MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 13 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

Thiên Cẩm Sơn (núi Cấm) Thất Sơn  (Photo by tranhy)

Thiên Cẩm Sơn (núi Cấm) Thất Sơn
(Photo by tranhy)

CHƯƠNG MƯỜI BA
THẦN HỔ THIÊN CẨM SƠN

Đúng ba ngày sau, Hai Đe đã rèn xong 30 mũi giáo theo yêu cầu của Tư Long. Sáng sớm ngày thứ tư, Hai Đe bơi xuồng ra vàm kinh Cái Cơ giao hàng. Lúc xuồng vượt qua ấp Bầu Biển một đoạn khá xa, Hai Đe thấy một người đàn ông trung niên đang chèo chiếc ghe tam bản gọi lại, hỏi đường:

-“Chú em ơi! Sắp tới nhà ông Bá hộ Bảnh chưa vậy?”

-“Dạ, sắp tới rồi chú,” Hai Đe nói. “Tôi cũng đang trên đường đi tới đó, chú chèo ghe theo tôi nghe!”

-“Vậy thì may quá! Chú em bơi xuồng chầm chậm, qua mới theo kịp nghe!”

Họ tới vàm kinh Cái Cơ đã nghe tiếng kẻng vanh lên là lúc mọi người dừng tay tập luyện để dùng cơm trưa. Hai Đe tắp xuồng vào cây cầu ván cắm sào, rồi vác cái bao đựng 30 mũi giáo lên bờ. Người đàn ông cũng nối gót theo lên. Ông ta hơi bở ngở nhìn cơ ngơi đồ sộ của Bá hộ Bảnh, hỏi:

-“Có phải đây là nhà của ông Bảnh thiệt không, chú em?”

-“Dạ, thiệt mà! Chú cứ đi theo tôi vô nhà,” Hai Đe chận một anh lực điền đang đi tới, hỏi. “Chú Tư Long có ở nhà không vậy, anh?”

-“Dạ có, hai anh đi theo tui ra ngoài khu nhà bếp, mọi người đang ăn cơm trưa.”

Tư Long đang ngồi trên mâm chiếu dùng cơm trưa với cậu Hai Bảnh, Sáu Trí, Hai Rồng và Mười Dần. Thấy Hai Đe tới giao hàng, Tư Long lật đật đứng dậy, hỏi:

-“Cháu ăn cơm trưa? Mời cháu ngồi xuống dùng cơm trưa với mọi người cho vui,” Tư Long nhìn người khách lạ, hỏi. “Còn ai đây? Sẵn dịp, mời chú em ngồi xuống dùng cơm gia đình luôn, người nhà không mà, đừng ngại gì hết!”

Hai Đe nói:

-“Cháu gặp người nầy trên đường đi, chú hỏi đường tới nhà ông Bảnh. Sẵn dịp, cháu dẫn tới đây luôn.”

Cậu Hai Bảnh nghe nói, đứng dậy, nắm tay người khách lạ, kéo xuống ngồi bên cạnh mình, thân mật hỏi:

-“Chú em là ai, ở đâu tới? Muốn gặp tôi có chuyện gì quan trọng không?”

Người khách lạ tự giới thiệu:

-“Dạ, tôi là Lý văn Phong, trước đây gia đình tôi ở Xóm Kinh Hương Biện Leo, nằm trên kinh Tri Tôn. Mươi năm trước, ông Bảnh qua đêm tại xóm nầy để sáng mai leo núi Cô Tô, bắn hạ “ông Một” trừ hại cho dân làng. Không biết ông còn nhớ không? Bây giờ gia đình tôi di dời về quê nội ở ấp Vồ Đầu thuộc núi Cấm, xã An Hảo, quận Tịnh Biên.”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“À, tôi nhớ rồi! Hôm nay, chú em đến đây thăm tôi hay có chuyện gì nhờ tôi giúp, phải không?”

-“Dạ phải, chuyện là như vầy,” cậu Phong nói. “Đa số dân quận Tịnh Biên sống bằng nghề rừng, trồng rẫy và đặc biệt là khai thác cây thuốc nam, kho dược liệu thiên nhiên vô tận, có vô số dược liệu quí giá như: Hà Thủ Ô, Đỗ Trọng, Sa Sâm…dùng để chửa trị cho bà con vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nếu có dịp đi ngang qua thị trấn Nhà Bàng, quận Tịnh Biên, ông sẽ thấy họ bày bán hàng trăm loại dược thảo thông dụng. Ngoài ven đường, thuốc phơi ngổn ngang. Nhưng, cách đây khoảng hai tháng, trên núi Cấm xuất hiện một cặp “thần Hổ” to lớn dị thường và vô cùng hung dữ, nó thường hay xuống làng cỗng người và trâu bò lên núi ăn thịt. Có mấy người lên núi Cấm hái thuốc Nam mất tích, không thấy họ trở về. Quan chủ tỉnh Châu Đốc có cử mấy tay thiện xạ lên núi Cấm, tìm cách bắn hạ hai con thần Hổ nầy cũng mất tích luôn. Riết rồi, không một ai dám bén mảng lên Núi Cấm nữa. Nên tôi đại diện dân làng xuống đây, khẩn cầu ông ra tay thiện xạ, bắn hạ hai con cọp dữ nầy, như ông đã từng bắn gục “ông Một” ở núi Cô Tô trước đây.”

-“Tôi biết núi Cấm cao tới 716 thước, và chiều dài khoảng 7.000 thước nằm giữa quận Tịnh biên và Tri Tôn. Hồi còn trai tráng, tôi có qua lại săn bắn trên núi Cấm nhiều lần. Núi Cấm có năm chỏm núi cao nhô lên được gọi là “vồ” như: Vồ Đầu cao 584 thước(vồ đầu tiên lên núi qua ngã chợ Thum Chưn), Vồ Bồ Hong cao 716 thước, Vồ Thiên Tuế cao 514 thước, Vồ Ông Bướm cao 480 thước và Vồ Bà cao 579 thước, vì nới đây có Miễu thờ Bà Chúa Xứ.” Cậu Hai Bảnh hỏi. “Hai con Thần Hổ kích thước bự cở bao lớn và thường xuất hiện ở “vồ” nào?”

Cậu Phong thưa:

-“Theo như những người thấy nó xuống núi, cõng trâu bò bự bằng nó, tha lên núi một cách nhẹ nhàng, bề dài của nó đoán chừng 5, 6 thước dư. Hình như, cặp thần hổ nầy xuất hiện khắp nơi trên núi Cấm. Trong đêm tối vắng lặng, người ta nghe tiếng hổ gầm “a-oum” trên núi Cấm vang xa hằng cây số, khi chỗ nầy, khi nơi khác, không biết đích xác nó ở “vồ” nào.”

-“Đây có lẽ giống cọp tôi đã bắn hạ ở núi Cô Tô hồi trước. Giống cọp nầy có nguồn gốc ở phía Nam Ấn Độ có tên khoa học là Panthera Tigris Corbetti. Do điều kiện sanh sống, chúng đi lần xuống vùng rừng núi ở bán đảo Đông Dương: Việt – Miên – Lào, chiều dài của nó trung bình từ 5 tới 6 thước là cùng, bản chất loài hổ nầy rất hung dữ mà tài đánh hơi của nó rất nhạy bén nên rất khó săn được chúng. Hiện tại, tôi và anh em đang bận tìm cách đối phó với bọn cướp Thạch Sum trong vài tuần sắp tới, chưa biết kết quả thắng bại như thế nào? Vì vậy, tôi chưa hứa trước được điều gì với chú em,” bỗng Hai Bảnh hỏi. “Tại sao chú em không xuống Cần Thơ, nhờ ông Cao giúp đở? Ông Cao là nhà vô địch thiện xạ tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, không ai sánh kịp, kể cả tôi nữa.”

Cậu Phong nói:

-“Dân làng có cử người khác xuống Cần Thơ tiếp xúc với ông Cao. Nhưng, ông Cao đã tuyên bố giải nghệ, thề không cầm tới súng đi săn nữa!”

Năm Dần xen vô, nói:

-“Hay là cậu Hai để tui đi lên Châu Đốc thử thời vận được không? Biết đâu phước dân làng, may cho thợ săn “chó táp phải ruồi” thì sao?”

Hai Bảnh lắc đầu, nói:

-“Anh chỉ có kinh nghiệm tác chiến, chưa có kinh nghiệm đi săn ác thú bằng tôi đâu. Lỡ có chuyện xảy ra, làm sao tôi ăn nói với chị Năm đây? Vả lại, anh xa quê hương trên 10 năm trời, phải để anh ở nhà hủ hỉ với gia đình chớ! Tôi đã chọn người theo tôi săn cọp dữ rồi.”

Cậu Phong mừng rỡ, nói:

-“Như vậy, ông chịu giúp dân làng chúng tôi rồi, phải không ông?

-“Nếu giải quyết êm đẹp vụ biên giới với Thạch Sum, tôi nhứt quyết sẽ đi Châu Đốc, giúp đồng bào Tịnh Biên săn cọp dữ trừ hại cho bá tánh,” Hai Bảnh nói. “Tôi có người bà con ở xóm Hương Tuần Xáng trên kinh Tri Tôn. Khi nào tôi tới đó, sẽ cho người báo chú em biết tới đón tôi.”

Cậu Phong đứng dậy, chưa kịp chào từ giã mọi người. Tư Long chận lại, nói:

-“Chú em phải dùng cơm trưa cho no bụng, rồi lên đường cũng chưa muộn mà,” quay sang Hai Đe, Tư Long nói. “Phải ăn cơm rồi mới được về nghe, đồ ăn còn ê hề trên mâm. Mời mọi người tiếp tục cầm đũa đi chớ, cho khách tự nhiên!”

Riêng cậu Hai Bảnh trong lòng buâng khuâng nghĩ tới cơn ác mộng hôm trước, tự hỏi: “Điềm chiêm bao linh ứng như vậy sao ta?” Hai Bảnh cực chẳng đã ăn uống qua loa để cầm chưn khách. Xong bữa cơm, mọi người tiễn khách ra bờ rạch Long Khốt. Cậu Hai Bảnh nói với Tư Long:

-“Chút nữa chú Tư vô nhà, gặp vợ chồng tôi bàn chút chuyện nghe!”

Tư Long gật đầu, ôm mấy chục mũi giáo đưa cho Bền để tra vào đầu gậy tầm vông, rồi quày quả vô nhà trên. Vợ chồng Hai Bảnh đang ngồi trên bộ ghế tràng kỷ chờ. Tư Long hỏi:

-“Cậu và mợ Hai có chuyện gì cứ chỉ bảo?”

Bà Bảnh lên tiếng trước:

-“Không giấu gì anh Tư. Cách đây 4 hôm, ông Bảnh nằm chiêm bao thấy bị một con cọp bự lắm vồ. Ổng kêu cứu ầm cả lên, nghe phát sợ! Tôi mới vừa nghe ổng nói, có người dân ở Tịnh Biên xuống đây nhờ ổng săn cọp dữ giúp đồng bào. Không lẽ, cơn ác mộng linh ứng lẹ như vậy sao nè chời?”

-“Bà nầy, nói có đầu mà thiếu khúc đuôi,” Hai Bảnh nói. “Trong lúc thập tử nhứt sanh, cháu Bền nhào đúng lúc, dùng giáo đâm chết “thần hổ” cứu mạng.”

-“Bây giờ cậu Hai tính sao? Mình có thể nhờ người khác, giúp giải quyết chuyện nầy được mà,” Tư Long nói. “Mười Dần cũng là tay thiện xạ trong quân đội viễn chinh Pháp trước đây ở Châu Phi.”

Hai Bảnh lắc đầu, nói.

-“Người lính cầm súng đánh trận, khác với người cầm súng đi săn, nhứt là săn cọp dữ. Mình chỉ bắn nó một phát, viên đạn ta khỏi nòng là nó chết hay mình chết. Nhiều con cọp bị trúng đạn, nhưng vẫn còn sức phóng tới, móc họng người thợ săn cùng chết với nó.”

-“Bây giờ cậu Hai tính sao?” Tư Long hỏi.

Bà Bảnh lên tiếng:

-“Cơn ác mộng đã báo cho ổng biết trước: “Tiền hung hậu kiết”! Ông sẽ được quới nhơn giúp đở, không có gì phải sợ!”

-“Có phải cô nói cậu Bền?” Tư Long hỏi.

-“Đúng y chang,” bà Bảnh ngập ngừng, nói. “Tôi chỉ e chú Hai Rồng không cho cháu Bền đi theo giúp ông Bảnh một tay. Tôi thấy cũng hơi lo.”

Tư Long nói:

-“Để sau vụ đột kích sào huyệt Thạch Sum, giải quyết êm đẹp vụ biên giới Việt – Miên, tôi hứa sẽ nói chú Hai Rồng để cậu Bền ở lại, theo giúp cậu Hai một tay. Việc nghĩa, trừ ác thú giúp đồng bào, chắc chú Hai Rồng không từ chối. Cái khó là không biết cháu Bền có chịu ở lại giúp cậu Hai không thôi!”

Hai Bảnh nói;

-“Anh Tư nói nghe cũng có lý đó, hả má con Thu Hương!”

Ba Bảnh nói:

-“Ông đã hứa thì phải giữ lời! Đối đế, mình phải nhờ anh Mười Dần đi với ông mới được.”

o O o

Hai Đe bơi xuồng về đến nhà, trời cũng chạng vạng. Ở nhà đang chuẩn bị dùng bữa cơm chiều. Vừa thấy mặt Hai Đe, ông Năm Liễng hỏi ngay:

-“Sao, cháu có gặp thằng Hai Bảnh không?”

Hai Đe nói:

-Dạ gặp, ổng mời con dùng cơm trưa, ngồi chung mâm với ổng nữa đó!”

-“Cháu nhận xét thằng Bảnh là người như thế nào?” ông Năm Liễng hỏi.

-“Rất khác xa những gì ông nội nhận xét về ông ta trước đây! Ông Bảnh rất bình dân, giản dị, đối xử bình đẳng với mọi người,” Hai Đe nói. “Nghe nói, sau khi giải quyết vụ biên giới, ông Bảnh sẽ lên núi Cấm diệt trừ cặp thần hổ, giúp dân mấy xã ở Tịnh Biên. Cuộc đi săn hổ nầy rất nguy hiểm, chú Phong dân ở Tịnh Biên nói, cặp hổ nầy ăn thịt rất người lên núi Cấm, tìm hái thuốc Nam.”

-“Ông nội chờ cái ngày nầy đã mấy chục năm, để trở lại vàm kinh Cái Cơ gặp thằng Bảnh,” ông Năm Liễng vuốt chồm râu bạc gật gù, nói. “Sáng ngày mai, con nhờ đứa nào chèo ghe đưa nội tới đó thăm nó.”

Hai Đe nói:

-“Thôi khỏi, để con chèo ghe đưa ông nội đi.”

Sáng sớm cả hai ông cháu lên đường. Khoảng xế trưa, Hai Đe chèo ghe đưa ông nội tới nhà ông Bảnh. Hai ông cháu lững thững đi vô nhà, bất ngờ gặp Tư Long, ông Năm Liễng hỏi:

-“Có vợ chồng cậu Hai Bảnh ở nhà không, chú Tư?”

Tư Long sốt sắng, nói:

-“Dạ có, để tôi đưa ông Năm vô nhà gặp cậu Hai.”

-“Thôi, ông nội vô nhà thăm ông bà Bảnh để con ở ngoài nầy,” Hai Đe quay qua hỏi Tư Long. “Cậu Bền có ở đây không, chú Tư?”

-“Có, cháu đang dạy võ cho mấy lực điền ở trên sân phơi lúa. Cháu ra đó sẽ gặp nó.”

Bà Bảnh đang ngồi uống nước trà, lắng nghe cậu Hai Bảnh ngồi kế bên đọc sách cho nghe. Thấy một ông già lạ mặt, đi với Tư Long bước vô nhà, Hai Bảnh lật đật bỏ sách xuống bàn, đứng dậy gật đầu chào khách, rồi hỏi:

-“Xin lổi, ông tìm gặp ai ở đây?”

Ông Năm Liễng cười, biết thằng Bảnh không nhận ra mình, hỏi:

-“Tôi muốn tìm thăm ông Bá hộ Bảnh, không biết ổng có ở nhà không ta?”

Hai Bảnh chưng hửng, nói:

-“Tôi là Hai Bảnh đây! Xin lổi ông là ai, sao tôi không biết vậy cà?”

Ông Năm Liễng không nói, không rằng, lặng lẽ tới trước bàn thờ tổ tiên đặt giữa nhà, đốt ba nén nhang cắm lên lư hương, rồi chấp tay xá di ảnh cha mẹ của Hai Bảnh. Còn Hai Bảnh cũng bối rối, hỏi nhỏ Tư Long:

-“Ông già nầy là ai vậy?”

-“Cậu Hai không nhớ thiệt sao?” Tư Long nói. “Ông là Năm Liễng, bạn vong niên của tía cậu ngày xưa, nhớ chưa?”

Vừa nghe đến tên Năm Liễng, Hai Bảnh mừng quá hét lên: “Chú Năm!” rồi chạy tới ôm chằm lấy Năm Liễng, nghẹn ngào nói:

-“Chú Năm bỏ đi đâu mất tiêu mấy chục năm trời! Cha con lúc nào cũng nhắc tới chú Năm luôn và dặn con sau nầy phải tìm chú Năm cho bằng được để tạ lổi!”

Ông Năm Liễng nói nửa đùa, nửa thiệt:

-“Sao, bây giờ cháu muốn qua gọi là ông Bá hộ Bảnh, cậu Hai Bảnh hay gọi bằng “thằng Bảnh” như ngày xưa?”

Hai Bảnh cười, nói:

-“Thôi mà chú Năm, cứ gọi cháu là “thằng Bảnh” như ngày xưa, mà cháu cảm thấy dễ chịu hơn.”

Ông Năm ôm choàng qua vai Hai Bảnh, long lanh hai giọt nước mắt vì cảm động, nói:

-“Chú đã hứa với lòng mình là bao giờ cháu thay đổi tánh tình, ăn ở nhân hậu, không cần cháu đi tìm, chú Năm cũng tự động trở về đây thăm cháu mà.”

Hai Bảnh giới thiệu chú Năm với vợ:

-“Đây là chú Năm bạn chí cốt của cha hồi trai trẻ đó!”

Bà Bảnh chấp tay xá chú Năm, rồi nói:

-“Con có nghe chồng con nhắc chú Năm hoài, không biết chú ở đâu mà tìm.”

Ông Năm Liễng nói:

-“Hồi mấy chục năm trước. Sau khi rời khỏi nơi đây, chú làm nghề thợ rèn cho tía vợ ở xóm Lò Gạch, nhà cũng không xa đây lắm, nên chú biết rất rõ sanh hoạt của gia đình cháu. Chú Năm rất mừng thấy cháu Bảnh trả hết đất đai cho tá điền. Cháu đã dành cho họ một con đường sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời, cháu cũng đã mở một con đường sống cho gia đình cháu và bản thân cháu được sống an vui. Chú Năm chúc mừng vợ chồng cháu!”

Bà Bảnh lo âu, nói:

-“An vui thì cháu chưa thấy, chỉ thấy trong lòng cháu rất lo lắng.”

-“Cháu lo lắng về chuyện gì?” Năm Liễng hỏi. “Có phải chuyện cháu Bảnh định lên Thiển Cẩm Sơn săn cọp dữ, phải không?”

-“Dạ, đúng đó chú Năm!” bà Bảnh nói. “Cách đây 5 đêm, ông Bảnh nằm chiêm bao thấy bị một con cọp vồ, may mà có cháu Bền cứu ổng thoát chết! Đây có phải là điềm: “tiền hung, hậu kiết” không, chú Năm?”

Ông Năm Liễng nói:

-“Bảnh à, ngồi xuống ghế trường kỷ đối diện với chú Năm, để chú đoán hung kiết cát tường như thế nào?”

Ông Năm Liễng nhìn chăm chú, quan sát sắc diện trên khuôn của Hai Bảnh hồi lâu, rồi phán:

-“Khi bàn về vận mạng con người, ông Trần Đoàn quan niệm rằng: “Thiên nhân tương dữ” tức “Trời” và “người” có sự liên quan mật thiết với nhau. Có nghĩa là “Ở hiền sẽ gặp lành”. Ảnh hưởng sâu đậm triết lý nầy, ông Trần Đoàn minh xác rằng: “Tướng do tâm sinh, tướng tùy tâm diệt”. Phải có cái “tâm” tốt mới có thể chuyển đổi được “tướng” cách. Tể Tướng Bùi Độ đời nhà Đường là người tinh thông tướng học đã nói: “Thân mình ta không dài rộng, diện mạo ta không khôi ngô mà tại sao ta làm đến Nguyên Soái, Tể Tướng? Đó là nhờ ta có một “tâm” hêát lòng vì dân, vì nước.” Thế mới biết, muốn phân biệt: phú quí, bần tiện thì không chỉ căn cứ vào diện mạo, mà còn phải căn cứ vào cái tâm nữa,” ông Năm Liễng kết luận. “Chú thấy cháu Bảnh đã sớm giác ngộ, mọi tai nạn sẽ giảm bớt, rồi qua đi! Chú Năm thấy cháu Bền là người có phúc tướng. Nhớ dẫn cháu Bền theo trợ giúp thì hay lắm!”

-“Cháu còn giữ một kỷ vật của cha con lúc còn sanh tiền,” Hai Bảnh hỏi. “Chú Năm muốn xem không? Để cháu đi lấy cho chú coi!”

Hai Bảnh mở cái tủ thờ lấy ra cái nóp được cuốn lại, giữ kỹ cẩn thận mấy chục năm rồi, nên trông còn nguyên vẹn. Kỷ vật còn đó, nhưng người bạn vong niên đâu còn. Ông Năm Liễng ngậm ngùi, nói:

-“Chú biết, cái nóp đôi nầy dành cho hai người nằm chung là do cô Lựu, con gái đầu lòng của một người tá điền, đan lấy cho cha cháu. Tháp Mười là quê hương của giống bàng nổi tiếng nhứt. Đích thân người con gái ấy, giã bàng suốt mấy đêm liền để chằm nóp cho cha cháu mang theo trên ghe ngủ qua đêm. Cha con hồi nhỏ rất ham vui, mỗi khi đoàn hát bội từ Sài Gòn về trình diễn ở Chợ Thủ là ảnh rũ cô Lựu lén trốn nhà, mang theo cái nóp nầy xuống ghe. Chú chèo ghe đưa họ ra tuốt ra chợ Thủ xem hát bội. Khi vãng hát là hai người trở xuống ghe, lật đật chui vào cái nóp đôi nầy để tránh muỗi bay túa ra như vãi trấu.”

-“Cha cháu quí cái nóp nầy,” Hai Bảnh ngậm ngùi, nói. “Vào những ngày cuối đời, cha cháu bị lao phổi nặng, lại thêm tâm bệnh trầm uất không biết tâm sự cùng ai, cha cháu nhắc đến chú Năm luôn. Bỗng vào một đêm mưa giông, nước mưa rơi ào ào trên mái ngói, theo máng xối chảy vào mấy cái lu mái dầm hòa với gió lốc thổi từng cơn; thỉnh thoảng, tiếng sấm động vang rền, làm nửa đêm má cháu thức giấc, rón rén đi vào buồng thăm cha. Má không thấy cha đâu, mọi người phát hoảng, tìm khắp nhà cũng không thấy. Cháu mặc áo mưa, đốt cây đèn bão chạy xuống bờ kinh; hình như, linh tính báo cho cháu biết việc chẳng lành, cháu nhảy đại xuống nước, trèo lên ghe, quơ cây đèn bão nhìn vào trong khoang. Cháu rụng rời tay chưn, nhìn thấy cha nằm bất động trong chính cái nóp nầy đây. Cháu báo động cho mọi người biết, khiêng cha vô nhà; có lẽ, cha qua đời trước khi trời đổ cơn mưa, áo quần cha mặc đều khô quánh.”

Má cháu làm theo lời trối của cha là muốn được hỏa thiêu, tro tàn hài cốt rải xuống dòng Long Khốt. Chú Năm Liễng nói:

-“Đó không phải là tro tàn hài cốt của cha cháu, mà là tro than mà thôi.”

Hai Bảnh ngạc nhiên như người từ hành tinh khác rơi xuống, hỏi:

-“Vậy còn tro tàn hài cốt của cha cháu hiện bây giờ ở đâu, ai giữ tro tàn hài cốt của cha cháu để làm gì?”

-“Chú Năm giữ và đưa tới một nơi theo sự yêu cầu của cha cháu trước khi qua đời,” ông Năm Liễng lấy trong túi áo một lá thơ đã cũ, tờ giấy trắng đã trở thành màu vàng, đưa cho Hai Bảnh, nói. “Cháu hãy đọc lá thơ nầy, rồi sẽ rõ câu chuyện tình bi thảm của cha cháu.”

Hai Bảnh mở lá thơ ra xem, đúng là nét chữ của cha mình. Nội dung bức thơ, Hai Bảnh đọc lớn cho vợ nghe:

Đồng Tháp Mười, ngày 12 tháng 6 năm 1914.

Chú Năm Liễng thân mến,

Tôi biết không còn sống được bao lâu với căn bịnh lao phổi ngặt nghèo nầy. Chú hãy xem đây là lời trối của người sắp từ giã dương trần. Sau khi thân xác tôi được hỏa táng, tôi xin chú giữ lấy nắm tro tàn hài cốt của tôi, cho vào một cái thẩu bằng đất nung rồi nhờ chú đích thân trao cho cô Lựu và nói với Lựu rằng: cho tới giờ phút nầy tôi vẫn một lòng, một dạ sắc son thương Lựu. Xin Lựu hãy cầu nguyện cho linh hồn tôi sớm được siêu thoát. Xin đa tạ.

Ký tên
Nguyễn văn Sang

Hai Bảnh sững sốt, hỏi:

-“Như vậy, cha cháu vẫn giữ liên lạc với chú, phải không? Lúc hỏa thiêu thi hài cha, chú Năm đứng ở đâu mà cháu không phát hiện được?”

-“Chú giữ liên lạc với cha cháu qua thằng Tý chèo ghe hầu, nó làm trung gian! Lúc hỏa thiêu, chú đứng trà trộn trong nhóm đạo tỳ, đúng gần giàn hỏa trên bãi đất trống. Chú Năm cho tiền mấy người coi đốt giàn hỏa, đợi tới khi ngọn lửa tàn, họ cho chú bốc tro tàn hài cốt của cha cháu, rồi đánh tráo cái thẩu hài cốt giả cho má cháu mà không ai biết,” ông Năm Liễng nói. “Nhờ vậy, chú phát hiện được một điều rất huyền diệu là nhục thân của cha cháu đều biến thành tro, chỉ trừ trái tim kết tinh thành một khối than, đen tuyền óng ánh như đá hoa cương.”

Hai Bảnh nóng ruột, hỏi dồn dập:

-“Cháu biết, chú Năm giao cái thẩu hài cốt đó cho dì Lựu là làm theo lời trối của cha cháu. Nhưng, người đó giữ hài cốt của cha cháu để làm gì? Hiện giờ, người đó còn sống hay đã chết? Cháu muốn xin lại cái thẩu tro cốt của cha cháu được không?”

Ông Năm Liễng lắc đầu, nói:

-“Đã muộn rồi, cháu! Câu chuyện vài dòng lắm, để chú Năm kể hết ngọn nguồn câu chuyện tình bi thảm của ảnh, cho vợ chồng cháu biết,” ông Năm Liễng hồi tưởng lại câu chuyện mấy chục năm về trước, rồi bắt đầu kể: “Ngay sau khi quyền phân phối đất đai chuyển từ triều đình Huế sang tay cho Thống đốc Nam Kỳ Nicolai, ông ta ban hành nhiều văn kiện mở cửa cho giới tư bản thực dân Pháp và tay sai đắc lực bản xứ đua nhau xin cấp quyền trưng khẩn đất ruộng miền Nam. Nghị định ban hành ngày 18 tháng 8 năm 1896 đã bãi bỏ giới hạn tối đa 100 mẫu. Sử gia J. Borie viết về tình trạng chiếm hữu đất đai và cho tá canh tại Việt Nam như sau: “Nhờ sự dễ dãi nầy mà người ta đua nhau xin đất. Những nhà báo, nhà thầu, bác sỹ đã xin được những thửa ruộng diện tích lên đến 1.000 đến 2.000, đôi khi lên đến 3.000 mẫu tây.” Một vài nhân vật điển hình thời đó, phải kể đến: Tên Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, một người lập công lớn với Pháp tại Nam Kỳ, một con đường ở Chợ Lớn mang tên ông ta là đường “Tổng Đốc Phương” đã được phép trưng khẩn miễn phí 2.223 mẫu tây đất tại các làng Hỏa Lựu, Hòa Hưng, Vĩnh Hòa Hưng thuộc tỉnh Rạch Giá. Một ông Hội đồng tại Bạc Liêu tên Trần Trinh Bạch, nổi tiếng đã dựng nên cơ nghiệp lớn lao nhứt tại miền Nam với trên 20.000 mẫu tây đất ruộng “chó chạy cong đuôi”, “có bay thẳng cánh” mà không hết ranh đất của ông ta.

Hai Bảnh nói:

-“Theo chỗ cháu được biết: Vào năm 1896, lúc đó cháu được 11 tuổi đời, đất đai của ông nội tạo được gần 8.000 mẫu tây, nhưng đất canh tác khoảng 15%, còn lại là rừng đước, tràm… Tuy sản nghiệp không bằng một gốc ông Trần Trinh Trạch, nhưng cũng có hạng, được mọi người gọi là đại điền chủ bá hộ Nguyễn Danh Phận nức tiếng ở vùng nầy.”

Ông Năm Liễng nói:

-“Chính vì vậy, ông nội cháu muốn cha cháu cưới vợ phải “môn đăng hộ đối”. Chính bức tường rêu phong cũ kỹ, quan niệm hẹp hòi nầy đã ngăn cách mối tình của cha cháu với cô Lựu, con gái lớn ông Muôn, tá điền của ông nội cháu. Ông bà Phận hăm dọa, ép buộc cha con cô Lựu phải trả đất và dọn đi nơi khác để cha cháu yên tâm cưới vợ. Mẹ cháu là con gái út của ông Hội đồng Ẩn ở Mỹ Tho. Cuộc hôn nhân cưỡng ép không hạnh phúc nầy, làm cha cháu mang tâm bịnh trầm uất, thể chất suy kiệt dần, đưa đến bịnh lao phổi ngày càng trầm trọng.”

-“Cha cháu có biết họ dọn về phương trời nào không?” Hai Bảnh hỏi.

-“Tôn trọng lời hứa với cô Lựu, chú chỉ cho cha cháu biết đại khái là cô Lựu buồn duyên tủi phận, nương bóng từ bi, nguyện suốt đời ở độc thân làm công quả cho chùa, nhưng không xuống tóc làm ni cô. Sở dĩ, chú Năm biết rõ vì làng của họ giáp ranh với làng của chú Năm ở Cao Lãnh.”

Hai Bảnh hỏi:

-“Sau nầy, cháu muốn nhờ chú Năm dẫn đi gặp dì Lựu, xin lại tro cốt của cha về thờ phượng, được không chú Năm?”

Ông Năm Liễng thở dài, nói:

-“Muộn quá rồi cháu! Bốn năm sau đó, cô Lựu bị bạo bịnh qua đời. Trong lúc hấp hối, cô Lựu xin sư cô đặt cái thẩu tro cốt của cha cháu vào trong quan tài, theo cô xuống đáy mồ. Sống không đồng tịch đồng sàn, đến khi chết mới được đồng quan đồng quách. Thôi, quên đi cháu để cho cha con và dì Lựu được yên giấc ngàn thu, vĩnh viễn nằm bên nhau.”

Hai Bảnh ôm chú Năm nghẹn ngào, nói:

-“Cháu xin vâng lời chú Năm!”

Ông Năm Liễng nói:

-“Cha con là một người nhân từ, phúc hậu. Khi đi thâu lúa ruộng, gặp những năm mất mùa thất bát, nhiều gia đình tá điền con đông, làm gì có đủ gạo ăn. Cha con chẳng những không thu lúa ruộng mà còn bảo chú Năm lén xúc lúa trong mấy cái lẫm, chở đến tận nhà họ cứu đói,” ông Năm Liễng giọng buồn bã, nói. “Có một lần, không may bị cháu bắt gặp, nặng lời với chú, còn mét với ông nội là chú Năm đi ăn cắp lúa bán; vì thế, chú Năm buồn tình bỏ đi.”

-“Cha cháu có nói với nội, chú Năm chỉ làm theo lời yêu của cha, mà nội không chịu tin,” Hai Bảnh hối hận, nói. “Cháu thành thật xin lổi, dẫu muộng màng, mong chú Năm xá tội cho cháu.”

-“Cái ngày thằng Tý chèo chiếc ghe hầu chở quan tài của cha cháu đến nơi thiêu xác, ghe xuồng của tá điền chèo nối đuôi hàng cây số tiễn đưa cha cháu. Họ không quên ơn nghĩa của cha cháu, giúp đở họ trong cơn hoạn nạn. ” ông Năm Liễng nói. “Chú rất mừng, thấy cháu Bảnh đã sớm giác ngộ, đi theo con đường của cha cháu đối với tá điền năm xưa.”

o O o

Thời gian thấm thoát trôi qua thật nhanh, chỉ còn mười ngày nữa là tới ngày ra quân. Ai nấy đều hăng hái tập luyện nước rút theo sự chỉ dẫn của chú Hai Rồng, Bền và Thu Hương. Những chàng lực điền trước đây chỉ biết sử dụng cái cuốc, cái xẻng, cái chĩa để mưu sinh, bây giờ họ còn biết sử dụng những nông cụ làm vũ khí tự vệ. Mấy bà, mấy cô cũng biết tự vệ bằng những đòn thế Nhu đạo, tuy nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần ác liệt, khiến mấy đấng ông chồng có máu bạo lực chừa cái thói hung hăng đánh vợ mỗi khi say xỉn. Tuy chưa phải là võ sĩ, nhưng bọn cướp Thạch Sum muốn đánh bại họ, không phải là chuyện dễ dàng.

Trong lúc Bền đang đánh dấu những yếu điểm trên hình nộm bằng rơm, để hướng dẫn mấy anh lực điền dùng giáo đâm thực tập hoặc dùng sức mạnh của quả đấm vào những yếu huyệt nầy, cũng có thể hạ được địch thủ. Bền nói:

-“Theo chú Ba tôi hướng dẫn, trên cơ thể người ta có khoảng 130 huyệt. Nhưng, chỉ có 43 yếu điểm ở 28 vị trí ở phía trước và phía sau cơ thể . Phía trước có Thái dương huyệt, Cự khuyết, Thần khuyết, Thiện Trung…”

Bền đang cao hứng thao thao bất tuyệt; bất chợt nghe có tiếng vỗ tay ở đằng sau lưng, Bền quay đầu nhìn lại xem ai. Thì ra, Ba Hổ đứng bên cạnh tía Sáu Trí và bác Mười Dần. Bền chạy lại ôm cổ chú Ba Hổ, mừng rỡ, nói:

-“Chú Ba tới hồi nào vậy? Khỏe không chú? Tía con nhắc tới chú luôn!”

-“Chú Ba khỏe mới tới đây, tiếp tay với anh Hai lo trừ khử bọn cướp Thạch Sum,” Ba Hổ rất phấn khởi, nói. “Tiện đây, chú Ba cũng báo một tin mừng chiến thắng cho mọi cùng biết là nghĩa binh PGHH và anh em dư đảng của bối “Ba Cụm” đã cải tà qui chánh, phối hợp lại dưới sự chỉ huy của chú Ba và Huỳnh Thanh Long, áp dụng chiến thuật của ông Giáo Hoài là dùng “hỏa công” đánh đắm một tàu sắt của giặc Pháp tại địa phận xã Tấn Mỹ, giáp ranh xã Mỹ Luông thuộc quận Chợ Mới, Long Xuyên, vớt được một số súng trường và đạn dược khá quan trọng (xác chiếc tàu sắt dài khoảng 20 thước, rộng 3 thước được chánh quyền tỉnh An Giang trục lên vào ngày 9-3-2006 chỉ còn lại thân tàu, phần cabin đã mất). Đại Tá CLUZET, Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại miền Tây, ra lịnh cho tên Đại úy Nogret điều động ba đại đội lính Lê Dương đang mở cuộc càng quét qui mô dọc theo hai bên bờ sông Tiền. Nghĩa binh tạm thời tản mát vào dân chúng quanh vùng. Luật sư Mai Văn Dậu – Đổng lý Văn phòng của Đức Thầy – bảo chú Ba phải xuống đây tiếp tay với tía con lo vụ bảo vệ biên giới phía Tây Nam Bộ chống bọn cướp Thạch Sum.”

Hai Rồng cả mừng, hỏi:

-“Chú Ba kể sơ kế hoạch tấn công chiếc tàu sắt của Pháp như thế nào?”

-“Trước hết, phải nói nhóm thủy khấu bối “Ba Cụm”, tài lặn hụp của họ quả vô song,” Ba Hổ nói. “Lúc đó vào khoảng 10 giờ tối, họ giả dạng dân chài lưới đón tàu Pháp từ vàm sông Cần Thơ chạy lên. Họ lặn xuống nước, thả những tấm lưới cá để khóa chân vịt, làm tàu giảm tốc độ. Nghĩa binh phục kích hai bên bờ sông Tiền, ngồi xuồng ba lá bơi ào ra, dùng bom xăng tự chế ném lên tàu. Bị tấn công bất ngờ, bọn lính Tây trở tay không kịp, chỉ lo chửa cháy nhưng vô hiệu. Khoảng hơn nửa giờ sau, tàu phát nổ và chìm xuống nước.”

-“Đức Thầy thường nhắc nhở anh em mình :”Dụng nhân như dụng mộc”, gỗ tốt xấu đều hữu dụng, nếu ta biết dùng nó đúng chỗ,” Hai Rồng hỏi. “Chú Ba nhận xét sao về Huỳnh Thanh Long và dư đảng “Bối Ba Cụm?”

-“Sau khi từ giã anh Hai tại chợ Thủ Thừa, tôi thay anh bảo tiêu đoàn ghe thương hồ từ lục tỉnh lên Sài Gòn. Khi đoàn ghe đến sông Nhà Bè, bọn “bối” bất ngờ xuất hiện. Thủ lãnh là Huỳnh Thanh Long vừa mới cuộn mình phóng lên chiếc ghe do tôi dẫn đầu, tôi liền búng ra mũi châm thần tốc vào ngay “Trầm Long Huyệt” gần huyệt “Đại chùy” phía sau gáy, dưới mỏm gai đốt sống lưng thứ ba, Huỳnh Thanh Long trúng mũi châm, huyệt mạch bế tắc, rơi xuống nước chìm lỉm, tên bộ hạ thân tín cầm mã tấu phóng lên ghe. Tôi nhanh chóng xoay người, ra đòn “Hổ vi cước”, dùng gót chân phải đá tạt vào cằm với năm thành công lực, chỉ làm cho đối thủ bị thương, hắn trúng đòn rơi tỏm xuống sông, kè Huỳnh Thanh Long lội vào bờ. Tôi nói vói theo: “Tôi sẽ cắm sào tại đây chờ các anh trong vòng bốn ngày! Nếu anh muốn cứu mạng Huỳnh Thanh Long hãy đến đây gặp tôi,” Ba Hổ nói. “Những ai bị trúng châm vào huyệt nầy trong vòng ba ngày, máu huyết đảo lộn, thất khiếu ra máu và đến ngày thứ tư các mạch máu sẽ vỡ ra rồi chết; vì vậy, nửa đêm về sáng rạng ngày thứ ba, Huỳnh Thanh Long cho người chèo ghe đến tìm tôi, đưa vào sào huyệt trong khu rừng sác ngập mặn Cần Giờ, cách bến đò Thôn Tam Hiệp khoảng 2 cây số. Tôi ra điều kiện: Một là Huỳnh Thanh Long phải cải tà quy chánh, theo tôi về chiến khu miền Tây giúp kháng chiến chống Pháp. Hai là giải tán bối Ba Cụm. Thế là họ đồng ý, sau đó có 10 người tình nguyện theo Huỳnh Thanh Long và tôi về cù lao Ông Chưởng lập công chuộc tội.”

Hai Rồng gật đầu, nói:

-“Miền Tây Nam Bộ sông rạch chằn chịt, tàu tuần của Tây xuất phát từ căn cứ hải quân ở vàm sông Cần Thơ chạy suốt ngày đêm. Muốn triệt hạ các tàu sắt của Tây, chúng ta phải có một đội thủy binh tinh nhuệ. Việc nầy mình phải nhờ đến họ huấn luyện nghĩa binh có tài bơi lặn thật giỏi như họ, chú Ba nghĩ sao?”

-“Tôi cũng có ý nghĩ như anh Hai. Nhưng, phải đợi một thời gian thử thách về lòng trung thành của họ đối với Quốc gia và Dân tộc trước đã.” Ba Hổ nói.

Hai Rồng nói.

-“Chú Ba về nói lại với Luật sư Dậu, việc bảo vệ biên giới phía Tây Nam chống với đảng cướp Thạch Sum, anh Hai đủ sức lo liệu. Chú Ba phải trở về cù lao Ông Chưởng ngay để cùng với nghĩa binh lo xây dựng và củng cố căn cứ địa kháng chiến PGHH. Khoảng hạ tuần tháng 4 là anh Hai sẽ gặp chú ở đó!”

Mười Dần nói:

-“Nếu chú Hai cho phép, tôi cũng tình nguyện theo chú về cù lao Ông Chưởng, góp một bàn tay huấn luyện tác xạ cho nghĩa binh PGHH, xét vốn gây lời, đánh những trận nhỏ trước, khi nào có cướp được nhiều vũ khí của địch, ta sẽ đánh những trận lớn hơn. Theo đà nầy, chúng ta sẽ phát triển lực lượng nghĩa binh PGHH từ cấp tiểu đội, trung đội, tiểu đoàn…Chú Hai đồng ý với tôi không?”

Hai Rồng vui mừng, nói:

-“Được như vậy thì hay quá! Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Mười!”

Bền nói đùa:

-“Còn con nữa chi? Tía đi đâu cho con theo với! Cha con mình sát cánh đánh giặc Pháp, sống chết có nhau mà tía!”

—> Chương 14

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.