DỤ SỐ 10 CÓ ĐƯỢC HOÀN TOÀN HỦY BỎ HAY KHÔNG? (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)

DỤ SỐ 10 CÓ ĐƯỢC HOÀN TOÀN HỦY BỎ HAY KHÔNG?

“Vi nhơn nan, vi nhơn nan”: Làm người khó, làm người khó. Làm người đã khó, nhưng những người “làm” chính trị lại khó hơn; và đặc biệt, những người đã và đang là lãnh đạo của các tổ chức chính trị, thì lại càng khó hơn đến muôn vạn lần. “Khối Ấn Quang” là một tổ chức chính trị dưới lớp vỏ bọc là “Phật giáo”; và khi nói lên những điều này, người viết nghĩ rằng, đã có rất nhiều người cũng đã biết một cách chắc chắn như thế, song vì nhiều lẽ khác nhau, nên họ không chịu nói ra những sự thật hiển nhiên ấy.

Sở dĩ, phải nói một cách thẳng thắn: “Khối Ấn Quang” là một tổ chức chính trị, nhưng phải núp dưới cái lớp vỏ bọc là “Phật giáo” để với những mưu đồ, và cũng là một cuồng vọng để tái lập Lý triều, mà người viết đã chứng minh qua nhiều bài viết trước đây, với mục đích để tiến đến việc “thành lập chính phủ miền Trung” bằng những cuộc thảm sát, những cuộc xuống đường, biểu tình đòi chính phủ Việt Nam Việt Nam Cộng Hòa phải từ chức, đòi Mỹ phải rút quân, đòi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải thả hết tù binh Việt cộng… ; đòi chính phủ VNCH phải trả tướng Nguyễn Chánh Thi trở về vùng I; cho đến khi chính phủ trả tướng Thi trở lại Vùng I, nhưng không có quyền hành gì cả, thì “Khối Ấn Quang” liền đem bàn thờ Phật xuống đường, để áp lực chính phủ…; và đã thành lập ra cái gọi là “Phật Giáo Xã Hội Đảng”, để bảo vệ “một chính phủ trong một chính phủ, hay một quốc gia trong một quốc gia”.

Nên nhớ, một khi đã thành lập đảng rồi, thì đương nhiên”Khối Ấn Quang” đã không còn là một tôn giáo nữa. Những hành vi ấy, đã chứng minh rằng: “Khối Ấn Quang” là một tổ chức chính trị. Ngoài những hành vi chính tri, “Khối Ấn Quang” còn là một tổ chức khủng bố như đã tiến hành những cuộc bạo loạn bằng cách đốt nhà, giết chết đồng bào vô tội, trong số đó, có những trẻ em, và đã từng đem bàn thờ Phật xuống đường, để bên cạnh những đống rác rưởi hôi tanh, hoặc những cống rãnh bẩn thỉu, với mục đích để cướp chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Những cuộc bạo loạn ấy, chỉ chấm dứt khi các sư sãi của “Khối Ấn Quang” đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng, để nghinh rước bộ đội Bắc Việt vào chiếm cứ các thành phố tại miền Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa vào những ngày trước 30/4/1975.

Tất cả những hành vi phi tôn giáo ấy, đáng lẽ ra, “Khối Ấn Quang” là một tổ chức chính trị, thì cần phải biết những sự gì cần phải đào sâu, chôn chặt, giấu kín, giấu cho thật kỹ, đừng ngụy biện, đừng nhắc lại, vì những điều ấy, chỉ gây bất lợi cho “Khối Ấn Quang”.

Và, một trong vô số những điều chắc chắn phải gây bất lợi vô cùng cho “Khối Ấn Quang”, thì chính là cái Dụ số 10. Ấy thế, mà “Khối Ấn Quang” cứ nhắc đi, nhai lại cái Dụ số 10, trên các diễn đàn.

Chính vì những lẽ ấy, dù trước đây, người viết đã có nói ra rồi, nhưng xét thấy, cho đến ngày hôm nay, mà “Khối Ấn Quang” mỗi ngày vẫn cứ lôi cái Dụ số 10 lên trên các diễn đàn, nên một lần nữa, người viết phải nhắc lại một cách vắn tắt như sau:

“Khối Ấn Quang” đã từng đem cái Dụ số 10, để chống phá, nhằm lật đổ chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, và cho đến tận bây giờ cũng vẫn cho là “Dụ số 10 đã hoàn toàn bị hủy bỏ”. Nhưng như thế nào, để được gọi là “đã bị hủy bỏ” , và có thực sự đã “bị hủy bỏ” hay không, thì nhân đây, kính mời quý độc giả hãy đọc lại những “Nghị định” và “Sắc lệnh” trước ngày 30/4/1975, và tự suy nghĩ cho thật kỹ, vì người viết không muốn giải thích.

Và bây giờ, xin kính mời quý vị hãy cùng nhau đọc lại những phần trích dẫn của các văn bản sau đây, để thấy được một cách rõ ràng hơn:

“Hiến Chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Làm tại chùa Xá lợi 20-11-ÂL – 2507 (4-1-1964).

Do Tổng trưởng Nội Vụ ban hành bằng nghị định số 329. BNV/KS ngày 24-3-1964.

Chiếu theo Dụ số 10, ngày 6 tháng 8 năm 1950, sửa đổi bởi Dụ số 24 ngày 19-11-1952, và Dụ số 07 ngày 3-4-1954 ấn định quy chế Hiệp hội và trong khi chờ đợi ban hành quy chế mới về các tôn giáo.

Chiếu đơn xin đề ngày 3-3-1964 số 0344 – VI/VP của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất.

Nghị định:

Điều thứ nhất: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được phép thành lập trong khuôn khổ của luật lệ hiện hành.

Ký tên: Hà Thúc Ký
Tổng trưởng Nội Vụ

***

Và, đây là “sắc lệnh” của Nguyễn Khánh:

Việt Nam Cộng Hòa
Số 158/SL/CP

Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng
Kiêm thủ tướng Chính phủ

Chiếu Dụ số 10 ngày 6-8-1950

Sắc lệnh:

Điều 1: Nay công nhận Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cùng Bản Hiến chương ngày 4-1-1964.

Điều 2: Dụ số 10 ngày 6-8-1950 cùng các luật lệ trái với sắc luật này không áp dụng đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Sài Gòn, ngày 14-5-1964
Ký tên: Nguyễn Khánh.

***

Nên biết, khi nói về “phần chiếu” như “Chiếu Dụ số 10”, tức là phần Luật pháp quy chiếu, để lập ra một bản lập quy, quy định… thì vẫn là Dụ số 10, hay là từ Dụ số 10, chứ không phải hủy bỏ Dụ số 10. Nói một cách dễ hiểu, là tất cả những “Sắc lệnh” ấy không hề ghi “hủy bỏ Dụ số 10”, mà chỉ “Chiếu Dụ số 10”. Vì thế, cho nên Dụ Số 10 vẫn chưa được hủy bỏ.

Một điều nữa, “Khối Ấn Quang” đừng quên, ngoài hai chữ ký theo “Nghị định” của ông Hà Thúc Ký: Tổng trưởng Nội Vụ, và “Sắc lệnh” của tướng Nguyễn Khánh, còn có một sắc lệnh khác đã ban hành vào ngày 18/7/1967 như sau:

“Việt Nam Cộng Hòa
Sắc lệnh số 023/67

Chuẩn y Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Quốc Tự và thu hồi Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ký tên:
Nguyễn Cao Kỳ
Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương”.

0 O o

Quý vị độc giả, đã đọc qua các “Nghị định” và “Sắc lệnh”. Bây giờ, người viết xin trở lại “Dụ số 10; với những dẫn chứng ở trên, thì “Khối Ấn Quang” cần phải biết một điều sơ đẳng, mà những người có sự hiểu biết đều không phủ nhận được:

Muốn hủy bỏ Dụ số 10, thì trên cương vị là Tổng Thống, như cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng như các vị Tổng Thống khác, không có quyền để hủy bỏ; bởi vì, điều ấy, phải do sự đồng thuận từ Quốc Hội, rồi sau đó, mới có thể được “thông qua”, tiến đến một “sắc lệnh” và trở thành một đạo luật mới.

Như vậy, ngày xưa, vào thời Đệ nhất và cả Đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa “Khối Ấn Quang” đã có rất nhiều người là Nghị sĩ, Dân biểu ở cả lưỡng viện Quốc Hội; thế nhưng, họ đã không làm điều đó, để có được chính danh, thì ngày hôm nay, khi nhắc lại Dụ số 10, là một sự “ngây thơ” để chứng tỏ cho mọi người thấy được những bất lợi do Dụ số 10 chưa được hoàn toàn hủy bỏ.

Tuy nhiên, nếu có chăng là “Quốc Hội” của chế độ Cộng sản Hà Nội có thể “hủy bỏ Dụ số 10”; bởi sau ngày 30/4/1975, “Khối Ấn Quang” đã có nhiều “cư sĩ” và hàng sư sãi “cao cấp” đã là dân biểu “Quốc hội” của chế độ Cộng sản Hà Nội, nên có thể những sư sãi “dân biểu” này, vì đa số, nên đã áp đảo được “Quốc hội” của Việt Nam Cộng sản, để “hủy bỏ Dụ số 10”, mà chưa ai được biết đó thôi.

Và, đây là hai “dân biểu” nỗi tiếng hàng đầu của “Khối Ấn Quang”:

Trước hết, là “Dân biểu” Diệp Trương Thuần, tức “Đệ tam Tăng thống” Thích Đôn Hậu, sinh năm Ất Tỵ (16/2/1905) tại làng Xuân An, xã Thiện Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1945: Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Trung Bộ, kiêm Chủ tịch Hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên, trụ trì chùa Thiên Mụ (Huế).

Năm 1947: Cố vấn Đạo hạnh Hội Phật giáo Trung phần.

Năm 1949: Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Trung Việt.

Năm 1952: Tại Đại hội giáo hội Tăng già toàn quốc được “suy cử” làm Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc.

Năm 1963: “Cố vấn Phong trào đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm”.

Năm 1968 (Tết Mậu Thân): Với những chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam – Ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam- Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Miền Vạn Hạnh (tức miền Trung).

Với những “công lao” của Thích Đôn Hậu cả đạo lẫn đời như đã kể, Thích Đôn Hậu đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng như nhiều người đã biết, nên ngày 28/2/1969: Thích Đôn Hậu đã nhân danh “Đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” ra Bắc gặp Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng, nhìn vào những tấm hình chụp trong buổi “tiếp kiến” này cho thấy Thích Đôn Hậu ngồi đối diện Hồ Chí Minh, bên cạnh là Tôn Đức Thắng, tất cả có mặt 12 người, trong đó có Phùng Văn Cung.

Do những “công lao” to lớn đối với “cách mạng” Thích Đôn Hậu đã được Hà Nội đưa đi thăm nhiều nước như: Nga, Tiệp Khắc, Mông Cổ… và đi dự nhiều hội nghị quốc tế cộng sản.

Năm 1976: Đắc cử đại biểu Quốc hội cộng sản khóa VI đơn vị Bình-Trị-Thiên, và là “Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.

Năm 1981: Tại Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào… Thích Đôn Hậu đã được “suy cử” vào Hội đồng chứng minh và giữ chức Phó pháp chủ kiêm giám luật. Đã được Hà Nội trao tặng những phần thưởng như sau:

Huân chương Hồ Chí Minh – Huân chương Độc lập – Huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân …”

Nhưng nhắc đến “dân biểu” Diệp Trương Thuần, mà không nhắc đến một nữ “dân biểu” cũng nỗi tiếng không thua kém, thì là một sự thiếu sót; đó là nữ “dân biểu” Nguyễn Thị Trừ, cũng với một “tiểu sử” được đảng cộng sản Hà Nội ghi công như sau:

“Dân biểu Nguyễn Thị Trừ, tức “Ni sư Huỳnh Liên”: sinh năm 1923, tại làng Phú Mỹ, Mỹ tho, Tiền Giang. Cha là Nguyễn Văn Vận, mẹ là Lê Thị Thảo, mất ngày 16/04/1987, là một “ni sư” nổi tiếng của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, tức “Khối Ấn Quang”).

Năm 1943 khi được 20 tuổi, Nguyễn Thị Trừ đã quy y tại Phật Đường Minh Sư, tu học theo hạnh cư sĩ tại gia. Bà kế tục sự nghiệp Tổ Thầy, trực tiếp lãnh đạo hàng Ni chúng Khất Sĩ trong phận sự Ni Trưởng Ni năm 1954.

Từ năm 1960 đến năm 1975, Ni Sư Huỳnh Liên âm thầm và công khai tham gia đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Sau đó từ năm 1975, là thành viên Đoàn Đại Biểu miền Nam Hiệp Thương Thống Nhất Tổ Quốc Việt Nam. Mất ngày 16 tháng 4 năm 1987.

Hoạt động:

Từ năm 1947 đến năm 1954, bà là Trưởng tử Ni trong hàng đệ tử của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang.

Từ năm 1954 đến năm 1987, Ni sư đảm nhận chức Ni Trưởng Giáo Hội Ni Giới Khất Sĩ Việt Nam.

Từ năm 1976 đến năm 1987, Phó Chủ Tịch Ban liên lạc Phật Giáo yêu nước TP. HCM.

Từ năm 1980 đến năm 1981, Ủy viên Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam.

Từ năm 1981 đến 1987, Ủy viên kiểm soát Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Từ năm 1976 đến năm 1980, Đại biểu Quốc hội Khóa VI. Nhiều nhiệm kỳ là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc TP HCM, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trân Tổ quốc Việt Nam, Phó chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hòa bình thế giới của TP HCM.

Tên của Ni sư Huỳnh Liên được đặt cho một con đường tại Quận tân Bình, TP HCM”.

Trên đây, là những điều hoàn toàn đúng với sự thật. Thế nhưng, bao nhiêu năm qua, “Khối Ấn Quang” vẫn luôn luôn dùng những lời vọng ngữ, hay ngụy biện, để cố tình bám giữ lấy cái “Hiến chương GHPGVNTN”, vì ngoài cái “Sắc lệnh” nhưng vẫn “Chiếu Dụ số 10” của tướng Nguyễn Khánh, thì không có ai chấp nhận một cái “Hiến chương”, mà cựu TT Nguyễn Văn Thiệu bác bỏ với những lời phán rằng:

“Không thể chấp nhận một chính phủ trong một chính phủ; hay một quốc gia trong một quốc gia”.

Và đến đây, để tạm kết thúc bài này, người viết xin trích lại những đoạn phân tích của Tiến sĩ Bùi Như Hùng như sau:

Dụ Số 10 do một tín đồ Phật Giáo làm ra:

Năm 1950 Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Đạo dụ số 10, điều chỉnh các tổ chức hội đoàn, trong đó các tôn giáo được xem như các hiệp hội. (nên biết “các tôn giáo, chứ không riêng cho một tôn giáo nào)

Đạo dụ này đặt ra những hạn chế đối với các hội đoàn, tôn giáo (không riêng là Phật giáo) như chỉ cho phép các hội đoàn, tôn giáo có nguồn thu nhập là các lệ phí hội viên (hình thức đặt thùng lạc quyên, công đức là bất hợp pháp).

Hạn chế bất động sản của các hội, tôn giáo: Chính quyền có thể buộc đấu giá các bất động sản của các hiệp hội, tôn giáo; chính quyền vì lý do trị an có thể không cấp phép hoặc thu hồi giấy phép lập hội…

Bình luận:

1.- Ai lập ra dụ số 10!: Bảo Đại. Một tín đồ Phật Giáo.

2.- Phật Giáo hồi TT Ngô Đình Diệm là một tôn giáo đựơc TT Diệm tặng lương để xây dựng và tu bổ chùa. Trong khi không một nhà thờ nào được TT Ngô Đình Diệm thí cho một xu. TT Ngô Đình Diệm thiên vị Phật Giáo rõ ràng.

3.- Một tôn giáo thường có ba phần: Tín lý, Giáo Lý, và tổ chức cũng như phụng sự. Xét các điểm:

3.1.- Phật Giáo tin có niết bàn, tin có luân hồi. Tuy không chứng minh được nhưng phải tin. Về tín lý, Phật Giáo thỏa mãn đều kiện: Có tín lý. Không đặt vấn đề dị đoan hay không dị đoan tại đây!

3.2- Về Giáo Lý: Có một số giáo lý phải tuân theo. Về điều kiện giáo lý, Phật Giáo thỏa mãn.

3.3.- Về tổ phụng sự và tổ chức giáo hội. Phật Giáo có cách phụng sự của Phật Giáo. Điều kiện phụng sự đựơc thỏa mãn.

3.4.- Về tổ chức thành một Giáo hội thống nhất. Có vấn đề. Vì các chùa trước kia độc lập với nhau và không có một hệ thống trung ương kiểm soát các kẻ tu hành.

3.5.- Do đó ai là đại diện chính thức đây? Tất cả và không một ai có thẩm quyền cả dưới thời Đệ I Cộng Hòa. Khi chính phủ công nhận, thời phải có một ban lãnh đạo trung ương, chịu trách nhiệm đối với chính quyền và kiểm soát các chùa chiền để tránh kẻ bất nhân làm ô uế cửa Phật. Khi có chuyện gì, chính phủ hỏi ai đây? Hỏi cái chùa ấy, hay hỏi ban lãnh đạo trung ương. Lẽ đương nhiên là hỏi ban lãnh đạo trung ương!

3.6- Muốn được nhìn nhận như một tổ chức. Chính tổ chức ấy phải có hiện diện với thực lực và chính tổ chức ấy phải làm đơn xin nhìn nhận. TT Thích Trí Quang có ra lệnh đựơc cho HT Thích Quảng Độ không? Hay ngược lại? Chắc là không. Thời Chính phủ phải công nhận cả hai. Nhưng Phật Giáo là một. Sao lại có hai tổ chức lãnh đạo? Hơn nữa nếu có đơn xin nhìn nhận, đơn ấy có từ bao giờ và do ai đứng ra? Và đâu là trả lời của TT Ngô Đình Diệm?

Tiên phải trách kỷ hậu mới trách nhân. Nhớ câu ấy!”.

Như vậy, một lần nữa, người viết xin lập lại: Các “Nghị định” và “Sắc lệnh”đã nêu trên, đều không hề có một chữ nào để gọi là “hủy bỏ Dụ số 10”. Chính vì thế, cho nên, trước ngày 30/4/1975, Dụ Số 10 chưa được hủy bỏ.

Paris, 27/01/2013
Hiệu đính ngày 20/09/2015
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Mời tham khảo: DỤ SỐ 10

This entry was posted in * Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, Bình-luận - Quan-điểm. Bookmark the permalink.