DỤ SỐ 10

DỤ SỐ 10 ngày 6/8/1950

Chương thứ Nhất

Nguyên Tắc:

Điều 1 – Hội là Hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.

Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.

Điều 2 – Các hội có mục đích phi pháp hay trái phong tục đều vô hiệu lực cả.

Điều 3 – Hội viên của Hội lập vô thời hạn hay Hội có thời hạn nhất định vẫn có quyền ra hội bất cứ lúc nào, sau khi đã nộp đủ số tiền góp đã đến hạn nộp và tiền góp thuộc về năm xin ra hội.

Chương thứ Nhì

Các Hội được phép thành lập

Điều 4 – Những hội nói ở điều thứ nhất của đạo dụ này phải được Tổng trưởng Bộ Nội vụ ra Nghị định cho phép thành lập sau khi hỏi ý kiến Thủ hiến, theo như các thể lệ định ở Dụ này mới được hoạt động.

Nếu hội chỉ hoạt động trong phạm vi một phần Việt Nam thì Thủ hiến chiếu ủy nhiệm của Tổng trưởng Bộ Nội vụ mà ra nghị định cho phép thành lập: sau khi cho phép, Thủ hiến phải trình Tổng trưởng Bộ Nội vụ.

Riêng đối với hội thanh niên và thể thao, Bộ trưởng Bộ Thanh niên Thể thao được sử dụng những thẩm quyền dành cho Tổng trưởng Bộ Nội vụ nhưng phải hiệp ý với Tổng trưởng Bộ Nội vụ.

Điều 5 – Những hội được phép thành lập đều có tư cách pháp nhân theo thể Dụ này.

Điều 6 – Hội sở của hội ở địa hạt tỉnh nào thì những người sáng lập phải đệ đơn cho ông Tỉnh trưởng tỉnh ấy; nếu ở các thành phố thì đơn do Thị trưởng thu nhận; ở Sài Gòn – Chợ Lớn thì đơn đó do Quận trưởng thu nhận.

Người sáng lập hội phải đã 21 tuổi (tính theo Dương Lịch) không can án, khinh tội và trọng tội.

Đơn xin phép phải đính theo ba bản Điều lệ và bản Tư pháp Lý lịch của người sáng lập hội.

Trong điều lệ phải kê rõ các khoản sau này:

  1. Mục đích của hội
  2. Tên hiệu của hội
  3. Hội sở
  4. Hạn điều ước
  5. Thể lệ vào hội
  6. Nghĩa vụ và quyền lợi các hội viên
  7. Tài sản của hội
  8. Thể lệ động sản và bất động sản của hội
  9. Họ, tên, tuổi các người sáng lập hội
  10. Thể lệ về việc cử và bãi những người quản trị và những quyền hạn của người ấy
  11. Duyên cớ giải tán hội
  12. Thể lệ thanh toán và quy dụng tài sản của hội.

Điều 7 – Tổng trưởng Bộ Nội vụ, nếu hội hoạt động trong toàn quốc hoặc ngoài địa hạt một phần Việt Nam; hay Thủ Hiến, nếu hội chỉ hoạt động trong địa hạt một phần Việt Nam, có quyền bác khước không cho phép lập hội mà không cần phải nói lý do.

Phép cho rồi có thể bãi đi vì trái điều lệ hay vì lẽ trị an.

Việc bãi bỏ chức vụ có quyền cho phép lập hội phải theo thủ tục tương tự như khi cho phép thành lập.

Điều 8 – Hạn trong một tháng kể từ ngày nhận nghị định cho phép, nhân viên trong ban trị sự phải đăng trong Công báo Việt Nam hay Hành chính Tập san (các phần Việt Nam) một bản báo cáo nói rõ ngày được phép thành lập hội, nghị định do chức vụ nào ký, danh hiệu, mục đích của hội và hội sở.

Điều 9 – Phàm thay đổi khoản gì trong điều lệ thì hạn trong một tháng phải xin phép theo thể thức như khi thành lập hội và những sự thay đổi ấy chỉ có giá trị sau khi đã được chuẩn y.

Điều 10 – Nếu có sự gì thay đổi trong việc trị sự của hội thì hạn trong một tháng phải trình cho Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn, để chiếu hệ thống cai trị tường trình Thủ hiến và Tổng trưởng Bộ Nội vụ biết. Khi nhận được tờ khai, các nhà chức trách phải phát biên lai cho đương sự.

Những tờ khai ấy phải nói rõ:

  1. Những sự thay đổi trong nhân viên Ban Trị sự hay Giám đốc.
  2. Những chi nhánh, doanh sở mới lập.
  3. Những sự thay đổi địa chỉ của hội sở.
  4. Những việc mua bán bất động sản theo thể lệ nói ở điều thứ 14 dụ này và phải đính theo tờ trình một bản phác tả và kê giá mua, giá bán những bất động sản ấy.

Điều 11– Những sự thay đổi nói ở điều 10 chỉ có giá trị đối vói đệ tam nhân kể từ ngày khai trình với nhà Chức trách và khi đã báo cáo theo như thể thức định ở điều 8.

Điều 12 – Nhũng sự thay đồi trong việc trị sự và những điều thay đổi điều lệ phải biên rõ vào một quyển sổ để tại trụ sở của hội và phải biên rõ ngày khai và ngày duyệt y những sự thay đổi ấy.

Các nhà Chức trách Hành chính, Tư pháp có quyền đến trụ sở đòi hỏi xem quyển sổ ấy.

Quyển sổ này phải do Tỉnh trưởng, Thị trưởng hoặc Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn, hay những người được các vị ấy ủy nhiệm, đánh số trang và ký tên, đóng dấu ở trang đầu, trang cuối.

Các tư nhân cũng có thể xin xem tại Phủ Thủ hiến, các Tòa Tỉnh trưởng, Thị trưởng và Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn những điều lệ, tờ khai và tất cả các điều thay đổi của hội hay xin phép trích lục, nhưng phải chịu tiền phí tổn về phát trích lục.

Điều 13 – Các hội chính trị và các hội đồng nghiệp ái hữu, mỗi năm, trong tuần lễ sau khi họp Đại hội đồng thường niên, phải theo hệ thống cai trị gởi cho Thủ hiến sở tại để chuyển lên Tổng trưởng Nội vụ hai bản danh sách các hội viên và hai bản kê tình hình tài chánh và tự rõ các căn nguyên cùng việc sử dụng tiền tài của hội.

Điều 14 – Không hội nào có quyền nhận tiền trợ cấp của Chính phủ, của các quỹ địa phương, quỹ hàng tỉnh và quỹ hàng xã, trừ những hội khoa học, mỹ nghệ, tiêu khiển, từ thiện, thanh niên và thể thao.

Các hội đều có quyền thu và sử dụng tiền góp của hội viên và quyền thưa kiện tại tòa án.

Ngoài ra, các hội chỉ có quyền chiếm hữu, tạo mãi, quản trị, đứng làm sở hữu chủ những bất động sản thật cần thiết để đạt mục đích của hội.

Những người có liên quan và Công Tố viên có quyền xin toàn án hủy bỏ những việc tạo mãi bất động sản trái với điều này. Bất động sản ấy sẽ đem bán đấu giá và được bao nhiêu tiền sẽ sung vào quỹ hội.

Điều 15 – Các hội có thể lập ra trong một thời hạn vĩnh viễn hay tạm thời.

Nếu là thời hạn tạm thời thì trong điều lệ phải nói rõ đến thời kỳ nào hợp đồng của hội sẽ hết hạn.

Có thể định rằng khi nào mục đích của hội đã đạt rồi thì hợp đồng của hội sẽ hết hiệu lực.

Điều 16 – Không cứ là trong điều lệ của hội định về thời hạn hợp đồng lâu chóng thế nào, phàm có đa số hội viên quyết định giải tán, hội sẽ giải tán.

Tuy nhiên, trong điều lệ của hội, có thể bắt buộc rằng sự quyết định ấy phải do đa số hội viên như thế nào, hoặc do cả hội đồng tình mới được.

Điều 17 – Phàm đã mãn thời kỳ định trong điều lệ hoặc đã đạt mục đích của hội rồi thì hội giải tán như thường.

Khi nào số hội viên giảm xuống dưới số ít nhất đã định trong điều lệ, hay là chỉ còn có một hội viên thì tự nhiên chiếu luật, hội sẽ đình chỉ trước thời kỳ đã định.

Điều 18 – Điều lệ của hội có thể bắt buộc người vào hội có tư cách riêng thế nào hay là phải do một Tiểu Hội đồng hoặc do toàn thể hội viên hay ít nhất hai phần ba hội viên chuẩn hứa trước mới được.

Điều 19 – Điều lệ có thể định rõ các khoản trục xuất hội viên và cách thức thi hành việc ấy.

Cứ lý thì quyền trục xuất ấy là quyền của đa số hội viên.

Điều 20 – Điều lệ định rõ nghĩa vụ cùng quyền lợi của hội viên. Người nào đã vào hội thì bắt buộc phải tuân theo điều lệ của hội.

Điều 21 – Không hội viên nào được quyền lợi riêng về tài sản của hội trong thời kỳ đương còn hội.

Điều 22 – Phàm hội là một Pháp nhân có những quyền lợi khác với quyền lợi của từng hội viên một.

Hội có tài sản riêng và có thể hành vi mọi việc về hộ luật đã định trong điều lệ để quản lý tài sản ấy.

Sự thi hành nghĩa vụ của hội có thể trích từ tất cả các tài sản của hội.

Điều 23 – Phàm chủ trương trị sự quản lý cùng thay mặt cho hội, thì do một hay nhiều hội viên của hội đã giao quyền tổng đại lý đối với đệ tam nhân.

Trong điều lệ có thể tăng hay giảm quyền hạn ấy.

Điều 24 – Người nào đã do trong hội giao quyền đại lý thì trước khi hết hạn có thể xin từ được, nhưng nếu thuộc về việc dân sự thì người ấy vẫn phải chịu trách nhiệm về công việc làm trong khi quản lý.

Khi người đại lý chết thì những người thừa kế phải chịu trách nhiệm về các công việc quản lý của người ấy đã làm cho đến ngày chết.

Điều 25 – Đại Hội đồng có quyền tuyệt đối trong hội. Đại Hội đồng do những người thay mặt hội đứng chiêu tập.

Sự Chiêu tập ấy cứ theo như khi đã định trong điều lệ cùng là khi một phần từ trong hội viên thỉnh cầu mà làm.

Điều 26 – Đại Hội đồng sẽ định đoạt về việc nhận hội viên vào hội hay trục xuất hội viên khỏi hội, cử các người thay mặt hội kiểm soát việc làm của họ và có thể bãi nhiệm vụ họ nếu có duyên cớ chính đáng.

Đại Hội đồng xét xử mọi việc thuộc về các cơ quan khác của hội.

Điều 27 – Hội viên nào cũng có quyền bỏ phiếu như nhau trong kỳ Đại Hội đồng.

Các việc hội nghị do đa số hội viên có mặt quyết định.

Điều 28 – Số tiền góp phải định rõ trong điều lệ. Nếu trong điều lệ không định rõ thì các hội viên đều đóng góp như nhau để chi vào các khoản cần tiêu theo mục đích của hội và để trả nợ.

Điều 29 – Các hội viên ra hội hoặc bị trục xuất thì mất cả quyền lợi về tài sản của hội.

Điều 30 – Sau khi hội đã được phép thành lập, ban trị sự phải trình cho nhà đương chức sở tại và Tổng trưởng Bộ Nội vụ hay Thủ hiến, theo hệ thống cai trị, bản nội quy của hội và nếu sau này có điều sửa đổi cũng phải trình những sự sửa đổi ấy.

Điều 31 – Các hội đã được phép thành lập phải hoạt động theo đúng mục đích của hội đã tự trong điều lệ. Khi nào xét ra một hội đã quả thị trực tiếp hay gián tiếp theo những mục đích khác với mục đích trong điều lệ, thì hội sẽ bị giải tán và các hội viên, nhân viên ban trị sự có thể bị truy tố tại tòa án.

Điều 32 – Những hội không được phép thành lập thì coi như không có và tất cả những hoạt động của hội đều coi như vô hiệu lực và hội sở của hội ấy thuộc quản hạt toà án tỉnh ấy có quyền giải tán.

Người nào cũng có quyền trình tòa án để xin giải tán các hội không được phép thành lập.

Điều 33 – Những hội viên Sáng lập, những hội viên Giám đốc và Quản trị các hội không được phép thành lập, nay đã được phép nhưng sau lại bị giải tán, mà vẫn cứ hoạt động hay lại tự tiện lập trái phép, hay đã hoạt động ra ngoài mục đích định trong điều lệ hội để đạt mục đích trái phép hay trái phong tục, sẽ bị phạt từ 50 đồng bạc đến 5.000 đồng bạc và phạt giam từ 6 ngày đến 6 tháng.

Hội viên thường sẽ bị phạt giam từ 6 ngày đến 2 tháng và phạt bạc từ 50 đồng bạc đến 200 đồng bạc, hay trong hai thứ phạt ấy phải chịu một.

Những người dung túng cho họp các hội không được phép thành lập hay đã bị giải tán cũng có thể bị phạt như trên.

Tòa án truy tố sẽ ra lệnh giải tán hội.

Những hội viên sáng lập, những nhân viên trong ban trị sự phạm vào điều thứ 8, 9, 10, 12, 13, và hoạt động ngoài mục đích của hội đã định trong điều lệ sẽ bị phạt từ 50 đồng bạc đến 200 đồng bạc, nếu tái phạm có thể bị phạt gấp đôi.

Chương thứ Ba

Hội được công nhận có ích lợi chung

Điều 34 – Những hội đã được phép thành lập theo thể lệ Dụ này có thể được công nhận là hội có ích lợi chung bằng sắc lệnh của Quốc trưởng do Tổng trưởng Bộ Nội vụ đề nghị và sau khi hỏi ý kiến Hội đồng Tổng trưởng.

Điều 35 – Đơn xin công nhận có ích lợi chung phải do những người được Đại Hội đồng ủy nhiệm ký đệ.

Điều 36 – Đơn ấy phải kèm theo những bản sau này:

  • 1 bản Nghị định cho phép hội thành lập.
  • 1 bản trình rõ căn do lập hội, sự tiến đạt của hội và mục đích ích lợi chung của hội.
  • 2 bản điều lệ.
  • 1 bản kê hội sở, các chi nhánh, các doanh sở của hội cùng địa chỉ.
  • 1 bản kê sáng lập hội viên, nhân viên trong ban trị sự có ghi rõ tên, tuổi, nghề nghiệp, quốc tịch, cùng sinh trú quán.
  • 1 bản kê khai tình hình tài chánh của hội về hai năm sau cùng.
  • 1 bản kê khai các bất động sản, động sản và trái khoán của hội.
  • 1 bản trích lục biên bản Đại Hội đồng cho phép làm đơn xin Chính phủ công nhận là hội có ích chung.

Các bản nói trên phải do những người ký đơn đoan nhận là đúng.

Điều 37 – Đơn phải đệ trình Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn, Thị trưởng, Tỉnh trưởng sở quan.

Các viên chức ấy sẽ hỏi ý kiến Hội đồng Thị Xã hoặc Hội đồng hàng Tỉnh, nếu có, rồi đệ hồ sơ lên Thủ hiến. Thủ hiến sẽ chuyển đệ lên Tổng trưởng Bộ Nội vụ và kèm theo một tờ tường trình nói rõ ý kiến của mình. Tổng trưởng Bộ Nội vụ sẽ khởi nghị dự thảo sắc lệnh đệ trình Quốc trưởng quyết định tại Hội đồng Tổng Trưởng.

Điều 38 – Hội được công nhận có lợi ích chung có thể hành vi mọi việc mà điều lệ không cấm; như hội chỉ có quyền chiếm hữu và tạo mãi các bất động sản cần thiết cho mục đích của hội thôi. Tiền lưu trữ của hội phải đặt lãi bằng phiếu ký danh quốc trái. Hội có thể thâu nhận những tài sản mà hội được người ta tặng lúc sinh thời hay sau khi quá cố, nhưng phải do nghị định Tổng trưởng Nội vụ cho phép.

Nếu trong những tặng vật có những bất động sản xét ra không cần thiết về việc hoạt động của hội, thì các bất động sản ấy phải phát mãi theo cách thức và thời hạn định trong nghị định cho phép thâu nhận ấy. Phát mãi được bao nhiêu sẽ sung vào công quỹ của hội.

Hội không được nhận các tặng vật bằng động sản hay bất động sản với điều kiện là người tặng vật vẫn được quyền hưởng dụng.

Điều 39 – Những quy tắc ở các điều 8, 9, 10, 11, 12, 30 và 33 ở dụ này đều thi hành cho cả hội được công nhận có ích lợi chung.

Chapter IV

Rules applicable both to authorized associations and to associations recognized as being in the public interest.

Article 40. In the event of dissolution of an association, whether voluntary or statutory or upon court or administrative order, its assets will be liquidated and disposed of according to its by-laws, or, in the absense or any provision on the by-laws, in accordance with rules established at a general meeting.

Article 41. If the by-laws of the association do not specify the manner in which the assets shall be liquidated and disposed of, or if the general meeting does not so specify, the court shall, upon application by the procureur général, appoint a liquidator, who, for the entire period of the liquidation, shall have the powers of receiver.

During such period, the receiver shall convene a general meeting to decide on the manner of liquidation and disposal of the assets.

If for any reason, a general meeting cannot be convened, the receiver shall ask the court to
rule on the liquidation and disposal of the assets.

Article 42. If it is the general meeting which decides these matters, it may not award to any member a share larger than his own contribution to the association.

Chương thứ Năm

Tổng tắc

Điều 43 – Những luật lệ nào trái với Đạo Dụ này và nhất là Đạo Dụ số 73 ngày mùng 5 tháng 7 năm 1945 về việc lập nghiệp đoàn đều bị bãi bỏ đi cả.

Nghiệp đoàn nào đã thành lập rồi, phải tạm ngưng hoạt động và trong thời hạn là một tháng, kể từ ngày ban bố Dụ này, Ban Quản trị của các nghiệp đoàn ấy sẽ phải chiếu các thể thức lập hội do Đạo Dụ này ấn định mà hợp pháp hóa hội đó, nếu không sẽ coi như giải tán.

Điều 44 – Chế độ đặc biệt dành cho các Hội Truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội, sẽ đuợc ấn định sau.

Điều 45 – Dụ này sẽ đăng vào Công Báo và mang thi hành như Quốc Pháp.

Làm tại Việt Nam ngày mồng 6 tháng 8 năm 1950
BẢO ĐẠI

T.L.Thủ tuớng Chính phủ đi công cán
Tổng truởng Bộ Tư Pháp
Xử lý Thường vụ
NGUYỄN KHẮC VỆ

(nguồn: http://hon-viet.co.uk/)

 

This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.