KHI NGƯỜI LÍNH “THUA CUỘC…” (Tình Hoài Hương)

a.linh 22 chientranh tanpha_1445323817Khi Người Lính “Thua Cuộc…”
Tình Hoài Hương
*

Hầu như suốt hơn hai tuần qua, nhóm di tản chúng tôi hùn tiền để nấu cơm ăn chung, tối tối ngủ nhờ ở trong góc vĩa hè, (dưới mái hiên nhà thờ Huyện Sĩ). Lòng tôi trĩu nặng nỗi ray rứt muộn phiền, sầu đắng theo từng cơn lắc léo luồng chảy trên dòng đời phức tạp, điệp trùng núi tiếp núi đồi tiếp đồi, chập chùng bóng tối hoang vu, tĩnh lặng kỳ lạ. Người ta càng ồn ào, náo nhiệt buôn buôn bán bán, đổi chác bao nhiêu thứ lăng xăng, thì tôi càng lo lắng, bồn chồn, ray rứt bấy nhiêu. Tôi cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, dường như bị bỏ rơi giữa đời, không nơi nương tựa. Cuộc sống dày vò tôi suốt đoạn đường ly hương trên quê cha đất tổ; khi chồng tôi cầm tờ giấy trình diện đi “học tập cải tạo” mười bốn ngày, (than ôi 14 ngày, hay là mười bốn năm, nào ai biết!!!) được ghi thêm câu thòng-lọng:

– … , … sau nầy nếu cần, phải trình diện theo đường lối khoan hồng.

Mấy bạn cùng chồng tôi đứng xớ rớ ngoài gốc cây sao, gần trung tâm trình diện, họ đã nghe cán bộ phóng loa thông cáo thứ hai ra đời:

– Quân nhân cấp: Úy, Tá, Trưởng phòng, Trưởng ty, Sở, đi học một tháng!

Một ông thượng úy khác dõng dạc thòng thêm câu:

– Các anh có biết: Jean De Lattre De Tassigny không? Ông ta là Tư-lệnh quân đội viễn chinh Pháp đấy.

Ông ta có cậu con trai là trung úy Bernard De Lattre, vào tháng 5 năm 1951 tên Bernard đã bị đàn anh của chúng tôi, (mà hồi xưa thường gọi các “đồng chí” ấy là Việt Minh đấy), chặt đầu tại Ninh Bình. Các đồng chí ấy cột cái xác không đầu vào thân con trâu, họ phát một cái rõ mạnh vào mông con trâu, thế là con trâu ù té chạy xộc vào trong đơn vị trú đóng của Bernard. Khiến quân đội viễn chinh hoảng loạng, chúng lo đầu hàng gấp, cút xéo về Tây, chạy có cờ! Bọn thực dân mà còn sợ kinh như thế, huống hồ ai… Hử?

Rợn người! Dẫu Luật thì-thầm bên tai, nhưng tôi chẳng thể nghe gì. Tôi chỉ thấy tiềm ẩn trong tâm tư: hình ảnh diễm kiều của đường chiều trong dáng hoàng hôn ve vuốt, nâng niu bao ước vọng thanh bình, an ấm của con người thuở xưa bay bổng lâng lâng dâng lên cao vút. Nay đã phũ phàng rơi cái độp xuống vực thẳm mênh mông không đáy. Rồi sẽ ra sao đây khi anh (chồng tôi “cù lần, dại… dột nghe người ta ngọt ngào lừa phỉnh”), Luật đã dứt khoát rủ bỏ tất cả, để rứt áo ra đi… vô trại tập trung, mong tiến tới ngày mai, anh dấn thân tới vùng tương lai mù mờ, sâu hoắm, mịt mùng, mà tôi không thể; không làm sao ngăn cản anh nỗi)!? Vì Luật lý luận với tôi:

– Cái bóng vinh quang của anh (trước ánh mặt trời) đã lùi lại sau lưng, quá khứ đối diện với hiện tại mới là chuyện cần đương đầu với tương lai. Cuộc sống mới ra sao, không quan trọng nữa; mà mình cần biết là ta đang sống, sẽ sống với ai, làm gì với ai. Em à.

Phía sau và đằng trước con đường đầy sương mù đó, hầu như còn đọng lại cái nhìn gay gắt, lạnh lùng (của con tàu định mệnh) có nửa quá khứ hào hùng, và nửa tương lai mù tối, đang trôi lênh đênh theo từng cuộn mây trắng đục trên đầu. Rồi sẽ ra sao nữa đây? Khi chồng tôi ở một nơi nào xa xăm biền biệt không tin tức, và tôi: bà vợ ngu ngơ đần độn, cùng bầy con ngây thơ thủng thỉnh dò dẫm từng bước thấp cao, với mẹ già lum khum một nẽo rị mọ đớn hèn, chúng tôi cùng dắt díu nhau phiêu lãng lang bạt nơi nao? Bao tủi nhục làm thân cô thế khô, tôi sẽ biến dạng làm con rùa lọt tọt, con cò lẹt đẹt âm thầm lặn lội kiếm sống trong Mười Tám Thôn Vườn Trầu Bà Điểm, Hóc Môn? Chao ôi! Da diết buồn đau biết mấy!!!

Chẳng hiểu sao lòng tôi dấy lên một cảm khúc quặn lòng, đớn đau, chua xót, đắng cay, nghèn nghẹn ứ nghẽn vô bờ?! Tôi cảm thấy dường như mình hẩng hụt, chơ vơ, lạc lõng khát khao từ mọi phía. Hơn hai tuần đã qua, mắt còn ngái ngủ, bỗng chốc tôi bàng hoàng gặp giữa khuya trùng trùng lớp lớp, toàn những khuôn mặt xa lạ, lạnh lùng, thô thiển và bất nhẫn. Chúng tôi lo sợ những cuộc trả thù triền miên đột nhiên dội vào đời. Cơn sốt “Hòa-bình” trong âm mưu chính trị đã đến, nhiều kẻ hắc ám hí hửng hân hoan, reo vui, mừng rỡ đón chào khách lạ phương xa. Cũng có người bồn chồn, lo sợ tột cùng, dè dặt, bơ vơ, đầy ngao ngán, lặng im, tò mò, hiếu kỳ, và nhút nhát rụt rè như tôi. Mọi người mưu tìm cho chính thân cuộc sống mới, đầy bon chen, kỳ thị, chính kiến từ cơn lốc cao độ trong nền chính trị (“30/4 giống đúc đêm giao thừa”)!

Chiến cuộc giao tranh tàn khốc thì đổ máu, hận thù, tang thương, cay đắng, và chết chóc. Còn hoà bình lại ngậm ngùi bi thương ở muôn mặt khác. “Thanh niên phụ nữ 30” từ đâu đâu chả biết, ồn ào hí hửng đeo băng đỏ, mang súng AK đi đầy đường. Đám thanh niên ngồi trên xe lam phóng loa kêu mọi quân nhân và công chức đi trình diện. Đột nhiên họ trở thành những tay “sừng sỏ”, là những ông Trời con đầy uy quyền nhất trong buổi giao thời lộn xộn kinh khủng nầy. “Nhân, nghĩa, trí, tín” của những tên đeo băng đỏ chẳng khác nào bàn tay lật ngửa là trắng, khi úp xuống thì mặt đen lòi ra.

Tôi ngậm ngùi mãi suy nghĩ về: “quyền lực” trong buổi giao thời thật vô cùng chua xót và đớn đau!!! Quyền lực là một cây kiếm không có khả năng: nói, nghe, nhìn… Khốn thay nó lại cảm thụ trong nội tâm từ âm thanh, là con dao hai lưỡi, chỉ cần có người thách thức với “ta”, bất kể người đó là ai, thì nó cũng có thể chém xuống những lát kiếm nguy hiểm; và bước vô trận chiến để tranh giành ngôi vị mà sinh tồn. Quyền lực có hai mặt: Có điều đúng và có điều sai. Quyền lực mà ai đang nắm trong tay (cho dù đó là kẻ chiến thắng) không phải do lưu manh gian trá, lừa lọc tước đoạt, giành giựt. Mà, quyền lực cần dung hòa, thông cảm, độ lượng, chia sẻ lẫn nhau, có lẽ phải, và nhận biết điều trái. Để bảo đảm mọi điều ta đang hoài bão về lý tưởng hằng ước ao: Không vinh quang nào mà không trả giá bằng gian khổ, mồ hôi, nước mắt, máu; ngỏ hầu duy trì sự trường tồn cho một dân tộc (cần có tự do nhân quyền, độc lập và hạnh phúc vinh quang thực sự).

Thế nên, khi mọi quân nhân của Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà tuân phục thông báo mới ấy (của phe “giải phóng” 30/4), thì họ đã tấp nập chen lấn xô đẩy nhau đến các nơi tập trung, để làm giấy tờ. Thậm chí những quân cán chính ở trong chế độ cũ quả thật “cả tin, hiền triết” răm rắp chấp hành thông báo, quy phục theo lệnh lạc mới ban hành của “nhà nước vĩ đại”, là toàn thể sĩ quan và công cán chính đều tập trung đi trình diện cách mạng. Họ nộp giấy tờ tùy thân, được phát cho một tấm giấy viết tay nguệch ngoạc chứng nhận đã trình diện với ủy ban giải phóng. Họ xin giấy phép chứng nhận đi đường, ở các bến xe đông nghẹt người, họ ngủ lại đêm nầy qua đêm khác, tuần nầy qua tuần khác, ngỏ hầu mong có chuyến xe đêm, trở về nguyên quán, để trình diện Ủy-ban Giải-phóng địa phương. Người ta xì xầm to nhỏ và riu ríu tuân theo. Không ai muốn hó hé động đến “cách mạng Việt+ phi thường”, vã chăng ai ai cũng muốn đất nước thanh bình, thịnh trị, để toàn dân yên ổn an cư lạc nghiệp.

Chính bởi họ là “Quan”... của một chính phủ Việt Nam Cộng Hòa: do quan VĂN lấy trí, dùng lời để luận người, sống chết vì lời nói, cây bút, công tâm vi thượng. Quan VÕ lấy sức dùng tài sống chết ở sa trường, xã thân ngoài chiến địa, da ngựa bọc thây, là chuyện thường. Hai loại QUAN cộng với Tướng, Tá, Úy, Binh… đều tương-đồng: trọng NHÂN, trọng chữ TÍN (chữ tín rất quan trọng) trọng NGHĨA, bảo vệ lãnh cư và dân tộc; họ lấy trách nhiệm và danh dự làm gốc, để lập thân, cùng nhau ôn hòa chung vai nếm mật, và chia sẻ với DÂN mà cộng khổ ; ngỏ hầu trải qua: “Chua. Cay. Mặn. Ngọt. Bùi. Đắng. Lạt. Trong”.

Vậy thì, “Việt+ cách-mạng lâm-thời” muốn có tất cả, thì họ phải chiếm được lòng dân, phải được dân tôn trọng. Muốn có sự tồn sinh của một đất nước phục-hưng vĩnh-thịnh, và một dân tộc giàu mạnh phú cường… điều ấy sẽ tùy thuộc vào các cấp chấp chính lãnh đạo đất nước: nếu họ anh minh, chính trực , thì họ có cả thiên hạ, và dân tộc ấy sẽ trù phú, vinh quang, đất nước ấy thái bình, tự do, hạnh phúc trường tồn thật sự! Cuộc đời như một trò chơi, một ván cờ… cho đến lúc nào đó ta phải có sự chọn lựa, cân nhắc, dứt khoát quyết định, và đặt hết nhiệt tình tin tưởng vào trò chơi đó. Ai may mắn “thắng” chưa chắc là do mình hoàn hảo, tuyệt vời; hoặc người “bại” sau cuộc “đổi đời” không hẳn là kém, mà trớ trêu thay người thua cuộc (không phải quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là người thua trận chiến, mà là “người thua cuộc cờ… ; trên bàn cờ quốc tế”), thì chắc chắn họ sẽ bị kẻ thắng lừa, trả thù, và hại cho thê thảm…

Nhưng họ vẫn can trường chấp hành, tuân phục điều luật do “Việt+ nhà nước” mới thành hình ban hành. Họ tuân phục chấp nhận đi trình diện “học tập cải tạo trong tù” 14 ngày, (như cách-mạng lâm-thời đã ra rã rao truyền trên những loa phóng thanh đặt khắp các nẽo đường); cũng có nghĩa là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trọng chữ tín, và tận trung muốn tìm ra con đường chính nghĩa đứng đắn, không lừa đảo và bội tín. Họ đi tìm hạnh phúc thực sự không tự đến (trong tương lai mù sương), mà ta phải quyết giành về cho tổ quốc, cho quê hương, cho gia đình và riêng bản thân. Vì sức trai hào hùng tung hoành vẫy vùng dọc ngang qua bốn bể:

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (*)

Tôi trộm nghĩ: “khi người đàn bà (hoặc đàn ông) đã thành thật yêu ai, thì họ cố bảo vệ, tôn trọng, duy trì hạnh phúc đến phút cuối cùng. Họ đặt hết niềm tin tưởng, yêu mến thiết tha, và trân trọng ngưỡng vọng người ấy… Nhưng khi họ biết rõ mình đã bị lừa gạt, (cả ba phương diện: tinh thần, vật chất và thể chất), họ đã bị cái gọi là “cách mạng lâm thời 30” thô bỉ phản bội; thì trong lòng họ (đa số) rất tức giận, uất hận… và chỉ muốn tìm cơ hội phục hận. Thế nhưng theo thiển ý của riêng tôi thì: những người bị gọi đi “Tù” trên danh nghĩa: “học tập cải tạo”; khi biết mình đã bị trắng trợn “lừa vào rọ tù”, (tù; vì tội yêu quê hương, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, họ phải đi “học tập cải tạo” có ngày đi, mà không biết có ngày về, chẳng có án tù:

Đó chính là một biến thể của cú bất nhẫn ác ôn khi quay giò lái, đã minh định sự trả thù bỉ ổi về hai ngã rẽ cuộc đời đối nghịch tất yếu, vì chính kiến. Đó là hình phạt trắng trợn, đê hèn, và ghê tởm của con người đối với con người). Ấy thế mà “người can trường trong chiến bại” vẫn ôn nhu, kiên trì, khoan dung, vị tha, bao dung và chịu đựng, nhẫn nhục, xót xa, cam phận; ngỏ hầu cho “trải sự đời”:

Ăn ở sao cho trải sự đời.
Vừa lòng cũng khó há rằng chơi.
Nghe như chọc ruột, tai làm điếc.
Giận đã căm gan, miệng mỉm cười.
Bởi số chạy đâu cho khỏi số.
Lụy người nên mới phải chiều người.
Mặc ai chớ để điều ân oán… (*)

Họ thành tâm muốn hòa mình với cỏ cây và nhân quần, để níu lấy cơ duyên “làm lại cuộc đời”. Nếu họ có buồn, có đau đớn, có đắng cay, khổ sở và cơ cực (chắc chắn là khổ cực trăm bề rồi: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại mà”. Một ngày trong tù bằng ngàn thu ở ngoài), thì họ cay đắng ngậm bồ hòn, xót xa tự trách thân:

Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo.
Ai mà chịu rét thời trèo với thông (*)

Vô cùng khó khi họ đã u trầm, chua xót, đắng cay, nghẹn ngào, lặng thinh, ẩn nhẫn trong cách đối nhân xử thế! Tôi xin nghiêng mình ngã mũ cung kính chào qúy vị “Tù Cải Tạo” (chữ “tù cải tạo” được riêng tôi, và có thể nhiều thế nhân trang-trọng, tôn vinh trong hai cái “ngoặc kép”). Đáng trân-trọng và khâm-phục lắm thay!

Tình Hoài Hương

(*) Thơ: Nguyễn Công Trứ

 

This entry was posted in * Mùa QUỐC HẬN, Bạn đọc viết, Hồi-ký - Bút-ký, Tình Hoài Hương. Bookmark the permalink.