MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 12 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

dongthapmuoi-KenhtrunguongCHƯƠNG MƯỜI HAI
ĐỒNG THÁP MƯỜI THỜI KHẨN HOANG

Trong thời gian ngắn ngủi còn lại, Hai Rồng rất bận rộn, ban ngày lo đôn đốc công việc, chỉ điểm võ thuật cho anh em lực điền, tối đến còn lo sinh hoạt với họ. Hai Rồng hướng dẫn tỷ mỉ từng bước kế hoạch đột kích sào huyệt Thạch Sum trên một cái sa bàn, được đấp bằng đất sét do đích thân Hai Rồng tự làm lấy, trông giống như địa thế thật được thu nhỏ lại, để cho từng bộ phận nghiên cứu và học tập kỹ lưỡng.

Còn chú Tư Long lo kiểm tra tất cả dụng cụ, phục vụ cho kế hoạch nầy như xăng dầu, xuồng ba lá, chông tre vót nhọn… đã đầy đủ, duy chỉ còn thiếu 30 mũi giáo để tra vào đầu côn tầm vông, làm thành cây giáo dài, một loại vũ khí thô sơ, ngọn giáo tầm vông của đoàn nghĩa binh Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Đức Bổn Sư Ngô Lợi… đã đi vào lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của đồng bào vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và nó đã thành biểu tượng tinh thần đấu tranh bất khuất và kiên cường của cả dân tộc ta từ ngàn xưa, vẫn còn tồn tại cho đến mãi ngày hôm nay. Vì vậy, Tư Long nói với Hai Rồng:

-“Chúng ta còn khoảng 3 tuần lễ nữa là khởi sự thi hành kế hoạch, tôi muốn nhờ cháu Bền đi với tôi xuống lò rèn của anh Bảy Búa ở ấp Lò Gạch trên kinh Bảy Thước, rèn cho vài chục mũi giáo, chú Hai nghĩ sao?”

-“Được quá đi chớ!” Hai Rồng hỏi. “Bao giờ anh Tư đi xuống đó?”

-“Sau bữa cơm trưa thì lên đường cho kịp con nước.” Tư Long nói.

-“Bao giờ anh Tư và thằng Bền trở về?” Hai Rồng hỏi.

-“Chậm lắm là sáng mai! Tôi sẽ trả tiền gắp đôi, để họ tập trung rèn đủ số lượng cho lẹ.”

-“Thôi được, để tôi biểu thằng Bền chuẩn bị đi với anh Tư nghe!”

o O o

Cơm nước xong, cả hai ông cháu xuống ghe tam bản theo con nước ròng, chèo xuống ấp Lò Gạch nằm trên con kinh Bảy Thước. Thằng Bền sức trai khỏe mạnh, vun mái chèo ào ào, khoảng xế chiều gần tới nơi. Từ phía xa, Bền đã nghe tiếng búa đập những thỏi sắt trên đe nghe chan chát. Cái lò rèn cha truyền con nối của Bảy Búa hoạt động trên kinh Bảy Thước từ mười mấy năm nay, khá phát đạt. Cha Búa, con Đe gộp lại thành cái tên hiệu lò rèn “Búa Đe” nỗi tiếng vùng Mộc Hóa vào thời đó. Hầu hết các dụng cụ nhà nông như: phảng, dao mác, lưỡi liềm… đều do lò rèn nầy sản xuất.

Ghe vừa cập bến, Bền cắm sào bên cạnh cây cầu dừa, rồi theo Tư Long bước lên trên khu lò rèn. Bền thấy 5 anh thợ rèn còn trẻ, dang những tấm lưng trần nhễ nhại mồ hôi, lấm lem bụi than đang vung búa tạ, đập những thỏi sắt được nung đỏ rực trên 5 cái đe, tiếng búa nện chan chát nghe đinh tai. Họ chỉ dừng tay khi miếng sắt nguội dần rồi dùng kềm gắp bỏ xuống lò nung, lúc nào cũng đỏ rực than hồng. Người quạt lò nung miếng sắt cho đến khi đỏ rực lên, giao lại cho người thợ rèn và công việc được lập lại liên tục cho đến thỏi sắt thành hình nông cụ.

Tư Long hỏi một thợ rèn, đang uống nước bên cái lu mái dầm:

-“Chú Bảy Búa có ở nhà không vậy, cháu?”

Anh thợ rèn lễ phép, nói:

-“Dạ có, ổng đang ngồi uống nước trà đằng kia, vừa rà soát lại mấy cái nông cụ mới làm xong.”

-“Cám ơn cháu!” Tư Long nói.

Bảy Búa ngồi bên cạnh cái bàn gỗ, đang ngắm nghía kiểm tra kỹ lưỡng một lô sản phẩm mới ra lò, trước khi giao cho khách hàng. Nhìn thấy Tư Long đang đi tới, mừng rỡ, hỏi:

-“Bữa nay, rồng đến nhà tôm, chắc có chuyện gì phải không, cha nội?”

Tư Long gật đầu, nói:

-“Tôi định nhờ chú rèn gắp rút 30 mũi giáo trong vòng 3 ngày, được không đó, cha nội?”

-“Rèn dao làm chi nhiều vậy cha?”

Tư Long nói:

-“Không phải rèn dao mà là rèn giáo cha nội ơi!”

Bảy Búa nói:

-“Nếu anh Tư cần gấp, tui có thể giao cho anh 30 cây dao có sẵn ở trong kho.”

Tư Long nói:

-“Giáo chớ không phải dao! Bộ chú điếc hả?”

Nghe tiếng ồn ào, Hai Đe lật đật bỏ cây búa xuống, chạy tới nói:

-“Xin lổi chú Tư nghen! Dạo nầy, tía con bị lãng tai dữ lắm! Chú thông cảm. Tía con theo nghề tổ truyền nầy gần mấy chục năm. Suốt ngày làm việc trong tiếng búa đập sắt trên đe chan chát như thế nầy, màng nhỉ nào chịu cho thấu. Con đây rồi cũng chịu chung số phận như vậy thôi.”

-“À, bây giờ chú Tư mới hiểu,” Tư Long nói. “Chú mới tới cái lò rèn nầy chưa tới nửa giờ mà tai đã nghe ù ù rồi.”

Hai Đe hỏi:

-“Chú Tư định nhờ tía con rèn cái gì vậy?”

Bảy Búa nói:

-“Chú Tư muốn nhờ tía rèn 30 con dao. Trong kho có đủ rồi, cứ lấy ra giao cho chú Tư mầy trước, rồi rèn 30 con dao khác, giao cho khách hàng sau cũng được mà.”

Hai Đe hỏi:

-“Có phải vậy không, chú Tư?”

Tư Long cười, nói lớn cho Bảy Búa nghe luôn:

-“Chú cần tía con rèn gắp 30 mũi giáo, chớ không phải dao.”

-“À ra thì như vậy, giáo chớ không phải dao nghe, tía!” cậu Hai Đe hỏi. “Bộ chú Tư tính đi kháng chiến thiệt hả? Cho con đi theo đánh Tây với, con nói thiệt đó!”

Tư Long nói:

-“Chú cần 30 cây giáo để trang bị cho mấy cậu lực điền để họ tự đảm trách việc bảo vệ đất đai, mồ mả ông bà tại vùng biên giới Việt – Miên trước đã. Còn việc đi kháng chiến chống giặc Pháp, phải chờ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ phất cờ khởi nghĩa thì chú sẽ dẫn cháu qua cù lao Ông Chưởng tham gia nghĩa binh.”

-“Việc nầy, con có nghe mấy anh em tá điền của ông Bá hộ Bảnh ở bên ấp Bầu Biển nói. Họ còn khoe với con là sau khi giải quyết vụ tranh chấp vùng biên giới với đảng cướp Thạch Sum. Ông bà Bảnh sẽ chia hết đất ruộng của mình cho tá điền tự làm chủ lấy phần đất của mình,” Hai Đe nghi ngờ, hỏi. “Mà chuyện nầy có thiệt không hả, chú Tư?”

-“Không có lửa làm sao có khói hả, cháu?” Tư Long nói. “Chuyện là như vậy, thiệt đó!”

-“Vùng đồng bằng sông Cửu Long nầy, ông Bá hộ Bảnh là một vị đại điền chủ nhơn đức chỉ có một, chớ không có hai!” Hai Đe giọng khâm phục nói, rồi hỏi tiếp. “Chú Tư cần 30 mũi giáo nầy có gắp lắm không?”

-“Trong vòng 3 ngày, nhắm xong không, cháu?”

-“Tụi cháu sẽ cố gắng rèn cho đủ số càng sớm càng tốt. Khi nào xong, cháu sẽ bơi xuồng ra vàm kinh Cái Cơ giao cho chú Tư, được không chú?”

-“Được như vậy, tốt quá!” Tư Long lấy tiền trong túi áo giao cho Hai Đe, nói. “Chú Tư đặt tiền cọc 50 đồng trước cho cháu!”

-“Chú Tư đưa tiền cho cháu nhiều quá vậy? Cháu chỉ nhận 30 đồng thôi!”

-“Ậy, sao khách sáo quá vậy? Cứ nhận đi cháu, số tiền còn lại gọi là chút quà thưởng cho anh em thợ rèn giúp chú,” Tư Long nói. “Thôi, bây giờ chú Tư phải chèo ghe về nhà cho kịp con nước lớn!”

-“Ê, cha nội! Anh em lâu ngày mới có dịp gặp nhau. Anh phải ở lại nhậu với vợ chồng tui một chầu rượu. Uống không say, không về nghen cha!” Bảy Búa bất bình, nói. “Anh mà không ở lại với nhậu với tui tối nay, dứt khoát tui không nhận rèn 30 mũi giáo hay dao gì đó cho anh đâu!”

Tư Long cảm động, nói:

-“Ừ, nhậu thì nhậu, sợ gì ai chớ!”

-“Thôi, bây giờ tui đưa anh lên nhà trên giới thiệu tía của tui với anh, rồi tụi mình nhậu lai rai vài sợi trước cái đã.”

Tư Long gọi Bền đang đứng nói chuyện với Hai Đe:

-“Bền à, tối nay mình ở lại nhà bác Bảy Búa chơi một đêm. Sáng mai, mình trở về nhà nghen, cháu!”

-“Dạ, sáng mai về nhà cũng được mà, có sao đâu, ông Tư!” Bền nói đùa. “Để cháu ở dưới nầy học nghề rèn với anh Hai Đe.”

Hai Đe nghe Bền nói, cũng ngạc nhiên, hỏi:

-“Bộ cậu em cũng muốn học nghề rèn thiệt hả?”

-“Biết thêm một nghề để mưu sinh cũng tốt chứ sao, anh Hai!” Bền nói. “Nói đùa với anh thôi! Lúc trước, Bền có nghe tía bàn chuyện với chú Ba Hổ là chiến khu cần có một “công binh xưởng” gì đó, để sản xuất vũ khí như giáo mác, mã tấu để đánh Tây.”

-“Thì cái lò rèn “Búa Đe” cũng giống như một cái công binh xưởng được thu nhỏ lại; thay vì, sản xuất vũ khí, tụi nầy sản xuất nông cụ cho bà con nông dân làm mùa,” Hai Đe nói. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách! Nếu một ngày nào đó, tổ chức kháng của tía cậu muốn mở một “công binh xưởng”, cần những thợ rèn có tay nghề cao, Bền báo cho tui biết, tụi nầy sẽ tình nguyện kéo hết qua bên đó giúp một tay.”

-“Tía Bền mà biết chuyện nầy, chắc tía mừng lắm!” Bền nói. “Đó là chuyện tương lai, còn chuyện trước mắt, anh chỉ cho Bền bí quyết, muốn rèn một cây mã tấu phải trải qua những giai đoạn gì?”

Hai Đe dẫn Bền đi vòng quanh khu vực lò rèn quan sát cách làm việc của mấy người thợ rèn, mấy người phụ trách thổi lò, những người mài, giũa nông cụ, rồi nói:

-“Trước hết, nghề rèn là một nghề lao động rất cực nhọc. Ngày nào chí những ngày nấy, người thợ rèn phải làm việc quần quật bên cạnh những lò than lúc nào cũng đỏ rực lửa, hai bàn tay lúc nào cũng nắm chặt cán búa nặng trên 5 kí lô, miệt mài dỡ lên, dập xuống liên tục những khối thép đỏ hồng.” Hai Đe sè hai bàn tay của mình cho Bền coi, rồi nói. “Hai bàn tay của người thợ rèn chuyên nghiệp nào cũng bự chè bè, đầy những cục chai sần, thô kệch như thế nầy. Nghề rèn còn gọi là nghề của bắp thịt, nếu không có sức làm không kham nỗi đâu. Có biết bao nhiêu người vào nghề chỉ mới vài name, đành phải bỏ nghề.”

-“Từ một cục sắt hoặc thép đến khi hoàn thành một nông cụ, nó sẽ qua những giai đoạn nào vậy, anh Hai Đe?” Bền hỏi.

Hai Đe thấy Bền có ý học hỏi, hỏi bèn tận tâm chỉ dẫn rành mạch:

-“Trước hết phải cho người đi dọ hỏi để mua sắt, thép vụn tại miền lục tỉnh, có khi lên tận Sài Gòn, Gia Định. Thông dụng nhứt là các nhíp xe hơi phế thải được khách hàng rất ưa chuộng vì độ bền của nó, rồi chở về lò rèn bằng mọi phương tiện như tàu đò, ghe xuồng, xe ba gác…Kế đến là giai đoạn phân loại tốt xấu để tính độ bền của vật dụng. Sau đó, muốn rèn thành một nông cụ theo yêu cầu của khách hàng, phải trải qua nhiều giai đoạn: tạo dáng, nung đỏ, phá vóc, đàn nguội, trui và giai đoạn cuối cùng là mài sắc. Nguy hiểm nhứt của nghề là khi về già, ai nấy cũng bị bịnh về thính giác: nhẹ thì lãng tai, nặng thì điếc. Do sáng kiến của tôi, dùng rễ cây bần phơi khô, chuốt nhỏ bằng một lóng tay, nhét vào lỗ tai, làm giảm âm thanh của búa đe chan chát suốt ngày, cũng đở lắm.”

-“Thu nhập của mấy anh thợ rèn “xóm bắp thịt” nầy có đủ sống không, anh Hai Đe?”

-“Trước đây, ấp Lò Gạch có tới 4 lò rèn truyền thống. Bây giờ, không còn rộn rịp như xưa nữa, chỉ còn lò rèn “Ba Đe” là còn hoạt động, vì đó là nghề của ông cha truyền lại, còn 3 lò kia đã đóng cửa từ lâu rồi. Tôi dám nói, không nghề lao động tay chưn nào nặng nhọc như nghề rèn. Họ làm quần quật từ sáng tới chiều là tay chưn họ rã rời, ngày hôm sau dỡ búa không muốn nỗi, nên đa số phải bỏ nghề rèn, đầu quân sang mấy lò gạch ở tuốt xóm trên.”

Bền nói:

-“Hèn chi, lúc chèo ghe trên kinh Bảy Thước, Bền để ý nhìn dọc theo hai bờ kinh chỉ thấy nhà cửa của đồng bào lụp xụp với cấu trúc đơn giản: hầu hết nhà chỉ có một gian chính với một chái, chỉ cần một ít gỗ tre để làm sườn, còn mái che và hai bên vách dựng bằng lá dừa nước hay ván dầu.”

Hai Đe nói:

-“Nhận xét của cậu rất đúng, xóm lò rèn nghèo như vậy. Nhưng, còn xóm “lò gạch” thì biểu hiện sự ăn nên làm ra của mấy ông chủ làm gạch. Nhà cửa họ rất khang trang, cất theo kiểu hình chữ “Đinh” được xây cất bằng gạch, mái lợp ngói âm dương, cửa bằng kính, có cổng sắt.”

Bền không hiểu, hỏi:

-“Nhà cất theo hình chữ “Đinh” hình dáng của nó ra làm sao?”

Hai Đe nói:

-“Đó là một căn nhà rất rộng, gồm một căn nằm ngang và một căn nằm xuôi liền vách với nhau, tức là cây đòn dông nhà trên và đòn dông nhà dưới nằm thẳng góc, nhà thường có dãy hàng ba phía trước, nên nắng không rọi tới, mưa không tạt vào. Có nhiều chủ lò gạch cất nhà năm gian, khi họ có con cái đổ đạt làm quan trong chánh quyền hoặc có cơ sở làm ăn ở Sài Gòn.”

Bền nói như nhắc nhở:

-“Trời sắp hoàng hôn rồi, bao giờ họ mới dừng tay?”

-“À, Bền nhắc tôi mới nhớ!” Hai Đe gọi mấy anh thợ rèn ngừng tay và đến trước mặt mình, nói. “Bữa nay, lò rèn của mình nhận công việc của chú Tư Long rèn 30 mũi giáo với tiền công là 30 đồng và phải giao hàng trong vòng 3 ngày với tiền thưởng trước 20 đồng. Và đây, 20 đồng tôi đưa trước cho mấy anh chia nhau xài.”

Một người hỏi:

-“Bao giờ mình bắt đầu vậy, anh Hai?”

-“Sáng ngày mai, mình bắt đầu,” Hai Đe hỏi. “Sao, anh em có kham nổi không, nói cho tôi biết.”

-“Dư sức qua cầu mà! Anh Hai yên chí đi!”

Hai Đe nói:

-“Thôi, bây giờ mấy anh về nghỉ sớm! Sáng mai, chúng ta bắt đầu công việc nghe!”

Khi Hai Đe dẫn Bền lên nhà trên, mọi người đã ngồi đông đủ trên cái bèn tròn giữa nhà, chén thù, chén tạc thật vui vẻ. Tư Long giới thiệu Bền với mọi người. Ông Năm Liểng – ông nội của Hai Đe – tuy đã ngoài 80 tuổi với râu ba chòm bạc trắng, nhưng rất còn tráng kiện, da mặt hồng hào. Ông nắm tay Bền thân mật, nói:

-“Hồi nãy giờ, chú Tư Long có nói nhiều về cháu Bền. Nước nhà rất cần những thanh niên yêu nước nhiệt tình như cháu thì đất ta lo gì không quét sạch quân cướp nước ra khỏi bờ cõi! Thôi, ngồi xuống đi cháu, ngồi bên cạnh ông nè!”

Bảy Búa nói với con:

-“Hai Đe à, xuống dưới chái nhà bếp, hỏi má mầy nấu nướng xong chưa? Tía đói bụng rồi đó nghen!”

Hai Đe vừa mới đứng dậy, chưa kịp đi xuống bếp đã thấy mẹ bưng cái nồi cơm nấu bằng gạo “nàng hương” thơm phức để giữa cái bàn tròn, khiêm nhượng nói:

-“Lâu lắm rồi mới thấy anh Tư Long ghé nhà chơi mà không có món ngon vật lạ gì để đãi khách, chỉ có cây nhà lá vườn! Tía tui cũng muốn đi thăm ông bà Bảnh mà cả nhà ai cũng bận, chẳng có ai đưa đi.”

Bảy Búa hỏi vợ:

-“Bữa nay, bà đãi anh Tư Long món gì vậy, má Hai Đe?”

-“Đơn giản thôi,” thím Bảy ra thực đơn. “Cá lóc kho tộ, canh chua cá lóc, gỏi khô cá bông trộn rau, dưa leo và xoài sống đầu mùa.”

Thím Bảy nói xong, quày quả đi xuống bếp, dọn mâm đồ ăn lên bàn, mời mọi người cầm đũa, vừa ăn nhậu lai rai, vừa nói chuyện thân mật. Bền nhìn thấy khoanh cá lóc, đường kính bự bằng cãi dĩa bàn nhỏ, nằm gọn trong tộ, ngạc nhiên, nói:

-“Con cá lóc nầy bự tổ chảng à nghen, ông Tư!”

-“Cá lóc bự cỡ đó mà nhằm nhò gì cháu. Ở vùng nầy, dân tát đìa bắt được nhiều con cá lóc nặng tới 6, 7 kí lô, chiều dài gần nửa thước là chuyện thường,” ông Năm Liễng nói. “Hồi mười mấy năm về trước, qua theo ông nội của thằng Bảnh vào khẩn hoang lập ấp vùng nê địa hoang vu nầy, qua bắt được nhiều con cá bông có sọc xanh, sọc đỏ gọi là “cá bông gấm” có râu, sống hằng chục năm trong mấy vạt lung đìa, chưa có người đặt chân tới bao giờ. Loại cá bông nầy hung dữ lắm, có người không biết lội bừa xuống đìa bị nó rượt, táp mất của quý trở thành thái giám suốt đời.”

Bền nói:

-“Cháu thấy cá lóc và cá bông trông giống như nhau, làm sao phân biệt được hả, ông Năm?”

-“Trông giống vậy mà không phải vậy đâu,” ông Năm Liễng giải thích. “Con cá lóc, nói chung là loại cá đồng như cá rô, cá trê…hễ trời mưa lớn là có trứng. Con cá bông lại khác, khoảng tháng 6 âm lịch mới mang trứng, nó theo mấy lạch nước vào mấy miệng lung đìa quầng ổ để đẻ. Cá bông là một loại cá rất hung dữ, nhứt là khi bảo vệ đàn cá ròng ròng, nó hay tấn công người rất táo tợn. Cá bông đẻ trứng trong tháng 6 đến tháng 10 thì cá ra sông, đó cũng là mùa “săn cá bông” của đồng bào miệt Đồng Tháp Mười.”

Bảy Búa nói:

-“Tía tôi, tuổi đời trên 80 mà vẫn còn thích đi săn cá bông lắm. Có ngày ổng bắt được cả chục con, ăn không hết thì làm khô.”

Ông Năm Liễng nói:

-“Mỗi người có cái thú riêng của họ, có người thích “gác cu”, có người thích đờn ca, xướng hát hoặc chơi cờ tướng…Còn qua chỉ thích săn cá bông, thú lắm!”

Bền hỏi:

-“Ông săn cá bông bằng cách nào?”

-“Cái thú nhứt là dùng chĩa đâm. Cách nầy nó tập cho mình cái tánh kiên nhẫn, bình tĩnh, và kỷ thuật yên lặng rình con mồi,” ông Năm Liễng nói. “Con cá bông ngoi lên mặt nước ngớp lấy hơi, cứ cách 5, 10 phút một lần, thường thì nó lựa bóng râm của cây cối ven sông hoặc trên kinh rạch. Có ngày ông thủ cây chĩa, ngồi thu mình trong tum, hoặc trên mấy cháng cây nhô ra bờ sông, kiếm được chục con cá bông như chơi.”

Bền hỏi:

-“Như dùng chĩa đâm cá bông, chắc phải có bí quyết, phải không ông?”

-“Nghề nào cũng có bí quyết do kinh nghiệm mà có, nên họ thường dấu nghề riêng để làm ăn một mình,” ông nói. “Thôi, để qua chỉ cho cháu bí quyết, nhớ là khi con cá bông trừng cái đầu lên mặt nước ngớp, chớ vội đâm là không đúng lúc, vì đầu và vẩy của nó cứng lắm. Phải đợi nó khi ngớp xong, lặn trở đầu xuống thì phóng cây chĩa xuống, mũi chĩa xuyên dưới lớp vẫy cá, cứ mỗi mũi phóng xuống là dính một trự, thấy ham lắm!”

-“Tía tui tuy già mà còn gân lắm, tay chưa run mói là lạ; có lẽ, nhờ hồi trẻ luyện “võ búa” nên cánh tay còn cứng lắm. Tụi thanh niên phải còn bái ổng là vua săn cá bông vùng nầy đó!” Bảy Búa nói. “Ngày mai, vợ chồng tui sẽ biếu anh chục con khô cá bông về nhậu chơi. Khô cá bông mà nhậu với nước trà cũng bắt lắm.”

-“Đây là lần đầu tiên, con nghe chú Bảy nói cá khô nướng mà nhậu với nước trà đó!” Bền thắc mắc, nói. “Sao con thấy mấy tây kiệt xuất trong làng nhậu thì khô nướng phải đi với đế mới bắt chớ!”

-“Đành rằng là như vậy, muốn cạn ly rượu đế phải có gì cay như ớt, chua như cóc, ổi, xoài hay mặn như khô cá sặc, cá lóc, cá khoai, lươn đưa cay mới đúng điệu. Nhưng, uống trà với khô là cái thú tiêu giao của người miền Tây Nam Bộ vô vùng Đồng Tháp Mười từ thời khẩn hoang. Quê của qua ở một khúc sông Tiền, chảy qua làng Mỹ Thạnh ở Cao Lãnh. Hồi mấy chục năm về trước, cha mẹ của qua nghèo rớt mồng tơi, không có một cục đất chọi chim, nên qua đành phải bỏ xứ theo ông nội của thằng Bá hộ Bảnh chèo chống vô vùng nầy khai phá đất hoang vô chủ, mạnh ai nấy phát hoang. Thế rồi, ông nội Bá hộ Bảnh xuất tiền cho nông dân vay hoặc khi túng thiếu làm vốn canh tác với lãi xuất cao. Gặp những năm mùa màng thất bát vì lũ lụt, chim trời, chuột đồng phá phách nên nợ nần chồng chất, không trả nỗi, phải thế chấp đất đai, rồi bán lại cho ông ta với giá rẽ mạt. Nếu ông già của thằng Bảnh còn sống đến giờ nầy cũng trạc tuổi của qua. Hồi đó, chính qua là người chèo ghe suốt đêm, đưa má thằng Bảnh ra nhà bảo sanh ở chợ Thủ Thừa đẻ nó chớ ai. Nhưng, càng lớn lên tánh tình của nó quá quắc, tham lam, bủn xỉn giống hệt ông nội của nó, nên qua mới bỏ qua làng nầy, phụ rèn với ông ngoại thằng Bảy Búa. Ổng thấy qua chí thú làm ăn nên mới gả con gái cho qua, mấy năm sau thì chị thằng Bảy Búa ra đời,” ông Năm Liễng nói. “Qua ghiền uống nước trà với cá khô là do tía vợ. Mỗi khi nhàn rổi, ổng có sở thích không giống ai là thích ngồi một mình rung đùi, nhâm nhi lai rai trà nóng với khô cá lóc nướng. Những dân tứ xứ lưu lạc vùng Đồng Tháp Mười từ hồi khẩn hoang có gì ăn cái nấy, họ tự chế biến những món ăn ngon độc đáo từ con tôm, con cá, con lươn mà cái thú uống nước trà nóng với khô cá đồng nướng là dư vị của di dân Đồng Tháp Mười từ thuở đó.”

Tư Long tò mò hỏi:

-“Bác Năm có mấy người con?”

-“Chỉ có hai con, một gái với một trai. Chị thằng Bảy Búa đã lấy chồng dưới miệt Cà Mau, Bảy Búa chỉ là biệt danh của người trong vùng nầy đặt cho nó, riết rồi chết tên luôn,” ông Năm Liễng hỏi đùa. “Chú Tư biết tại sao, nó có hỗn danh “Bảy Búa” không?”

-“Dạ không!” Tư Long nói.

-“Cây búa của người thợ rèn chuyên nghiệp, nặng tối đa khoảng 5 kí lô là cùng. Một ngày dỡ lên đập xuống cả mấy trăm lần, riết rồi ai cũng oải, có người không kham nỗi phải bỏ nghề. Thợ rèn vùng nầy, chỉ có thằng Ba nó xài búa tạ nặng tới 7 kí lô, nên thiên hạ gọi đùa là Bảy Búa là “búa bảy kí lô”, mấy cái đe ngoài lò rèn là của tía vợ qua truyền lại tới đời thằng Hai Đe là ba đời theo nghề rèn. Có cái đe cũ đã 100 năm rồi,” bỗng ông Năm Liễng bất ngờ, hỏi. “Qua có nghe thằng Hai Bảnh định trả hết đất đai của mình cho tá điền tự làm chủ lấy, mà chuyện nầy có thật hay xạo vậy, chú Tư?”

Tư Long gật đầu xác nhận, nói:

-“Dạ, chuyện nầy thiệt đúng như vậy! Sau khi giải quyết xong vụ biên giới phía Tây Nam với Thạch Sum, cậu Hai Bảnh sẽ dọn về Sài Gòn sống. Sáu Trí sẽ lo việc vẽ họa đồ, phân chia đất đai cho bà tá điền, còn tôi sẽ ở lại trông coi nhà cửa ở kinh Cái Cơ, để thỉnh thoảng cậu Hai Bảnh sẽ về ở chơi, thăm bà con.”

-“Thiệt tình mà nói, qua không ngờ thằng Hai Bảnh biết ăn năn hối cải, sớm giác ngộ sớm như vậy là một điều đáng mừng cho bà con tá điền, mà cũng tốt cho chính bản thân và gia đình của nó nữa. Luật đời nhân quả, gieo hột gì ra trái đó. Cái gia sản kếch sù của Bá hộ Bảnh thừa hưởng hiện nay là do xương máu, mồ hôi, nước mắt của bà con tá điền tạo nên cho gia đình nó hưởng. Hai Bảnh không trả cho họ kiếp nầy, phải trả kiếp sau thôi.”

Hai Đe hỏi:

-“Ông nội nói gì con chưa hiểu cho lắm! Nếu ông Bảnh trả hết đất đai cho tá điền lúc ổng còn hiện diện trong cõi nhân sinh nầy thì sao?”

-“Chỉ gia giảm đi một phần nào “nghiệp chướng” của tổ tiên và bản thân nó gây nên mà thôi!” ông Năm Liễng giải thích. “Nói thí dụ, Hai Bảnh gặp một tai nạn gì đó, thay vì chết thảm khốc, nhưng chỉ bị thương và rồi sẽ tai qua nạn khỏi!”

-“À, bây giờ thì cháu đã hiểu!” Hai Đe nói.

Bảy Búa nói:

-“Như gia đình mình có làm điều gì ác đức với ai đâu. Bỗng dưng, em trai thằng Hai Đe vắng số, bị trời đánh chết trong lúc mưa dầm mà còn nán lại ở ngoài đồng lùa trâu. “Thiên lôi” lấy mạng của tôi một đứa con, “Thủy thần” trả lại tôi một đứa trai khác. Tía còn nhớ trận lụt dữ dội năm Bính Thìn tại vùng Đồng Tháp Mười vào tháng 9 năm 1916 không? Nước lụt mênh mông, người chết không đất chôn, phải chờ nước rút mới có đất chôn. Nhiều quan tài chôn cạn, bị nước cuốn trôi lềnh bềnh trên mặt nước thấy dễ sợ. Sau những cơn mưa dầm kéo dài lê thê từ trung tuần tháng 7 ở bên Miên, mực nước sông Mekong dâng cao chưa từng thấy, rồi đổ vào vùng đồng bằng sông Cửu Long để thoát ra biển Đông. Vì vậy, các tỉnh nằm trong khu tứ giác Châu Đốc – Cần Thơ và Hồng Ngự – Cao Lãnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhứt. Trong khi đó, bên miệt Hồng Ngự nhờ có hai con rạch lớn là rạch Sở Thượng và rạch Sở Hạ dẫn nước lụt đổ dồn về những vùng đất trũng Đồng Tháp Mười và Thủ Thừa mới lãnh đủ,” Bảy Búa hớp một ngụm nước trà, hồi tưởng lại chuyện xưa, rồi nói. “Tối hôm đó, ngoài trời mưa lâm râm lạnh lẽo. Gia đình quay quần trong chiếc ghe tam bản, tía đang nhâm nhi mấy con cá sặc nướng với nước trà nóng. Tôi bỗng nghe tiếng con nít khóc, mới đốt đuốc, mở cánh cửa khoang ra ngoài coi. Thì ra, trên giề lục bình, có một thằng bé trai mới sanh chừng vài tháng, nằm khóc trong một cái thúng, ướt như chuột lột, từ đâu trôi tấp vào ghe của mình. Má thằng Hai Đe mới bồng nó vô trong ghe hơ lửa, lấy mền quấn cho nó ấm. Tôi đâu biết gốc gác, tía má nó ở đâu mà giao lại. Cuối cùng, phải nhận nó làm con nuôi và đặt cho cái tên Nguyễn văn Bồng, có nghĩa trôi nổi bềnh bồng trong mùa nước nổi.”

Ông Năm Liễng buộc miệng, khen:

-“Thằng cháu nội ngang hông của qua thông minh, hiếu thảo đáo để. Nhưng, nó nhứt định không theo nghề rèn truyền tử, lưu tôn của gia đình qua.”

Tư Long hỏi:

-“Bây giờ cháu Bồng đang ở đâu, làm nghề gì vậy, chú Năm?”

-“Cháu làm thầy giáo một trường tiểu học ở Tân An,” ông Năm Liễng, nói. “Tụi trẻ bây giờ sống có lý tưởng lắm, đặt việc nước trước việc nhà. Cháu quan niệm, bất cứ giai cấp thống trị nào cũng áp dụng chánh sách “ngu dân dễ trị”; vì vậy, cháu chọn nghề “bán cháo phổi” để nâng cao dân trí. Chuyện trước mắt là phải cố quyết nạn mù chữ cho dân nghèo tại địa phương trước đã! Thôi, để bọn trẻ làm theo lý tưởng của chúng nó, ép nó theo nghề rèn làm gì chớ!”

Thấy trời đã khuya, Tư Long xin cáo từ gia đình ông Năm Liễng, cùng với Bền xuống chiếc ghe tam bản ngủ qua đêm, chờ con nước lớn sáng mai sẽ nhổ sào rời bến. Ông Năm Liễng thấy vậy, nói:

-“Má thằng Hai Đe mau xuống bếp, lấy vài con khô cá bông làm quà biếu chú Tư mang về nhà nhậu chơi, nghe con.”

*

Cũng ngay đêm hôm đó. Một chuyện lạ xảy vào lúc nửa đêm về sáng, Bá hộ Bảnh nửa đêm nằm mơ thấy ác mộng ghê gớm, vùng vẫy la hét: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!…” làm cả nhà giựt mình thức giấc. Bà Bảnh phải lay chồng thức dậy, hỏi:

-“Ông chiêm bao thấy chuyện gì xảy ra mà kêu cứu ầm cả lên, làm tui hết hồn, vậy ông?”

Bá hộ Bảnh nói:

“Tui thấy bị cọp vồ! Con cọp nầy to lớn dị thường làm tui sợ đến khiếp đảm luôn. May nhờ có cháu Bền cứu mạng, dùng cây giáo đâm nó chết!”

Bà Bảnh cười đùa, nói:

-“Đây là vùng Đồng Tháp Mười, thời nầy làm gì có cọp mà ông lo! Chuyện chiêm mộng mị mà! Thôi, ngủ tiếp đi ông!”

Bá hộ Bảnh giọng lo lắng, nói:

-“Tôi thiệt không biết, cơn ác mộng nầy báo trước điềm gì đây! Sao tôi cũng hơi lo lo đó, má con Thu Hương!”

Bà Bá hộ trấn an chồng, nói:

-“Từ khi bước chân vô gia đình nầy làm vợ của ông, tôi nghe kẻ ăn người làm than phiền về tánh tình của ông, giống hệt ông nội của ông trước kia đối với tá điền.”

-“Họ nói ông nội của tôi đối với tá điền hồi trước ra sao?” Bá hộ Bảnh hỏi.

-“Chuyện nầy tôi không muốn lập lại, có hay ho gì đâu? Ông phải tự suy nghĩ lấy. Dòng họ nhà mình mấy đời nay ăn ở thiếu phúc đức, nhờ con Thu Hương mà ông sớm giác ngộ, nếu ông có gặp nạn tai gì sẽ có quới nhơn giúp đở. Cơn ác mộng đó là điềm báo trước cho ông biết: “tiền hung hậu kiết”. Không có gì đáng lo!”…

—> Chương 13

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.