõ hẻm của Đà Lạt về đêm, từ lúc còn hò hẹn. Với tôi, những ổ bánh mì que nóng hổi của tiệm bánh mì Vĩnh Chấn, hay những gói đậu phụng rang đút trong túi áo ấm, vừa đi vừa móc ra ăn là Đà Lạt về đêm, chứ không phải từ tiếng nhạc rập rình với ánh đèn màu nơi những quán nhạc. Những đêm có trăng, ngồi tựa vào nhau trên thành gỗ những chiếc cầu làm nhô ra trên mặt hồ Xuân Hương, nhìn những mảng sương mỏng từ từ tụ vào nhau, rồi lan nhẹ trên mặt nước là những phút giây thật êm đềm. Mộng ước kẻ yêu nhau đôi khi thật bé bỏng như những giọt sương long lanh, nhưng đó là những giọt sắc màu đẹp kết tụ của bức tranh tình yêu.

Chúng tôi đón xe ra Thủy Tạ, để tiết kiệm sức khoẻ cho đôi chân, trong những bước lang thang. Phố đêm nhộn nhịp, những dòng xe xuôi ngược không dứt. Cái vắng vẻ trữ tình không còn nữa. Thôi thì cứ nhập vào dòng người qua lại. Thủy Tạ còn đó. Quán nhạc có cho thuê xe đạp nước bên mấy gốc thông già còn đó. Biệt thự Hai Trang còn đó nhưng đã biến thành khách sạn. Khu đất trống trước chỗ đường quẹo lên nhà thờ Con Gà và dọc suối ấp Ánh Sáng đã trở thành khu thương mại nhiều tầng lầu nhộn nhịp. Nơi cầu Ông Đạo có mấy người câu cá trộm công khai, được nhiều người xúm lại xem. Họ câu bằng một chùm lưỡi câu, không có mồi. Mấy con cá màu bạc khá lớn, bỏ dưới gốc thông kiểng gần đó, đang giãy đành đạch. Khoảng đường rộng trước chợ Đà Lạt đầy những gánh hàng đêm, những ghế bàn dã chiến, bày bán đủ thứ thức ăn. Chúng tôi bị mời chào liên tục. Quanh khu Hòa Bình tối thứ Bảy và Chúa nhật từ 7 đến 10 giờ được cô lập để làm “Phố Đi Bộ” do đó tất cả các loại xe đều bị giữ lại bên ngoài. Chúng tôi đang lang thang đến đầu đường Duy Tân, cạnh tiệm bánh mì Vĩnh Chấn cũ, thì thấy một xe jeep công an đang chạy lòng vòng trong khu Phố Đi Bộ trờ tới. Một ông công an nhảy xuống xe, nói oang oang, trông thật oai vệ: “Đéo mẹ thằng nào ở đâu? Còng đầu cho chúng biết”. (Có lẽ có sự cự nự nào đó giữa người gác đầu đường và người chạy xe bị cản lại(?)). Một điều rất lạ, là tôi không thấy phản ứng của dân chúng khi nghe loạn ngôn nầy. Có thể chúng tôi ở xa về, nên mới ngạc nhiên, chứ người dân ở đây thì ngôn từ loại nầy là chuyện-thường-ngày-ở-huyện! Tôi chỉ mong chữ “chúng” ông công an dùng chỉ vì quen miệng chứ không có ý hăm dọa dân! Nhìn quanh, không có tấm bảng nào ghi cho phép công an được lái xe trong khu Phố Đi Bộ.

Về lại Sài Gòn, con gái chúng tôi post tấm ảnh mới nhất của đứa cháu ngoại trong e-mail. HH dán mắt nhìn, mọi chuyện chung quanh hình như chẳng còn có gì quan trọng nữa. Từ đây, bóng dáng đứa cháu ngoại luôn luôn chiếm một phần quan trọng trong mọi câu chuyện kể.

Còn lại mấy ngày ở Sài Gòn chúng tôi đi lớ ngớ khắp nơi. Thành phố của kỷ niệm không còn nữa. Lạ hẳn. Xa lạ đến ngỡ ngàng. Thả bộ trên những con đường cũ mà cứ tưởng đang ở một nơi nào đó. Cũng vỉa hè Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự Do, Bến Thành, Bạch Đằng… tôi bùi ngùi với Bà Huyện Thanh Quan lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương, đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nước còn cau mặt với tang thương! Với người chung quanh, chúng tôi cũng là kẻ xa lạ. Một vài người tiến đến mời chào bằng mấy ngoại ngữ Á châu! Sài Gòn thành phố đã thay tên, đang bị Đại Hàn hóa. Phim ảnh và quảng cáo thương mại Đại Hàn tràn ngập khắp mọi nơi.

Ngày vui qua mau. Những người thân yêu trong gia đình lại đưa tiễn chúng tôi ra phi trường. Lại bùi ngùi chia tay. Mỗi người đều cố che giấu những xúc động riêng. HH và tôi cũng bùi ngùi.

Chúng tôi đang trở về hay ra đi?

Vào trong phi trường, lại gặp chuyện rắc rối thủ tục! Hai tờ giấy khai quan thuế màu vàng đã lạc mất đâu đó không còn trong xấp giấy tờ cá nhân. Cô phụ trách thu hồi cho biết chúng tôi phải làm thủ tục khai báo, do đó không còn đủ thời gian để kịp đi trong chuyến bay nầy. Đứng trước việc chẳng đặng đừng nầy thì thật khó có quyết định ngay được (tôi không nhớ trong tờ giấy vàng họ có lưu ý bắt buộc phải hoàn trả lại hay không). Thấy chúng tôi lo lắng cô phụ trách nhỏ nhẹ gợi ý: “Cháu có thể giúp tìm lại hai tấm giấy nầy nhưng phải mất cả ngày để tìm kiếm trên máy vi tính. Cô chú cho cháu 20!”. Tôi vỡ lẽ! À ra thế!

Thôi thì đưa 20 đô cho xong cửa ải cuối cùng.

Máy bay cất cánh, chúng tôi không còn cái thú nhìn xuống bên dưới, dù nơi đó những người thân thương đang phải đối đầu với vô vàn khổ lụy hàng ngày.

Halloween Oct. 31-05
hophubong_sign

(Trích tuyển tập truyện ngắn CHUYỆN NỔI TRÔI)

This entry was posted in Hồ Phú Bông, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.