MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 14 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

longhotranhhungCHƯƠNG MƯỜI BỐN
LONG HỔ TRANH HÙNG

Hôm đó nhằm ngày thứ bảy 13 tháng 4 năm 1940 là ngày quyết định đột kích sào huyệt của Thạch Sum vào lúc nửa đêm về sáng, vì sáng mai là ngày Lễ hội Choi – Chnam – Thmey truyền thống của dân tộc Miên, mang đậm nét văn hóa Phật Giáo Tiểu Thừa đầy màu sắc tính ngưỡng như tụng kinh cầu phước, dâng cơm cho các sư sãi, chúc mừng năm mới. Khắp nơi trong nước, địa phương nào cũng có tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ như hát ayay, múa lâm thol, hát dù kê giống như hát bộ của Việt Nam, đặc biệt dân Miên ăn nhậu xả láng vào ba ngày lễ hội đầu năm.

Xế chiều ngày hôm đó, Hai Rồng, Tư Long và Bền lo kiểm soát tất cả các phương tiện di chuyển, xăng được cho vô chai, chông được bó thành từng bó… tất cả được chuyển xuống xuồng trước. Mấy anh lực điền lo mài giũa vũ khí, riêng Năm Dần lo lau chùi, thông nòng khẩu mousqueton của cậu Hai Bảnh. Tới 3 giờ chiều, Chín Dậu và toán “hỏa đầu vụ” lo dọn cơm nước ra mâm, cho tất cả anh em ăn uống thiệt no để lấy sức.

Đúng 6 giờ chiều, Hai Rồng cho anh em lực điền tập hợp trên sân phơi lúa với vũ khí trên tay, mỗi người nhận được một đòn bánh tét và một khúc vải trắng quấn trên cổ để dễ nhận ra nhau trong lúc hỗn chiến. Sau đó, Hai Rồng cho mọi người lần lượt xuống xuồng ba lá, cứ ba người một chiếc thay phiên nhau chống sào. Hai Rồng, Tư Long và Bền mở đường, Năm Dần và Tư Kê đoạn hậu theo như kế hoạch. Họ bơi xuồng theo đội hình hàng dọc trên con kinh Cái Cơ. Lúc đoàn xuồng sắp sửa rẽ vào cái lạch nước, Hai Rồng thấy vợ chồng anh Ba Đế đứng dưới bóng cây ô môi, vẫy tay chào. Anh Ba Đế hăng hái, hét lớn:

“Chúc anh Hai Rồng và các anh em mau chiến thắng trở dìa. Đánh cho chúng một trận không còn manh giáp, cho tụi nó biết người Việt Nam mình không phải dễ ăn hiếp!”

Hai Rồng vẫy tay chào lại. Khi đoàn xuồng di chuyển vào cái lạch nước, họ dùng sào tre chống, xuồng lướt ào ào trong bóng tối. Con trăng lưỡi liềm mùng 7, tỏa ra ánh sáng nhợt nhạt trải rộng trên cánh đồng lầy bao la, vắng tanh đến rợn người. Gần nửa đêm, họ vượt qua cánh đồng lầy và đến con rạch nhỏ chảy dọc theo bờ tường đất. Họ hành động nhanh chóng theo sự phân công theo kế hoạch.

Sau khi giấu xuồng vào trong đám lau sậy, Bền và Tư Kê mỗi người mang túi vải đựng mấy chai xăng trên lưng, dẫn hai mươi anh lực điền tay cầm giáo, tay ôm mấy bó chông tách khỏi đoàn, len lỏi trong đám lau sậy dọc theo bờ sông để cài chông, mũi nhọn hướng chếch ra ngoài. Năm Dần trèo lên cây trên bờ sông, ngồi thu mình trong tàng lá rậm rạp, mũi súng gác lên cháng hai, chĩa thẳng vào cổng doanh trại mở toang hoác. Còn Hai Rồng, Tư Long và mười lực điền còn lại, mỗi người mang hai chai xăng, cho vào túi vải đeo trên lưng và một con dao quắm đeo bên hông, bò áp sát gần bờ tường đất, nằm dàn hàng ngang, im lặng chờ đợi…

Ánh lửa trại từ bên trong hừng lên đỏ rực, khói cuồn cuộn bốc lên, mang theo mùi thịt nướng thơm phức. Tiếng nhạc ngũ âm dồn dập, náo nhiệt và hỗn độn thường xảy ra trong những ngày lễ hội của đồng bào Miên như lễ Oromkho (Lễ đưa nước), lễ Ok Om Bok (lễ cúng trăng), lễ Đôn Ta (lễ cúng Ông bà)…Thời gian chầm chậm trôi qua trong sự nôn nóng của mọi người. Quá nửa đêm về sáng, những tiếng ồn ào bên trong có phần giảm đi, nhưng chưa hoàn toàn dứt hẵn. Mọi người nhìn nhau tự hỏi: “Cuộc liên hoan của họ tới bao giờ mới chấm dứt, để chúng ta ra tay?”

Hai Rồng có vẻ sốt ruột, kề tai Tư Long, nói nhỏ:

-“Anh Tư ở lại với anh em, để tôi vào bên trong doanh trại, xem động tĩnh ra sao nghe!”

Nói xong, Hai Rồng tháo túi vải trên lưng, đưa Tư Long giữ rồi bò sát tới bờ tường đất, cẫn thận nhìn quanh không thấy một bóng người nào. Hai Rồng rướn người lên, quăng mình qua bờ tường đất, rơi nhẹ nhàng không gây tiếng động, lẹ làng trườn mình dưới dãy nhà sàn, núp sau mấy cái cột gỗ nhìn ra ngoài sân gạch quan sát. Phía trước dãy nhà sàn của Thạch Sum là một sân khấu lộ thiên, bọn nam nữ diễn viên trong bộ y phục cổ truyền màu sắc rực rỡ, đang diễn một lớp tuồng “dù kê” trước đám khán giả gật gù, gật gưỡng, nằm ngồi la liệt trên sân bên mấy chai rượu cạn lán, vất bừa bãi chung quanh. Hai Rồng đảo mắt nhìn quanh, nhưng không thấy bóng dáng Thạch Sum đâu cả. Đống lửa trại giữa sân gạch vẫn còn cháy đỏ rực, lác đác vài tên cướp vận “xà rông” mình trần, chai rượu cập nách, bước chân quờ quạng, cố lắc lư cái mông, uốn éo thân mình, bàn tay đảo qua, đảo lại, nhún nhảy trong vũ điệu “lâm thol” theo tiếng trống bập bùng. Có tên chưa nhảy múa giáp vòng đã lăn kềnh trên mặt đất, nôn mửa lênh láng.

Thấy thời cơ thuận tiện đã đến, Hai Rồng bò trở lui, phóng mình qua bờ tường đất, nhảy ra bên ngoài. Tư Long nóng ruột, hỏi:

-“Bên trong đó ra sao rồi, chú Hai?”

-“Chúng ta chuẩn bị nhảy vô mục tiêu! Chúng nó thằng nào, thằng nấy say khướt, ngất ngư con tàu hết rồi,” Hai Rồng, nói. “Anh Tư đeo cái túi vải trên lưng dùm tôi, rồi chúng ta nhảy vào bên trong từng người một.”

Hai Rồng đu người lên bờ tường đất trước, ngồi chàng hảng theo kiểu chân trong, chân ngoài, kéo từng người một lên, rồi thả họ xuống bên trong. Tư Long là người lên sau cùng. Họ chia ra làm hai toán, mỗi toán 5 người phụ trách phóng hỏa một dãy nhà sàn. Hai Rồng và Tư Long phụ trách đốt dãy nhà sàn chính giữa cho Thạch Sum chạy ra. Những chai xăng được mở nút, nhét giẻ vào làm thành bom xăng, rồi họ tự động phân tán, chạy nương theo bờ tường đất lặng lẽ như những bóng ma, tiến đến mục tiêu đã chỉ định.

Khoảng 15 phút sau, mọi người nhìn thấy dãy nhà sàn của Thạch Sum phát hỏa trước, kế đến là hai dãy nhà sàn phát hỏa. Những mái nhà lợp bằng lá cây thốt lốt, gặp gió bốc cháy dữ dội, sáng rực cả một gốc trời. Sau đó, Hai Rồng dẫn các các anh em chạy ra án ngữ trước cổng trại, không cho tên nào chạy thoát. Cảnh hỗn loạn bắt đầu diễn ra ngoài sự ước đoán của Hai Rồng, tiếng người chạy rầm rập trên căn nhà sàn, tiếng trẻ con la khóc, tiếng đàn bà gào thét, tiếng ông già, bà lão kêu cứu thất thanh:

-“Bờ lưng chây! Bờ lưng chây! Bờ lưng chây… Choi! Choi! Choi…” (lửa cháy! Lửa cháy! Lửa cháy… Cứu! Cứu! Cứu…

Mấy mươi tên cướp bị ma men nhập, ngửi thấy mùi khói khét lẹt, tiếng gào thét kêu cứu thất thanh, cố gắng đứng dậy, cũng chỉ đi được vài bước loạng choạng, rồi ngã lăn đùng trên mặt đất, nằm bất động. Anh em lực điền nhốn nháo cả lên, không biết giải quyết thế nào, hối hả tìm Hai Rồng, hỏi:

-“Bây giờ tính sao đây, chú Hai?”

Hai Rồng thét to cho mọi người nghe:

-“Hãy lo cứu đàn bà, trẻ con, ông già, bà lão ra khỏi biển lửa trước đã! Đừng chần chờ gì nữa!”

Và mọi người chỉ chờ có vậy, tất cả lực điền hăng hái chạy xông vào các dãy nhà sàn đang bốc cháy để lo cứu người. Đám con hát “dù kê” cũng cởi hết xiêm y, áo mão, tiếp tay với họ, di tản mọi người ra bờ sông. Cái bản chất của người dân Nam Bộ là như thế đó: chân chất, hiền hòa. Lòng thù hận đã phải nhường bước trước lòng nhân đạo và họ quên hết nhiệm vụ là tới đây để tiêu diệt kẻ thù.

Bền và Tư Kê cùng toán cài chông ngoài bờ sông làm xong nhiệm vụ, nằm phục kích bên ngoài chờ động tĩnh. Khi thấy bên trong trại phát hỏa, lập tức phóng hỏa đốt cầu tàu, rồi dẫn tất cả chạy vào bên trong trại trợ chiến. Bền sững sốt thấy các chiến sĩ của mình, tay bồng tay bế trẻ con, người thì cõng ông già, bà lão trên lưng, tập trung ra giữa sân, lần lượt được chuyển ra bờ sông. Bền thấy tía đang chỉ huy cuộc di tản, liền chạy tới hỏi cho ra lẽ:

-“Tía à, họ đánh đấm kiểu gì, kỳ cục vậy, tía!”

Hai Rồng nói:

-“Ngày mai là ngày Lễ hội truyền thống của đồng bào Miên; có lẽ, một số về quê quán đoàn tụ với gia đình. Số còn ở lại giữ doanh trại thì gia đình đến đoàn tụ cùng vui với họ. Khi các dãy nhà bốc cháy, tía mới phát hiện thân nhân của họ đông như thế. Họ là những kẻ vô tội, chúng ta không thể nhẫn tâm thấy họ chết thiêu trong lửa đỏ.”

-“Số anh em của con, có ai bị đổ máu không, tía?”

-“Có đánh đấm nhau đâu mà có đổ máu. Bọn cướp say như chết đang nằm bất động ở trên sân. Con nói với anh em dùng khăn quàng cổ trói tất cả bọn chúng lại, rồi lôi họ ra bờ sông cho tía!”

-“Còn Thạch Sum ở đâu?”

-“Tía không thấy!” Hai Rồng nói. “Chắc Thạch Sum đang trên đường trở về doanh trại cũng không chừng!”

Sau khi tất cả mọi người được di tản ra ngoài bờ sông, bên trong trại chỉ còn là một biển lửa cháy đỏ trời. Hai Rồng, Tư Long và Bền điểm danh lại số anh em lực điền hiện diện trên bờ sông, chỉ còn thiếu có Tư Kê. Bền thất sắc nói:

-“Con nghĩ, chắc thằng Tư Kê gặp nạn ở bên trong, để con chạy trở vô trong tìm nó nghe, tía!”

Nói xong, Bền chạy xông vào trong biển lửa tìm cứu bạn; thời may, thấy Tư Kê đang té nằm sóng sượt trên sân gạch mà hai tay vẫn còn ôm chặt cứng một vật gì đó, được quấn kín lại trong một cái mền. Trong cái biển lửa khói mù mịt, nóng hừng hực tưởng chừng gần lột da. Bền dìu Tư Kê đứng dậy, ôm xốc nách bạn, chạy ra bờ sông. Mọi người xúm nhau chạy tới đở Tư Kê nằm xuống đất, mặt mày lem luốt, một mảng tóc bị cháy xém. Tư Kê tháo cái mền đang ôm trong lòng cho mọi người xem, đó là thằng bé mủm mỉm đang mở cặp mắt tròn xoe, nhìn Tư Kê mỉm cười. Thì ra, Tư Kê liều mạng cứu đứa bé đang nằm trong nôi, vừa lúc chạy xuống cầu thang bị hụt chưn, ngã xuống sân gạch bị lọi chưn, nhưng tay vẫn ôm chặt thằng bé, cố lết ra bờ sông, may mà có Bền chạy trở vô cứu bạn kịp lúc. Bền bế đứa bé, đi tìm mẹ nó giao lại. Một bà mẹ trẻ nhìn thấy con mừng quá, kêu rú lên:

-“Orkun chran! Okun chran!” (Cám ơn)

Hai Rồng ước tính tình hình không sai, dân Miên sống dọc bên kia bờ sông, thấy trại của Thạch Sum nửa đêm phát hỏa, biết có biến, họ đốt đuốc sáng rực, chạy rần rần trên bờ, gõ chiêng trống, la hét ầm ỹ vang động một gốc trời. Họ vác dao mác, gậy gộc, cuốc xẻng xuống ghe, xuồng bơi qua sông tiếp cứu. Bền chỉ huy anh em lực điền đứng dàn hàng ngang trên bờ sông, chận họ lại. Họ thấy cầu tàu đã phát hỏa, bèn nhảy ùm xuống nước, lội vào bờ bị vướng phải chông cài, đau đớn, giẫy giụa trong đám cỏ lác.

Sau khi dự dạ tiệc liên hoan, đón giao thừa với các quan chức tại Svay Riêng, Thạch Sum liền cùng với thủ hạ xuống chiếc ghe ngo, chèo trở về doanh trại. Trên đường về còn cách trại vài cây số, Thạch Sum thấy khói lửa bốc lên ngùn ngụt, cháy sáng rực một gốc trời. Đoán chừng doanh trại đã xảy ra chuyện gì bất trắc, hắn đôn đốc thủ hạ chèo nhanh tay hơn, chiếc ghe ngo tăng tốc, rẽ nước lướt tới. Vừa thấy chiếc ghe ngo của Thạch Sum xuất hiện trên sông, dân Miên đứng trên bờ lên tinh thần, vỗ tay reo mừng vang dội:

-“Krap – tul Sana! Krap – tul Sana!” (Hoan hô Nguyên soái!)

o O o

Hai Rồng biết Thạch Sum đã trở về, bình tĩnh đứng trên bờ sông chờ đợi trận “long tranh, hổ đấu”. Bền đứng bên cạnh tía, còn tất cả anh em lực điền đứng dàn trận phía sau lưng, chờ động thủ. Riêng Năm Dần ngồi trên cháng cây, cho đạn lên nòng súng… Thạch Sum thấy cầu tàu bị đốt cháy, ra lệnh cho thủ hạ chèo ghe ngo xấn bừa vô đám lau sậy. Hắn chụp lấy cây sào tre ở trên ghe, phóng xuống nước, kéo cong cây sào lại, rồi nương theo sức bật của cây sào, phóng người bay lên bờ sông một cách ngoạn mục. Đám thủ hạ lấy ván lót sàn ghe, quăng xuống đám cỏ lát rồi chạy lên bờ nên không bị vướng chông. Thạch Sum nhìn thấy doanh trại của bị đốt cháy thành bình địa, còn đám thuộc hạ bị trói ngô lại nằm, ngồi la liệt dưới đất. Hắn điên tiết lên, gầm thét như hổ dữ bị trúng thương, đôi mắt hắn long lên đỏ ngầu, nhìn mọi người như muốn ăn tươi nuốt sống.

Bền vói tay ra sau lưng, rút thanh đoản kiếm ra, nhanh như cắc phóng tới, chém tạt một đường gươm từ ngực phải xuống, quét một đường ngang bụng rồi vuốt lưỡi kiếm lên ngược lên nhanh như ánh chớp. Một mảnh vải hình tam giác, tách rời khỏi cái áo chẽn của Thạch Sum đang mặc, từ từ rơi xuống đất. Thạch Sum xé toạc cái áo, quăng xuống đất, ngửa mặt lên trời cười ha hả, rồi vận nội công, các cơ bắp toàn thân nổi lên cuồn cuộn. Và bộ ngực trần vừa bị Bền chém ba nhát, không để lại một vết trầy trụa. Bền và anh em lực điền đều thất kinh.

Bỗng Hai Rồng khoát tay, ra lệnh:

-“Tất cả mọi người hãy lui ra, để tôi đấu với Thạch Sum.”

Hai Rồng bình tĩnh bước tới, đối diện với Thach Sum, đồng thời cởi phăng cái áo bà ba quăng xuống đất, tháo thanh đoản kiếm trên lưng đưa cho Bền. Thạch Sum nhìn Hai Rồng một cách ngạo mạn, cởi cái xà rông đưa cho thuộc hạ, chỉ còn mặc cái quần đùi. Cả hai lấy bờ sông làm sân đấu trước một biển lửa cháy sáng rực để tranh hùng. Hai Rồng vận nội công, những khớp xương chuyển động nghe răn rắt, bắp thịt ở vai và lưng gồ lên như lưng gấu. Tuy nhiên, so về thể lực, Thạch Sum mang vóc dáng của một lực sĩ. Nhưng, ở Hai Rồng là một sự kết hợp kỳ diệu về sức mạnh tiềm tàng của một mãnh hổ và tinh thần giao đấu khôn ngoan đầy mưu lược, với phương pháp chiến đấu dầy dạn kinh nghiệm, tùy cơ ứng biến, linh động chiến đấu để đối phó với mọi tình huống và những mánh lới gian trá của địch thủ mạnh hơn mình về sức mạnh và võ nghệ cao cường hơn mình.

Đứng trước một địch thủ vô cùng lợi hại như Thạch Sum, Hai Rồng vẫn bình tĩnh bước vào trận đấu với thái độ ung dung và thận trọng. Hai Rồng thay đổi đấu pháp sở trường là tấn công ồ ạt vào những yếu huyệt đề nhanh chóng loại địch thủ. Hai Rồng áp dụng lối di chuyển thân pháp linh động, vờn quanh địch thủ như mèo vờn chuột, đôi chân thoăn thoắt lúc tiến, thoái nhịp nhàng lấy tĩnh chế động. Ngược lại, Thạch Sum nôn nóng, mất bình tĩnh muốn hạ ngay địch thủ cho hả cơn giận dữ.

Bỗng Thạch Sum gầm lên, phóng tới trước mặt địch thủ, ra đòn “thần xà cước”, năm đầu ngón chân chụm lại, đá chọt mũi chân vào yết hầu của Hai Rồng, đây là một thế đá hạ địch thủ nhanh chóng, dùng ngón chân trỏ, gát tréo lên ngón chân cái, mổ tới như rắn hổ mổ vào yết hầu, ngực. Nếu trúng phải ngọn cước nầy là bị loại ra khỏi vòng chiến ngay lập tức. Hai Rồng nhanh chóng xuống “trảo mã tấn”, chân trái trụ vững chắc, nhích chân phải tới trước rùn người xuống, nghiêng mình qua phải, dùng cánh tay phối hợp với vai vừa đở, vừa hất tung bàn chân của Thạch Sum lên, tung quả đấm móc từ dưới lên bắp đùi của địch thủ làm Thạch Sum rút chân về, lùi lại. Hai Rồng bám sát theo, phóng người lên bay tới, ra đòn “phi tiêu cước”, đánh gối phải vào cằm địch thủ. Thạch Sum không thèm tránh né, dùng đầu chận ngọn “phi tiêu cước”. Một tiếng “bốp” khô khan vang lên, Hai Rồng cảm thấy đầu gối ê ẩm như chạm phải vào một khối đá. Hai Rồng bồi tiếp theo đòn “bạt phong trữu” dùng chỏ đánh tạt từ ngoài vào mặt của Thạch Sum và nhảy vọt ra ngoài đứng thủ thế. Cái chết của võ sư Lý đã để lại cho Hai Rồng một kinh nghiệm là không thể coi thường cái “thiết đầu” của Thạch Sum.

Thạch Sum phản công, phóng tới nhanh như con báo đen, tung đòn “giáng quyền” từ trên đấm xuống đỉnh đầu của địch thủ. Hai Rồng dùng bàn tay phải đẩy tạt quả đấm của địch thủ sang một bên và ngã người xuống phóng ra ngọn “thiết tiêu cước” dùng mũi chân đá móc ngược vào “cữu vĩ huyệt” giữa ngực địch thủ. Thạch Sum dùng cạnh bàn tay phải vừa đở đòn, vừa chém mạnh vào ống quyển của đối thủ. Hai Rồng bị trúng đòn, mất đà ngã xuống đất, lăn mấy vòng rồi đứng bật dậy. Thạch Sum không bỏ lở cơ hội, bay người lên xoay hông, phóng ngọn “đảo sơn cước”, đá vòng từ ngoài vào thượng bộ địch thủ bằng cạnh trong bàn chân phải. Hai Rồng ngồi thụp xuống thật nhanh né đòn, hai tay che kín rồi đầu, rồi ra đòn “nghịch tảo cước” đá phản đòn, xoay người theo chiều kim đồng hồ, đá bằng gót chân phải vào mặt phía sau chân trái của địch thủ, hất tung Thạch Sum lên, ngã bổ nhào.

Đây là lần đầu tiên trong đời võ sĩ, Thạch Sum gặp phải tay “kỳ phùng địch thủ”, nhưng vẫn lăn xả vào tấn công địch thủ như con cọp điên. Hai Rồng lui về thế thủ tránh né đòn để giữ sức, chờ thời cơ tung đòn quyết định. Và sau một giờ quần thảo ác liệt, Thạch Sum điên tiết lên, mắt đổ hào quang, mồ hôi tuôn ra như tắm và bắt đầu thắm mệt, nhưng vẫn quyết liệt tấn công, dồn Hai Rồng về phía chân tường đất để dứt điểm. Thạch Sum vận toàn lực, phóng người lên tung cước, đá thẳng bằng gót chân phải bay tới cổ địch thủ thế mạnh như vũ bão. Hai Rồng vẫn bình tĩnh, không tránh né, vận nội công, dùng lòng bàn tay úp xuống làm nắm đấm, ra đòn “trực quyền” đấm thẳng vào lòng bàn chân của địch thủ, làm Thạch Sum bị đẩy văng ra phía sau, bàn chân đau buốt, còn Hai Rồng bị ngã tựa lưng vào bờ tường. Bất ngờ, Hai Rồng phóng người lên, dùng hai chân đạp vào bờ tường lấy trớn, bay người lên. Thạch Sum chỉ thấy cái bóng của địch thủ bay vút lên như cánh chim đại bàng chụp xuống. Thạch Sum bàng hoàng, ngơ ngác chỉ còn đủ thời giờ vận nội công, bế các huyệt đạo. Hai Rồng xoay người, dồn cả sức mạnh vào chân phải, phóng ra ngọn “đoạt mệnh truy hồn cước”, đá móc gót vòng thật dữ dội và vô cùng chính xác vào cổ của địch thủ, chỉ nghe Thạch Sum kêu “hự” một tiếng thật to, cả thân người của Thạch Sum văng bắn lên, rồi rơi bịt xuống lăn mấy vòng trước cổng doanh trại.

Trong cuộc đời của Hai Rồng đã trải qua biết bao nhiêu trận đấu và chưa có cao thủ nào chịu nỗi cú đá bạt sơn “đoạt mệnh truy hồn cước”, chỉ trừ có Thạch Sum là không hề hấn gì, nhờ có phép gồng mình đồng da sắt. Hắn đưa hai chân ra phía sau rồi búng đôi chân ra phía trước, đứng bật dậy như cái lò xo. Nhưng, Thạch Sum chưa kịp hoàn hồn thì thấy bóng đen của địch thủ hình như từ trong biển lửa lao vút về phía hắn như con hổ vồ mồi, Thạch Sum chóa mắt, chỉ kịp nhìn thấy ngón tay trỏ và ngón giữa của địch thủ căng ra hình chữ V như hai cái móc sắt. Hai Rồng sử dụng chiêu “long tu song chỉ” (hai sợi râu rồng) chọc thẳng vào đôi mắt địch thủ. Thạch Sum hoãng hốt, chỉ còn kịp dùng cạnh bàn tay phải án ngữ trước sóng mũi, chận ngọn “long tu song chỉ” của địch thủ. Nhưng, đó chỉ là hư chiêu, Hai Rồng lập tức biến thế thành “long tu nhất chỉ” bằng cách co ngón tay giữa vào lòng bàn tay, rồi xoay nhẹ nắm tay về bên trái, ngón trỏ lướt nhẹ trên mu bàn tay của địch thủ, xỉa thẳng vào hốc mắt phải của hắn. Thạch Sum cảm thấy hốc mắt phải đau nhói, nhắm mắt chờ Hai Rồng hạ độc thủ…Nhưng bất ngờ, Hai Rồng sử dụng “cầm nã thủ”, nắm lấy cổ tay phải của Thạch Sum đưa lên cao. Miệng hô to:

-“Sana, kôch chơnia! Sana, kôch chơnia! Sana, kôch chơnia!” ( Nguyên soái là kẻ chiến thắng).

Tất cả đồng Miên có mặt theo dõi trận thư hùng đều vỗ tay cuồng nhiệt, hoan hô kẻ chiến thắng là người hùng của họ. Còn Bền thất vọng ra mặt, nói với Tư Long:

-“Trận đấu nầy, tía con đã bị Thạch Sum đánh bại! Nó sẽ giết tía con đó, ông Tư,” Bền nhìn chung quanh, nói tiếp. “Ông Tư và mấy anh em cõng vài tên cướp bị trói làm con tin, rút lui ra chỗ dấu xuồng, trở về làng trước đi.”

Tư Long hỏi:

-“Còn cháu thì sao?”

-“Con nhứt định ở lại chiến đấu bên cạnh tía con! Sống chết có nhau cho tròn đạo nghĩa,” Bền nhìn Tư Long giục. “Thôi, ông và anh em rút lui theo kế hoạch đi!”

Bền nói xong, rút hai thanh đoản kiếm, hăm hở xông lên phía trước, giải thoát cho tía. Nhưng, Tư Long đã nhanh tay chận lại, nói:

-“Khoan đã, cháu nhìn xem họ kìa!”

Thạch Sum đang thân mật bắt tay Hai Rồng, đổi thù thành bạn. Cả hai đều là anh hùng, hảo hán của một thời ly loạn nên tôn trọng và kính phục lẫn nhau. Thạch Sum vô cùng ngưỡng mộ thái độ hào hùng, quân tử của địch thủ Hai Rồng, chẳng những nhường phần chiến thắng cho mình, để bảo vệ danh dự cho Sana Thạch Sum trước mặt đồng bào Miên và đám thủ hạ. Hai Rồng đã dùng một chiêu thật đơn giãn “Long tu song chỉ” để đánh bại Thạch Sum, đệ nhất cao thủ xứ Chùa Tháp lúc bấy giờ. Nếu như ngón tay trỏ của Hai Rồng xỉa thẳng vào hốc mắt phải của Thạch Sum thì cục diện tại vùng biên giới Việt – Miên sẽ thay đổi theo một chiều hướng khác, bất lợi cho cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp sau nầy. Ngồi trên cháng cây trên bờ sông, Năm Dần nín thở theo dõi trận đấu cho đến khi kết thúc, ngón tay không rời cò súng, sẵn sàng nhả đạn…Sau đó, họ cỡi trói cho bọn cướp, mọi người cùng tiếp tay đưa những người vướng phải chông gài dưới bờ sông lên bờ, băng bó vết thương. Rồi xếp thành hai hàng dài, chuyền nước sông lên, dập tắt ngọn lửa dù đã cháy gần tàn.

Sau khi ngọn lửa được dập tắt, bỗng có một người đàn ông, đầu quấn chiếc khăn rằn rất Việt Nam, râu ria lồm xồm, đeo một con dao phay ngang lưng, hắn kề tai Thạch Sum nói nhỏ; hình như, họ trao đổi với nhau một chuyện gì đó và Thạch Sum mĩm cười, gật đầu. Ông ta tự giới thiệu bằng tiếng Việt thật rành rọt:

-“Quê tôi ở Sóc Trăng, người Việt gốc Tiều, còn vợ tôi là người Tiều lai Miên. Ở đây là quê vợ nên tôi biết nói tiếng Việt một ít.”

-“Ông cho biết quí danh?” Hai Rồng hỏi.

-“À, tôi tên Tăng Hùng,” ông ta nói. “Sana Thạch Sum muốn mời tất cả quý bạn ở lại dùng bữa tiệc lễ đón mừng năm mới Choi – Chnam – Thmay của dân tộc Cao Miên cùng với chúng tôi tại đây. Chúng tôi đã chuẩn bị món ăn quốc túy của đồng bào Miên đó là món “bê nướng lửa than”, định sáng mai sẽ bày tiệc mừng, chúc thọ Sana Thạch Sum. Không biết các anh đồng ý không?”

Hai Rồng vui vẻ bắt tay Thạch Sum gật đầu, đồng ý ngay. Tăng Hùng cho người đóng hai cái giá hình chữ X xuống đất và nhóm lửa, rồi cho người chèo ghe qua bên sông, chở một con bê thui vừa mới mọc sừng non đã được cạo lông sạch, họ dùng một cọc gỗ vót nhọn xõ xuyên dọc theo mình con bê, để gát trên hai cái giá bằng gỗ hình chữ X, quay đều trên lửa hồng và vài vò rượu “chu êm” làm bằng nước thốt nốt ngọt ngào được ngâm ủ lên men có màu đục đục, mang hương vị chua chua, ngọt ngọt như một thứ rượu nhẹ, uống nhiều thì có thể say. Để có loại rượu độc đáo nầy để dành cho Thạch Sum đãi khách quí, người Miên phải lên tận vùng núi cao tìm một số dược thảo có tên “tà pu phờ lơn” hoặc “săng ke phờ lơn”, đem về thái mỏng, phơi khô rồi cho vào “cà om” bằng đất nung. Sau đó, họ đổ nước thốt nốt vào ủ. Bọt từ đáy “cà om” sủi tăm lên liên tục, khoảng một tuần sau, nước sẽ trong lại, có màu trắng đục là có thể uống được. Còn món ăn “bê nướng lửa than” cũng là món ăn truyền thống của dân Miên, có nguồn gốc từ thời xưa dành cho giai cấp trưởng giả quý tộc. Sức nóng của than hồng làm cho da bê căng ra, thịt săn cứng lại. Muốn ăn, thực khách chỉ việc dùng dao bén lụi vào mình con bê, rạch ngang một đường, thịt bê sẽ lòi ra và thịt sẽ tái dần với sức nóng của than hồng, thịt bê được cắt ra và xắt mỏng ăn với đủ loại rau sống. Bữa tiệc hóa giải hận thù Việt – Miên kéo dài tới khi gần sáng thì mọi người chia tay nhau. Tư Long hứa sẽ nói cậu Hai bảnh sẽ chở vật liệu và người sang cất lại doanh trại cho Thạch Sum.

Sau trận “Long tranh, hổ đấu” đó, hòa bình đã vãn hồi suốt dãy biên giới Việt – Miên từ rạch Sở Hạ, rạch Cái Cái, hố Cái Bát, kinh Cái Cơ…cho đến tận làng Thái Bình Trung, thôn Bình Hiệp. Bọn thổ phỉ người Miên không còn vượt biên giới vào các làng mạc dọc biên giới để cướp phá như xưa nữa. Và nếu như, con mắt bên phải của Thạch Sum bị Hai Rồng chọc thủng thì cục diện tại vùng biên giới sẽ thay đổi theo một chiều hướng khác, hoàn toàn bất lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp do Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khởi xướng sau nầy. Vì đối với đồng bào Miên sống dọc biên Việt – Miên rất sùng bái Thạch Sum, nhất định họ sẽ vì Thạch Sum trả thù khốc liệt và cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam sẽ bùng nổ.

Trời vừa hừng sáng, vợ chồng Hai Bảnh, Thu Hương, và thân nhân các anh em lực điền tụ tập trên bờ kinh Cái Cơ, nóng ruột chờ con em họ trở về. Và trong ánh bình binh rực rỡ, mọi người vỗ tay reo hò mừng rỡ khi thấy Hài Rồng đứng trước mũi xuồng vừa xuất hiện trên sông, vẫy tay chào mọi người. Nối đuôi theo sau là đoàn xuồng của anh em lực điền, Hai Rồng đã hoàn thành nhiệm vụ của dân làng giao phó và đem mọi người trở về an toàn với chiến thắng vẽ vang. Riêng Tư Long, giờ đây mới biết lý do tại sao Hai Rồng phải hành động như vậy, càng kính phục tài trí song toàn của Hai Rồng. Xuồng vừa cập bến, mọi người lần lượt bước lên bờ. Hai Rồng vội vàng từ giã mọi người để trở lại cù lao Ông Chưởng cùng với Bền. Nhưng, Tư Long cản lại, nói:

-“Dân làng yêu cầu chú Hai và Bền ở lại dùng bữa cơm thân mật với họ trước khi chia tay; vả lại, cậu Hai bảnh cũng có một chút chuyện nhờ chú Hai giúp đở, rồi hãy lên đường cũng chưa muộn mà.”

-“Thôi, vậy cũng được!” Hai Rồng nói. “Tôi cũng có vài đề nghị với cậu Hai Bảnh trước khi tôi và cháu Bền từ giã nơi nầy. Thôi, chúng ta vô nhà nói chuyện.”

Cậu Hai Bảnh cả mừng, nói:

-“Chuyện là như vầy: Hồi tuần trước có một người ở quận Tịnh Biên xuống đây gặp tôi, nhờ tôi lên núi Ông Cấm túc Thiên Cẩm Sơn bắn hạ hai con cọp dữ, ăn thịt rất người lên núi hái thuốc. Dân làng dưới chân núi sợ quá, gọi kiêng là “Thần hổ Thiên Cẩm Sơn” và tôi đã nhận lời rồi. Việc tôi muốn nhờ chú Hai là để cháu Bền cùng đi với tôi lên Châu Đốc, leo núi Ông Cấm săn hổ dữ,” cậu Hai Bảnh hỏi. “Chú Hai nghĩ sao, có được không?”

Hai Rồng nói:

-“Việc nầy, tôi hỏi ý kiến của Bền trước đã, nếu cháu muốn ở lại giúp cậu Hai. Tôi nghĩ, việc giúp dân làng giết cọp dữ trừ hại cho bá tánh, chắc Bền không từ chối.”

Tư Long lật đật đi ra ngoài, gọi:

-“Cháu Bền ơi! Vô trong nhà có việc cần hỏi cháu!”

Bền đang thao thao bất tuyệt kể lại trận đột kích vào sào huyệt Thạch Sum đêm qua cho mọi người đang xúm xít lắng nghe. Bỗng nghe chú Tư Long gọi, vội vàng chạy tới, hỏi:

-“Chú Tư gọi cháu, có việc gì chỉ bảo không?”

-“Vô nhà đi, rồi nói chuyện!” Tư Long nói.

Bền ngồi sà xuống bên cạnh tía, hỏi:

-“Chừng nào mình lên đường vậy, tía?”

-“Cậu Hai Bảnh muốn con ở lại đây một thời gian ngắn, để cùng đi lên Châu Đốc, giúp cậu Hai trừ cọp dữ ở núi Cấm,” Hai Rồng nói. “Việc nầy, tía để con quyết định. Muốn đi với tía hay ở lại giúp cậu Hai là do con tự quyết định.”

Bền suy nghĩ giây lát, nói:

-“Con đồng ý ở lại giúp ông Bảnh với điều kiện.”

-“Điều kiện gì, con?” Hai Rồng hỏi.

-“Sau khi giúp ông Hai trừ được cọp dữ, con trở lại đây, chờ tía tới đón con nghe, được không tía?”

-“Tía hứa sẽ tới đây, đón con đi với tía!” Hai Rồng nói. “Giúp nước, giúp dân đều là bổn phận của tía con mình. Giúp cậu Hai Bảnh giết thú dữ trừ hại cho dân làng dưới chân núi Cấm là một chuyện rất đáng làm.”

-“Chừng nào tía lên đường?” Bền hỏi.

-“Sau bữa cơm trưa, tía sẽ lên đường về cù lao Ông Chưởng,” Hai Rồng quay sang cậu Hai Bảnh nói. “Mặc dầu Thạch Sum đã chứng tỏ lòng thành đã đưa tiễn chúng tôi tới tận dòng sông biên giới. Nhưng, cậu Hai nhắc nhở mấy anh em phải luôn luôn đề cao cảnh giác, nhất là đêm nay và những ngày sắp tới, đề phòng Thạch Sum có thể cho bộ hạ tới đánh úp!”

Tư Long nói:

-“Chú Hai yên tâm, tôi sẽ làm theo lời dặn dò của chú Hai.”

-“À quên, đừng có liên hoan, nhậu nhẹt say sưa trong lúc nầy. Còn một việc rất quan trọng nữa, cậu Hai Bảnh nên mua ván gỗ chở tới sào huyệt Thạch Sum, giúp họ xây dựng lại nhà cửa đã cháy rụi, để thắt chặt tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Miên.”

Hai Bảnh cười, nói:

-“Việc nầy tôi đã nghĩ tới rồi, tôi sẽ mua ván gỗ tại mấy trại cưa ở Mộc Hóa, họ sẽ chở thẳng tới doanh trại của Thạch Sum. Chú Hai yên tâm!”

-“Được như vậy thì hay lắm!” Hai Rồng nói.

Sau bữa cơm trưa tập thể tại khu nhà ăn tập thể. Hai Rồng bắt tay từ giã mọi người. Hai Rồng ôm Bền vào lòng, nói:

-“Tía tạm gởi con tại đây giúp cậu Hai Bảnh một thời gian, chưa biết là bao lâu. Một ngày nào đó, tía sẽ trở lại đây đón con. Nhưng, nếu một mai tía có hy sinh cho đất nước, con phải sống cho nên thân nghe, Bền!”

Bền rưng rưng nước mắt, nói:

-“Xa tía, con nhớ lắm!”

Hai Rồng nói:

-“Đại trượng phu đổ máu, chớ không đổ lệ! Đừng khóc con! Hãy nhớ, phải sống cho nên thân là tía vui lòng rồi.!”

Sáu Trí nói:

-“Hẹn gặp lại anh Hai tại cù lao Ông Chưởng một ngày không xa!”

Hai Rồng vẫy tay chào từ giã mọi người, bước xuống ghe tam bản, nhổ sào chèo ra giữa dòng. Nhìn chiếc ghe theo dòng nước từ từ trôi xa, Bền bỗng dưng đổi ý, vùng chạy theo, nói:

-“Tía ơi, cho con đi theo với tía! Con không chịu ở lại đây đâu!”

Hai Rồng ngoảnh mặt lên bờ, nhìn Bền lần sau cùng, khoát tay, nói:

-“Trở lại đi con, đừng có chạy theo bịn rịn nữa!”

Biết không thể nào lay chuyển được quyết định sắt đá của người tía nuôi kính mến. Bền thét to:

-“Tía ráng bảo trọng nghe, tía!”

Chiếc ghe từ từ trôi xa, chỉ còn là một chấm đen di động lung linh trên rạch Long Khốt. Thằng Bền quyến luyến, nó trèo lên tuốt ngọn dừa trên bờ rạch, dõi mắt nhìn theo cho đến khi chiếc ghe tam bản mất hút sau mấy rặng trâm bầu…

—> Chương 15

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.