NGƯỜI DÂN NÀO, CHẾ ĐỘ ĐÓ! (Huỳnh Văn Hòa)

Người dân nào, chế độ đó!

Tác giả Ca Dao, trong bài Chế độ nào, người dân đó? có những nhận định khá chính xác, và quá đau lòng, cho nếp sống của người dân Việt Nam chúng ta hôm nay. Thờ ơ, lãnh cảm với việc chung, nhưng nặng lòng ích kỷ chỉ riêng lo cho cá nhân. Đây là một thực tế đáng buồn cho Việt Nam chúng ta hiện nay.

Tuy nhiên, tựa bài viết đã bị đảo ngược. Đã vậy, tác giả dùng dấu hỏi nơi cuối đề tựa. Dấu hỏi dùng diễn tả một điều thắc mắc, một sự ngờ vực, cần câu trả lời. Không biết tác giả muốn tự hỏi mình hay hỏi người đọc. Có nghĩa là tác giả chưa, hay không dám, nhận ra yếu tố quyết định của vấn đề cho đất nước, con người Việt Nam hiện nay và mai sau.

Đúng ra phải là: Người dân nào, chế độ đó!

Sẽ có nhiều người không đồng ý với điều này. Nhiều người sẽ hài lòng với tựa đề gốc cho bài viết của tác giả, để đổ tội cho bè đảng cộng sản Việt Nam, và lớn tiếng căm thù một chế độ, một chủ thuyết. Không có người nào phải chịu trách nhiệm cho tình trạng này. Chuyện gì chúng ta cũng đổ tội lên điều mà gọi là “chế độ,” mang danh xưng cộng sản. Tự thỏa mãn với điều này. Rồi chờ đợi điều gì sẽ xảy ra cũng không ai rõ. Chỉ biết than thở, rồi trách trời hận đất. Có người còn cao xa hơn, bảo rằng cái nghiệp của dân Việt Nam nó vậy. Và tự hài lòng với điều này.

Đến hôm nay, ai cũng biết chủ thuyết tà mị này là điều xấu ác của nhân loại, cần phải loại bỏ, tiêu trừ. Nhưng ai sẽ làm cái công việc này?

Bao nhiêu năm qua, nhiều người luôn lớn tiếng đòi loại bỏ chủ thuyết, giải trừ chế độ hại dân bán nước này. Nhưng chẳng biết làm thế nào. Có người còn lạ lùng hơn. Họ gửi đơn thỉnh nguyện đến ông thủ tướng, gửi thư đề nghị đến ông chủ tịch. Họ phân trần, năn nỉ kẻ đang cầm quyền mau tỉnh ngộ, hãy lo cho dân tộc, yêu cầu nên bỏ điều 4 trong cái gọi là hiến pháp của cộng sản Việt Nam, và sớm từ bỏ chủ thuyết cộng sản. Quả là kỳ dị và khôi hài cho những con người này. Gửi những lá thư như thế, có lẽ họ nghĩ rằng đã làm xong trách nhiệm. Rồi yên tâm, để đó cho những kẻ nắm quyền cai trị giải quyết. Ai cũng biết số phận và tác dụng của những lá thư này. Điều này nói lên tinh thần ấu trỉ, hay đã bị nhiễm thuốc khá nặng. Chỉ để tự gạt mình, hay cố tình gạt người.

Đọc đến đây, sẽ không ít người Việt Nam vội vàng cho rằng kẻ viết bài này chạy tội cho bè đảng cướp mang danh xưng cộng sản. Người Việt chúng ta vốn có thói quen thích chụp mũ, và kết tội, khi có người không cùng ý kiến, để chứng tỏ mình dũng cảm và yêu nước. Hăm hở lớn tiếng chửi rủa, phê phán người khác, để chứng tỏ mình liêm chính, tốt lành. Đây cũng là một biểu hiện của tính độc tài, thích đàn áp người khác ở cấp độ cá nhân. Điều này đã trở thành phản ứng tự nhiên của nhiều người Việt chúng ta từ lâu.

Xin bình tỉnh, cùng nhau suy xét một vấn đề, cho cả một dân tộc, chứ không riêng cho ai cả. Cũng không riêng cho thế hệ hôm nay, mà quan trọng hơn, cho những thế hệ tương lai sau này.

Không nên để tình cảm hận thù, ghét bỏ, hay bực bội, tức giận che mờ lý trí. Và nên cẩn thận suy nghĩ cặn kẽ để hiểu rằng bất cứ xã hội nào, hoàn cảnh nào, thời đại nào, con người vẫn là yếu tố quyết định. Kể cả điều gọi là chế độ, chủ thuyết, dù tốt hay xấu, vẫn do con người đặt ra, và cũng do con người xử dụng hay loại bỏ.

Khi có một vụ bắn chết người xảy ra, không ai đổ tội cho khẩu súng cả.

Hãy bình tỉnh xem người và tự xét mình, may ra sẽ nhìn vấn đề được rõ ràng hơn.

Trong vùng Đông Nam Á, và gần Việt Nam nhất là những quốc gia như Thailand (1930), Cambodia (1951), Philippines (1930), Myanmar (1939), Malaysia (1930), Singapore (1931), Indonesia (1925). Các nước này, trước đây cũng từng có đảng cộng sản bộc phát, thao túng và hoành hành. Nhưng đất nước của họ ngày hôm nay ra sao? Bè đảng cộng ở những quốc gia này bây giờ ra sao?

Nên biết thêm rằng, tại các quốc gia tây phương của người da trắng hiện nay, Hoa Kỳ vẫn có đảng cộng sản (từ năm 1919). Canada cũng có đảng cộng sản (1921). Anh Quốc cũng có đảng cộng sản (1920). Australia cũng có đảng cộng sản (1920). Pháp Quốc cũng có đảng cộng sản (1921). Nhưng người dân và xã hội tại các quốc gia ngày nay ra sao? Những bè đảng cộng này có làm được gì?

Điều này cho thấy, cái mầm độc ác trong chủ thuyết tà mị cộng sản chỉ có thể đâm cành trổ nhánh tươi tốt, và lớn mạnh, trên đất nước và trong lòng người dân Việt. Đối với những quốc gia khác trong vùng, và trên thế giới, mầm độc hại này cũng cố ngoi ngóp trồi lên. Nhưng vì không hợp thổ nhưỡng, đất địa, tức là con người, nên cái mầm độc hại kia cũng dần dần tàn lụi. Tức đã bị người dân ở những quốc gia đó loại bỏ.

Họ loại bỏ những mầm độc ác này bằng cách nào?

Họ không nghiến răng trợn mắt, hừng hực lửa căm thù, vùng lên đòi xây xác quân thù, vùng lên đòi giải phóng, đòi giết sạch ai cả. Nhưng, người dân ở những quốc gia này, mỗi một người tự họ nhận biết và ý thức được trách nhiệm đối với gia đình, xã hội và đất nước. Và họ thực sự sống với điều này. Họ chịu trách nhiệm từ những mẫu rác vất xuống lòng đường. Huống chi đến trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Họ không sống ích kỷ. Họ không sống hèn nhược. Họ không sống với sự gian xảo, ác độc và tàn nhẫn của một kẻ cướp. Chỉ có vậy đủ để cái mầm hiểm độc nguy hại gọi là cộng sản không thể nào sống sót.

Nói như vậy không có nghĩa là tất cả dân chúng ở những quốc gia này đều là người tốt. Chỉ là dân trong nước họ, người tốt nhiều hơn kẻ xấu, đủ để quốc gia này có những người thực tâm lo cho dân cho nước, đủ để là một quốc gia tốt lành, đáng sống, và người dân của họ đáng hãnh diện, tự hào trong cộng đồng thế giới.

Hạt mầm, có tốt mạnh đến đâu, nếu trồng trên xi măng chắc chắn sẽ bị chết khô.

Ngay từ năm 1945, tên Hồ cộng đã hô hào: “Toàn thể nhân dân vùng lên cướp chính quyền.”

Trong trận tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, tên cướp nước họ Hồ này cũng lớn miệng kêu gào: “Toàn thể nhân dân Miền Nam vùng lên cướp chính quyền.”

Không có một lực lượng cách mạng, thực lòng vì dân vì nước, nào mà đi kích động quần chúng vùng lên để cướp cả.

Ngôn ngữ của kẻ cướp, lúc nào cũng phảng phất, hơi hướm của một tên cướp. Chỉ cần chữ cướp này cũng đủ để kích thích hàng triệu người dân Việt, vốn đã có sẵn trong người mầm máu của kẻ cướp. Bởi vậy, Việt Nam mới có cảnh máu đổ đầu rơi, nhà tan cửa nát, suốt hai mươi năm. Những ngôn từ dân tộc, đất nước, cách mạng, tự do, hạnh phúc, độc lập, chỉ là vỏ bọc cho cái máu ăn cướp dấu kín trong lòng khá nhiều người Việt chúng ta. Chỉ cần một kẻ hô to chữ cướp là hàng vạn người sẵn sàng vùng lên hưởng ứng.

Nói tới cướp, khoan nói đến những người thuộc bè đảng cộng sản đang nắm quyền cai trị. Hãy nhìn xã hội Việt Nam hiện nay. Một xã hội loạn lạc, giết người cướp của như rươi, ngay giữa ban ngày ban mặt, khắp nơi khắp chốn. Từ học đường đến bệnh viện. Từ bến xe ra phố chợ. Trong gia đình, cha mẹ, anh em, tranh giành tài sản cũng sẵn sàng chém nhau, thì nói chi đến người khác.

Nên biết dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm vào những năm 1960-1963, sống ở Miền Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, đêm ngủ người dân không cần đóng cửa và khóa chốt. Những người sống ở Miền Bắc cộng sản, hay sinh ra và lớn lên trong xã hội Việt Nam cộng sản hiện nay, khó tin được điều này. Thảng có kẻ nào trộm vặt, –chưa phải là cướp đâu– thì cả làng, cả xóm hô hoán lên và cùng nhau bắt trộm. Lực lượng hiến binh, cảnh sát của Miền Nam làm sao có đủ nhân lực để lo chuyện này. Nhưng ở đâu cũng có dân cả. Đại đa số lòng đân đã như vậy, dần dà, đâu còn ai nghĩ đến trộm. Nói chi đến cảnh giết người cướp của.

Hạt mầm, có tốt mạnh đến đâu, nếu trồng trên xi măng chắc chắn sẽ bị chết khô.

Bây giờ, cả một đất nước Việt Nam –độc lập, tự do, hạnh phúc– nhưng ai cũng lo sợ khi phải ra đường. Không phải vì sợ tai nạn giao thông, mà sợ bị kẻ khác chém, mà sợ gặp tai bay vạ gió, phải chết oan mạng bất cứ lúc nào. Nhiều người còn cảm thấy bất an hơn khi phải sống trong thời chiến tranh, rủi gặp cảnh bom rơi, đạn lạc. Không phải tất cả mọi người dân Việt Nam hiện nay đều là kẻ cướp. Nhưng chỉ cần trong một khu phố, một xóm làng, có năm ba kẻ cướp thì xã hội cũng đủ bất an và loạn lên rồi.

Nhìn cũng bị chém. Không nhìn cũng bị đâm. Vào quán cà phê cười cũng bị chém. Không cười cũng bị đâm. Mua hàng trả giá mà không mua cũng bị chủ vác dao rượt chém. Phát cơm bố thí cũng bị đâm. Không cho cũng bị chém. Vô tình đi ngang qua một vụ cãi vả, bước vào can gián cũng bị chém. Gia đình nợ nần túng quẩn, vợ buồn lòng than muốn tự tử, cũng bị chồng rút dao đâm vợ lút cán. Nữ sinh đến trường đem sẵn dao Thái Lan trong cặp sách, vung dao chém sả bạn bè. Thật là kinh hãi cho một giống người côn đồ, dã man, tàn ác với chính đồng bào của mình, nhưng vô cùng ích kỷ và hèn nhược.

Những câu ca dao như:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương.
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Hay:

Bầu ơi thương lấy bí cùng.
Tuy rằng khác giống như chung một giàn.

Bây giờ, đối với nhiều người Việt Nam hiện nay, có nghe được, họ cũng nhổ toẹt bãi nước bọt, và chửi khan. Không khéo, có người nổi cơn anh hùng rút dao đâm tới.

Trước năm 1975, vẫn có những người Việt Nam sống đúng theo ý nghĩa cao thượng của một con người nhân bản. Họ quên mình, xả thân vì trách nhiệm lo cho người khác, tức cho dân, cho nước. Nhưng nhiều lắm họ cũng chỉ khoảng 1/3 dân số của Miền Nam. Họ là những người phục vụ trong Chính Quyền, trong Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa, nhằm bảo vệ phần còn lại của đất nước cùng những giá trị nhân văn của con người Việt Nam, trước cơn càn chiếm của bọn cướp.

Nhưng than ôi. Cả một Miền Bắc hừng hực lửa căm thù, hàng triệu người vác súng vượt Trường Sơn quyết Sinh Bắc Tử Nam, để cướp cho được toàn cõi Việt Nam. Còn ở Miền Nam, đa số chỉ “lo làm ăn, không muốn dính tới chuyện chính trị, chính em.” Nếu được vậy thì cũng đã là may mắn. Bên cạnh đó, còn có thêm hàng trăm ngàn người dân Miền Nam điên cuồng, hùng hổ tìm mọi cách phá nát chính thể tự do của Việt Nam Cộng Hòa; bằng cách đặt bom, nổ mìn, tự thiêu, biểu tình, xuống đường; hăm hở đón mời đám cướp Miền Bắc vào Nam, để có cơ hội cùng nhau ăn cướp.

Chịu đựng bao nhiêu gian khổ, hy sinh bao nhiêu sinh mạng, những người Việt Nam chân chính nhân bản đúng nghĩa con người này, cũng chỉ cầm cự được hai mươi năm ngắn ngủi trong nỗi lòng quên mình vì người, hy sinh cho quốc gia dân tộc, để giữ nước cứu dân.

Nói là chiến tranh, nhưng thực tế những người lính Việt Nam Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam chỉ có tự vệ, trong trách nhiệm Bảo Quốc An Dân. Quân cộng sản Bắc Việt, lòng rực lửa căm thù, vượt Trường Sơn vào Nam cướp phá nơi nào, họ chống đỡ nơi đó. Chống đỡ không nổi họ đành chịu chết để trả nợ núi sông. Chỉ có vậy. Họ chỉ tự vệ để sống còn. Họ không nuôi lòng thù hận, không đòi tiêu diệt ai, không đòi uống máu quân thù nào.

Nhưng, cuối cùng họ cũng đành phải chịu cảnh thất bại trong nỗi xót xa cho người, đành phải xuôi tay theo đa số lòng dân, vốn tàn ác côn đồ, nhưng ích kỷ hèn nhược, chỉ muốn làm kẻ cướp và sống với cướp.

Thế những người dân Việt Nam sống hiền hòa, từ ái, nhưng dũng cảm, dám hy sinh, nặng tinh thần trách nhiệm với gia đình, xã hội, quốc gia thời trước 1975 của Việt Nam Cộng Hòa đâu hết cả rồi? Thưa, phần lớn họ đã chết. Còn lại số ít, họ đành phải từ bỏ xã hội tàn ác, tránh ra hải ngoại. Một số lớn thà chịu chết trên biển còn hơn là sống với đám lưu manh, côn đồ. Một số ít ỏi tìm được bến bờ tự do, nhân ái. Để khi thì bị chửi rủa là bọn phản quốc bám đuôi Mỹ ăn bơ thừa sữa cặn, lúc vì có đô la xanh trong túi nên được nghe hát câu khúc ruột ngàn dặm.

Kể từ khi chế độ tự do, nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản Miền Bắc Việt Nam đánh phá, và cưỡng chiếm Miền Nam cho đến nay, vẫn còn vài người Việt hằn học đổ lỗi cho Tàu, cho Mỹ. Lại có người còn kéo thêm Do Thái vào hằn học chửi rủa để trút nỗi hận lòng.

Nên biết rằng Tàu, Mỹ, Do Thái vẫn còn đó. Đất nước Cao Ly cũng bị chia đôi (1956), cùng khoảng thời gian như Việt Nam (1954). Thế mà mãi đến hôm nay, Nam Hàn vẫn còn trên bản đồ thế giới. Không những vậy, quốc gia Nam Hàn ngày càng lớn mạnh và đang trở thành một cường quốc trên thế giới về mọi mặt. Tại sao vậy?

Trên chính trường quốc tế, chế độ Bắc Hàn vẫn luôn lớn tiếng đòi thống nhất, đòi đuổi Mỹ suốt mấy chục năm nay. Nhưng hai miền Nam Bắc vẫn có hiệp thương, vẫn cho thân nhân thăm viếng. Và quan trọng hơn, bởi ngay ở Nam Hàn, không có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Và bởi ngay ở Nam Hàn không có những thầy cha, sư sãi, giáo sư, sinh viên, nhà báo, hừng hực lửa căm thù, xuống đường biểu tình, chống phá, tự thiêu; không có những bà mẹ anh hùng; không có những chị nuôi bộ đội.

Có người còn đổ thừa tại Việt Nam có dãy Trường Sơn và nằm sát biên giới Tàu. Nên biết, Bắc Hàn chỉ cách Tàu con sông Áp Lục (Yalu) nhỏ hẹp, có thể bơi qua được. Đã vậy, Miến Điện nằm sát bên hông Tàu thì sao? Đều có cùng chung biên giới với Tàu cộng. Nhưng Miến Điện cho máy bay sang Tàu ném bom. Bắc Hàn thì, Tàu qua không tiếp, Tàu mời không dự. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam anh hùng chúng ta thì cung kính cúi đầu mời Tàu sang để thờ để lạy. Không phải tại vị trí địa dư, mà do con người, nên có suy nghĩ, thái độ, và hành xử khác nhau. Tuy nhiên, người Việt chúng ta vẫn có thể tìm ra lý do để đổ thừa, là điều bình thường và quen thuộc.

Bây giờ ở Việt Nam, không phải là tất cả, nhưng phần lớn chỉ còn lại, và sinh sản thêm, những con người sẵn sàng vung dao chặt tay người khác để cướp đồng hồ, những con người sẵn sàng ném mẹ xuống giếng để cướp nhà, những con người chực chờ người gặp tai nạn giao thông là tranh nhau cướp giật đồ đạc của nạn nhân đang nằm rên la kêu cứu.

Không nên bảo rằng vì nghèo đói nên họ phải cướp củađổi lấy khoai mì ăn đỡ đói.

Những người này, chạy xe phân khối lớn, giết người cướp của, lấy tiền đi nhậu, chơi gái, mua smart phone và thỏa mãn tính độc ác luôn hừng hực trong đầu. Những người này chưa bao giờ là đảng viên cộng sản. Họ cũng chẳng cần biết cộng hay trừ. Cả một đất nước, hầu hết, mọi người cùng nhau cướp. Có người gọi là cùng nhau tranh mồi. Mạnh ai nấy cướp. Lớn cướp theo lớn. Nhỏ cướp theo nhỏ. Cần gì chủ thuyết này, chế độ nọ. Tự đó cũng đã là một xã hội ích kỷ, côn đồ, tàn độc, và hung ác rồi. Chen chân được vào bè đảng thì có chức quyền để cướp lớn, cướp quy mô. Không thuộc bè đảng thì giữ phận thường dân để cướp nhỏ, cướp vặt. Bởi vậy, công an bắt tay làm ăn với côn đồ là việc bình thường. Chỉ là đứa trong, đứa ngoài, vì cùng là kẻ cướp.

Sau đợt sóng thần, ở Nhật Bản năm 2011, người dân Nhật thu lượm được vàng bạc, nữ trang của nạn nhân đem giao cho chính quyền để trao lại cho chủ nhân là $78 tỉ đô la. Có nhiều nạn nhân khi được trả lại tài vật, không chịu nhận, bảo rằng không phải của họ. Sẽ có nhiều người Việt chúng ta bỉu môi, lớn tiếng nói: “Chỉ có đám dân Nhật mới ngu ngốc đến như vậy. Của trời cho mà không biết hưởng.”

Năm 2013, chiếc xe giao hàng bị lật ở Biên Hòa. Xe này bị lật ở nơi nào tại Việt Nam cũng vậy thôi. Ngay tức thì, hàng trăm người, già trẻ, lớn bé, nam nữ, chạy túa ra, đánh cả người tài xế đang khóc lóc năn nỉ, tranh nhau để cướp bia. Trong khi đó, đi biểu tình chống Tập Cận Bình chỉ có một, hai chục người. Một giống dân Việt Nam sao quá lạ lùng.

Không nên bảo rằng vì đói nên họ phải tranh nhau cướp để uống bia thay cơm.

Không nên đổ thừa cho chữ nghèo. Người Việt Nam chúng ta chuyện gì cũng đổ thừa được cả. Không đổ thừa cho người khác, thì cũng đổ lỗi cho ông trời. Một kẻ nghèo đi cướp ngân hàng lấy tiền mua sữa cho con vẫn bị luật pháp trừng trị. Không thể thẳng tay giết người cướp của rồi thản nhiên bảo rằng vì quá nghèo nên phải làm vậy. Chúng ta đã từng nghe bè đảng cộng sản Việt Nam lớn miệng nói rằng: “Cứu cánh biện minh cho hành động.” Đây chỉ là xảo ngôn của kẻ cướp, côn đồ, tàn ác, mất nhân tính.

Nói về chữ nghèo, cũng nên biết thêm điều này. Ở Việt Nam hiện nay, có nhiều trẻ chăn bò dùng điện thoại di động hẹn nhau thả bò ăn cỏ cùng một chỗ để tụ lại chơi game trên gò mã. Có nhiều người đàn bà nhà quê, đội nón lá đi chân trần thăm ruộng, dùng điện thoại di động nói chuyện bù khú với nhau ngoài đồng.

Những câu ngạn ngữ trong dân gian Việt Nam ngày xưa như: “Đói cho sạch, rách cho thơm,” hay Giấy rách phải giữ lấy lề,” bây giờ nghe nói đến chắc nhiều người Việt chúng ta sẽ cho là vớ vẩn. Nếu đã vậy thì còn gì để nói nữa.

Nếu cứ cố tình bảo rằng tại hoàn cảnh nên phải vậy. Thì còn nói đến làm gì. Dù sao đây cũng là một quyết định cho chính cuộc đời mình, dù cá nhân hay dân tộc.

Trong cuốn Bài Giảng Cuối Cùng, tiến sĩ Randy Pausch nói:

“Những hoàn cảnh khó khăn, gian nan, chướng ngại, chỉ là những thử thách cần thiết để xem bạn có thực lòng muốn đạt đến mục đích bao nhiêu. Đừng tưởng rằng người khác không có khó khăn riêng của họ. Nhưng họ đã quyết tâm vượt qua tất cả để đạt được những thành tựu mong muốn. Còn bạn thì ngồi đó buồn rầu, than trách. Bạn không xứng đáng để hưởng những gì họ đang có.”

“Bây giờ, bạn đã biết rồi. Bạn có dám đứng lên vượt qua khó khăn để đạt được điều mong muốn, hay tiếp tục ngồi đó than trách, thì đó là quyền của bạn. Nhưng nên nhớ răng, chính bạn quyết định mọi điều. Không nên đổ lỗi cho ai cả.”

Một con người: cũng phải thức khuya, dậy sớm chăm chỉ học hành mới có ngày được học vị này, bằng cấp nọ. Chứ lúc sinh ra vẫn còn trẻ dại nào có biết gì. Đâu có thể năn nỉ xin viện trưởng cấp bằng cho mình được.

Một gia đình: vợ chồng con cái cũng phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, mới tạo dựng nên sự nghiệp. Đâu có thể cầu xin khấn vái, hay nhờ cậy anh em hoài mà nên.

Một quốc gia: người dân trong nước cũng phải tận tâm, tận sức hy sinh vượt bao gian nan, nhọc nhằn, mới trở nên quốc gia giàu mạnh. Đất nước Hoa Kỳ trước kia cũng bị thực dân Anh đô hộ, người dân cũng sống trong cơ cực, nghèo khổ. Đến đầu thế kỷ 20, nhiều người dân Hoa Kỳ vẫn còn sống trong những căn nhà vách trét đất, mái lợp cỏ. Đâu phải bỗng dưng từ trên trời rớt xuống một nước Mỹ siêu cường. Nhìn qua Nhật Bản, và nhìn tiếp sang Nam Hàn hiện nay sẽ rõ.

Dù ở mức độ cá nhân, gia đình, hay quốc gia, trước khi giàu mạnh, chắc chắn phải sống cảnh yếu nghèo. Điều này không ai chối cãi. Những hoàn cảnh khó khăn nếu có, chẳng qua cũng là những thử thách –có thể vô cùng tàn khốc và khắc nghiệt– để chứng tỏ sự quyết tâm của từng con người, từng gia đình, và từng quốc gia.

Cũng nên biết thêm, năm 1960, Lý Quang Diệu của Singapore chỉ mơ ước như được như Sài Gòn. Năm 1963, khi nghe tin ông Ngô Đình Nhu bị sát hại, ông Lý Quang Diệu than: “Người Việt Nam có nhân tài mà không biết xử dụng. E rằng trong vòng một, hai trăm năm nữa, Việt Nam không có được một người như vậy.” Trong khi đó, có hàng triệu triệu người Việt, hăm hở tôn thờ họ Hồ, một tên gián điệp cộng sản quốc tế, lưu manh, gian xảo, côn đồ, đầu trộm, đuôi cướp. Trách sao Việt Nam hôm nay không “anh hùng” như hiện tại. Đến nay, gần một thế kỷ đã qua, vẫn còn nhiều người Việt tôn thờ họ Hồ và lớn tiếng nguyền rủa họ Ngô. Cũng bởi Việt Nam có quá nhiều “nhân tài” nên phải chịu cảnh “nhân tai.”

Không biết từ lúc nào, người Việt chúng ta luôn phải tìm cho ra một ai đó, hay một điều gì đó, nhận làm kẻ thù, để có cớ sống với nỗi căm thù hừng hực trong lòng.

Cũng nhờ vậy, khi tên lưu manh họ Hồ hớp hồn người dân bằng câu nói: “Toàn thể nhân dân hãy vùng lên tiêu diệt quân thù.”

Hay khi tên thơ nô Tố Hữu hót câu thần chú: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.”

Thế là hằng triệu người Việt ở Miền Bắc, lòng sôi sục căm thù, quyết tâm liều chết vác súng vượt Trường Sơn vào Miền Nam để “giết quân thù.” Thêm hàng ngàn bà mẹ nuôi chiến sĩ, hàng ngàn chị nuôi bộ đội, đang sống tự do, yên bình ở Miền Nam, nhưng sẵn lòng nuôi dấu bộ đội cộng sản để “giết quân thù.” Khiến khắp nơi ở Miền Nam, từ thôn quê đến thành thị, từ trẻ thơ đến người già, nơi nào cũng máu đổ đầu rơi, suốt trong hai mươi năm từ 1954 đến 1975.

Tên lưu manh kia, tên thơ nô nọ, bao triệu người vác súng vượt Trường Sơn đó, và hằng ngàn mẹ nuôi, chị nuôi khác, tất cả đều là người Việt Nam.

Suốt hai mươi năm (1954-1975), hằng triệu triệu người Việt Nam cả hai miền Nam, Bắc quyết tâm vùng lên “giết quân thù.” Chứ đâu có cảnh não lòng chỉ một hai chục người, trong một thành phố Sài Gòn 13 triệu, đứng lẻ loi, lạc lỏng, mang biểu ngữ biểu tình chống tên giặc bắc Tập Cận Bình, như hiện nay. Trong khi kẻ hiếu kỳ đứng nhìn xem còn nhiều hơn đoàn biểu tình. Một giống dân Việt Nam sao quá lạ lùng.

Xin mời nghe cụ Phan Chu Trinh nhận xét về con người Việt Nam trong bài Luân Lý Đông Tây, vào năm 1925:

“Vì sao mà người ta [phươngTây] làm được như thế? Là vì người ta có đoàn thể, có công đức, biết giữ lợi ích chung vậy. Họ nghĩ rằng, nếu nay để cho người có quyền lực đè nén người này, thì mai kia ắt cũng lấy quyền lực đè nén mình. Cho nên phải hiệp nhau lại phòng ngừa trước. Người ta có ăn học, biết suy xét kỹ, nhìn thấy xa như thế. Còn người nước mình thì sao? Người mình thì phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt, cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không liên can gì đến mình.”

“Đã biết sống thì phải bênh vực nhau. Ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến. Cho nên mới có câu: ‘Không ai bẻ đũa cả nắm.’ Và: ‘Nhiều tay làm nên bột.’ Thế thì, dân tộc Việt Nam này, hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, giụm cây làm rừng. Không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lỳ, khiếp nhược như ngày nay.”

Hóa ra, cụ Phan đã nhận ra vấn đề, rốt ráo và chính yếu, của người dân Việt Nam từ chín mươi năm trước (1925). Trước cả khi đảng cướp, mang danh xưng cộng sản, của tên lưu manh họ Hồ, nẩy mầm và phát triển mạnh trên đất Việt (1930). Nhưng dẫu sao lòng dân vẫn là yếu tố quyết định. Dù tốt hay xấu.

Hạt mầm, có tốt mạnh đến đâu, nếu trồng trên xi măng chắc chắn sẽ bị chết khô.

Điều này sẽ giải thích tại sao cái gọi là đảng cộng sản ngày càng lớn mạnh trên đất nước Việt Nam, mà phải tàn lụi ở những quốc gia khác trong vùng.

Hơn nữa, những kẻ cai trị và đám người bị trị, tất cả không phải là người Việt Nam hay sao?

Nên biết, sự độc tài, chuyên quyền, áp bức và ăn cướp trị (larcenism), không thể có một chiều. Phải có đủ hai yếu tố tác nhân và nạn nhân mới xảy ra được. Thiểu số nắm quyền cai trị, dĩ nhiên lúc nào cũng muốn là tác nhân, để có cơ hội cướp của. Nhưng đại đa số người dân bị cai trị, bị đàn áp thà chết không chấp nhận vai trò nạn nhân, thì đám thiểu số không bao giờ thực hiện được. Chúng đành phải ôm đầu chạy chết để giữ mạng sống, hoặc phải từ bỏ nghề ăn cướp. Nên nhìn rõ điều này. Và có muốn sống với điều này không.

Vào những năm 1989-1991, các nước cộng sản Đông Âu như; Poland, Hungary, Bulgary đã tỉnh cơn say thuốc độc, quyết tâm loại bỏ chủ thuyết tàn ác nguy hại này. Kẻ cầm quyền ở những quốc gia này cũng đâu muốn từ bỏ quyền lực đang có trong tay. Để sống còn kẻ cai trị cũng tìm mọi cách để đàn áp người dân. Nhưng lòng dân đã quyết thì mọi chuyện phải xong. Trong khi đó, người Việt Nam anh hùng chúng ta vẫn trùm chăn, vẫn hài lòng với “thiên đường” cộng sản. Rõ ràng đa số người dân Việt chúng ta đã muốn thế. Vì ích kỷ, khiếp hèn muốn yên thân trong chốc lác, nên phải sống trong cảnh đọa đày, bóc lột. nhọc nhằn suốt cả đời.

Khi có một vụ bắn chết người xảy ra, không ai đổ tội cho khẩu súng cả.

Hãy nhìn chủ thuyết, chế độ cộng sản tàn ác ma mị như một cơn dịch nguy hiểm, độc hại đối với nhân loại. Khi bệnh dịch bùng phát, mọi người trong vùng đều bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, người mạnh khỏe, hay đã chích ngừa, có hệ thống miễn dịch tốt sẽ vô sự, không nhiễm bệnh. Người yếu đuối, hay không phòng ngừa, sẽ bị cơn dịch tấn công. Trong số người bệnh này, kẻ nào biết mình mắc bệnh, cố gắng uống thuốc, chăm lo sức khỏe và tận lòng chữa trị, căn bệnh sẽ dần dần tiêu trừ, phục hồi sức khỏe. Trái lại, mang căn bệnh hiểm ác, mà cứ ngơ ngáo huênh hoang vỗ ngực tự cho rằng khỏe mạnh, hoặc biết có bệnh nhưng không tận sức chữa trị, nằm đó than trời trách đất, đổ cho số phận, thì trước sau gì cũng bị đem chôn. Vấn đề là như vậy. Chôn một con bệnh cá nhân chỉ cần vài tháng, vài năm, còn chôn một con bệnh quốc gia phải cần thời gian lâu hơn. Chỉ khác có điều này.

Một người bị bệnh chết, không nhất thiết tất cả tế bào trong cơ thể là tế bào ung thư. Chỉ cần số lượng tế bào xấu, đủ nhiều để làm rối loạn sinh hoạt bình thường của một con người khỏe mạnh, thì con người đó phải chết và đem chôn. Mỗi người dân trong một quốc gia cũng tương tự như một tế bào trong cơ thể con người. Sinh mệnh của một dân tộc cũng có đời sống tương tự. Vấn đề là mỗi người dân Việt chúng ta, muốn là một tế bào như thế nào trong dòng sinh mệnh của dân tộc.

Đã bảo quyền tự do căn bản của con người là quyền thiêng liêng không ai có thể cướp đoạt, thì không có gì để chúng ta phải đòi hỏi hay cầu xin cả. Quyền tự do làm người của chúng ta vẫn còn nguyên đó. Không ai có thể cướp được cả. Chẳng qua chúng ta muốn xử dụng cái quyền sống này của mình như thế nào. Sống cho gia đình, xã hội hay ích kỷ ươn hèn cho riêng cá nhân, tùy mỗi chúng ta tự chọn.

Những người đi biểu tình phản đối chống Tập Cận Bình vừa qua cũng đang sống trong chế độ cai trị tàn ác của bè đảng cộng sản Việt Nam. Không nên bảo rằng họ được bọn cầm quyền cho phép biểu tình. Dù là ít ỏi, vài chục người, vài trăm người, nhưng họ cũng đang sống trong chế độ cai trị tàn ác như chúng ta. Đi biểu tình với con số nhỏ nhoi như vậy, họ hiểu rõ phải đối diện với bọn công an côn đồ, có thể bị bắt bớ và đánh đập dã man. Nhưng họ hiểu rõ đó là cái giá cần phải trả cho sự sinh tồn của chính họ, của gia đình họ, và của dân tộc họ. Họ không muốn sống hèn, sống nhược. Và quan trọng hơn, họ hiểu được trách nhiệm lo cho dân tộc, đất nước còn quan trọng hơn lo cho gia đình trăm ngàn lần.

Bởi họ hiểu rõ điều vô cùng quan trọng: “Nước đã mất thì nhà cũng phải tan.”

Cho nên, muốn lo cho nhà, trước cần giữ nước. Chúng ta ca ngợi, tán dương sự can đảm và lòng hy sinh của họ. Nhưng họ không cần điều này. Họ chỉ sống đúng nghĩa con người, trong tinh thần quên mình lo cho người khác, cho đất nước dân tộc, cho gia đình con cháu, cho chúng ta, và cho cả những người công an côn đồ đang hung hăn đánh đập họ. Những con người hiếm hoi trong một xã hội Việt Nam nặng lòng ích kỷ và côn đồ đến gần như tuyệt chủng. Họ biết vậy, nhưng họ vẫn sống với lý tưởng của họ. Điều này chứng tỏ không kẻ nào có thể cướp đi được quyền làm người của ai cả. Chẳng qua, mỗi chúng ta xử dụng quyền sống của mình như thế nào.

Điều đau lòng cho người Việt chúng ta, là số lượng người tò mò, thờ ơ đứng nhìn còn nhiều hơn số người đi biểu tình chống giặc cướp nước. Mỗi Chủ Nhật, tại nhà thờ, người dự thánh lễ chen chân từ trong nhà thờ, ra ngoài sân đến cả lề đường. Mỗi ngày Rằm, tại chùa, hàng trăm người chen nhau lễ lạy, khói nhang mù trời, đứng cầu xin từ trong chánh điện ra đến sân chùa. Họ cầu xin điều gì mà hằng tuần, hằng tháng, suốt bao nhiêu năm qua đến nay vẫn còn kiên trì và tiếp tục cho đến hết đời. Và hàng đêm, không có quán nhậu nào vắng khách, từ thành phố, ra ngoại ô, đến làng quê. Chẳng lẽ bọn cướp đang nắm quyền cai trị không nhận biết điều này? Chẳng lẽ bọn cướp nước phương Bắc không nhận biết điều này? Đại đa số lòng dân Việt đã muốn vậy thì còn than trách điều gì.

Thêm nữa, nếu cứ đổ tội lên điều gọi là “chủ thuyết” cộng sản thì xin nhớ lại rằng chính nước Pháp (1921) là quốc gia tây phương thu nhận tên lưu manh họ Hồ, cho gia nhập đảng cộng sản Pháp, và đưa Hồ sang Nga để huấn luyện. Như vậy, đúng lý ra, nếu cứ đổ lỗi cho chủ thuyết, thì chính nước Pháp phải là quốc gia càng tệ hại hơn, xấu ác hơn, Việt Nam nhiều trăm lần.

Trong khi đó, bè đảng cộng sản Việt Nam thuộc loại sinh sau đẻ muộn (1930), và lâm cảnh con rơi con rớt (lúc thờ Nga, khi lạy Tàu). Tại sao bè đảng này trở trên tươi tốt, lớn mạnh như ngày hôm nay? Hóa ra, cái mầm tàn độc, gian xảo, ác hiểm này, dù bị gieo trể và bầm dập, èo uột, nhưng nhờ hợp đất địa, thổ ngơi, tức hợp với lòng người dân Việt, nên ngày càng lớn mạnh, và trở thành cây to cành lớn.

Để chống cướp, nhà nào ở Việt Nam hiện nay cũng xây hàng rào sắt thật vững chắc, cửa sắt trong, cổng sắt ngoài, khóa trên, khóa dưới, vô cùng kiên cố. Có nhà còn gắn thêm máy quay phim thu hình để theo dõi chống cướp. Đó là phạm vi gia đình.

Còn nước thì sao? Vẫn có người Việt Nam chống cướp trên bình diện quốc gia đấy chứ? Khi bè đảng cộng sản mời Tập Cận Bình sang Việt Nam (5/11/2015), vẫn có người Việt Nam biểu tình, đả đảo. Nhưng than ôi. Chỉ vài ba chục người, trong một thành phố gần 13 triệu. Nói một cách dễ dãi là có 1.300 người đi biểu tình ở Sài Gòn. Tỉ lệ là trong 10.000 người mới có một người đi chống cướp. Một phần mười ngàn (1/10.000). Một tỉ lệ “đông đảo” đến mức kinh hoàng. Nhưng thực tế đâu có nhiều đến vậy. Thế mà có vài người ồn ào, hăm hở, và nổ đùng đùng, nghe muốn bể lỗ tai: “Biểu tình chống Tập Cận Bình nổ lớn từ Sài Gòn đến Hà Nội.”

Sài Gòn, vài chục người. Hà Nội, khoảng một, hai trăm người, chưa kể công an chìm trong số đó. Đã vậy, mấy chữ, “từ Sài Gòn đến Hà Nội,” khiến người đọc dễ bị gạt và tin rằng khắp nước Việt Nam từ Nam ra Bắc. Khá nhiều người Việt chúng ta vốn có tật nói khoác và xảo ngôn như vậy. Cứ như là Tập Cận Bình phải xanh mặt, vác quần chạy trốn cửa sau vì nghe “nổ lớn.” Không lẽ họ cho rằng một người Việt Nam đi biểu tình tương đương với 10.000 người của các quốc gia khác. Tình trạng khôi hài và quen thói gạt mình gạt người đến đau lòng. Nhưng thực tế vẫn là thực tế.

Sau khi đến Việt Nam, ngày hôm sau họ Tập sang Đài Loan. Tại Đài Bắc, có 350.000 người xuống đường biểu tình chống Tập Cận Bình trong một thành phố chỉ có 2,7 triệu người. Trừ trẻ em, người già cả, quân nhân và lực lượng cảnh sát, có thể biết rằng trong ba người Taiwanese thì có một người đi biểu tình chống tên Chinese họ Tập.

Điều này cho thấy, ngoài hai chữ gia đình, đa số người Việt Nam chúng ta nói đến quốc gia, dân tộc, cho vui miệng trong khi ăn nhậu, hay để gạt mình gạt người, chứ chưa có khái niệm thực sự về trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc. Nói chi đến việc sống được với điều này. Xin đọc lại đoạn trích trong bài của cụ Phan Chu Trinh ở trên. Từ năm 1925, gần một thế kỷ rồi. Không phải mới mẻ gì, để mãi đổ thừa tại hoàn cảnh này, hoàn cảnh nọ.

Nhưng tại sao trước 1975, suốt hai mươi năm có cả hàng triệu người Việt, từ Nam chí Bắc, hăm hở hừng hực, liều chết lao đầu vào cuộc chiến tranh cướp nước nhiều đến như vậy? Bởi vì những lời ma mị, những câu thần chú của những kẻ côn đồ, những tên cướp nước, mang danh cộng sản, đã kích thích được cái tính ích kỷ, tàn ác, và máu ăn cướp, vốn đang âm thầm nhưng luôn sôi sục trong lòng nhiều người dân Việt lúc bấy giờ. Và ngày hôm nay càng nở rộ khắp nơi.

Những người Việt Nam đang sống nơi hải ngoại hiện nay có khoảng ba triệu. Dù họ có chống đối, hay tán thành, chế độ cộng sản tại Việt Nam hiện nay, cũng chỉ là sự thể hiện tâm tình nặng lòng cùng quê hương cũ. Hiện tại, họ vốn là công dân của quốc gia đang cư ngụ. Con cháu họ sinh ra tại hải ngoại sẽ chọn những quốc gia đó làm quê hương. Có trở lại Việt Nam cũng chỉ là thăm viếng trong chốc lác. Vấn đề của Việt Nam phải do chính người Việt Nam chúng ta tự giải quyết. Căn nhà có nhiều rác rưỡi, chuột bọ, ruồi gián. Muốn sống sạch sẽ, lành mạnh phải do chính những người đang ở nơi đó tự dọn dẹp. Một thực tế hiển nhiên ai cũng hiểu rõ. Dù đó là Nhà hay là Nước.

Từ ngày màu đỏ nhuốm đầy máu, của lá cờ cộng sản Phúc Kiến, của Tàu cộng, phủ khắp toàn cõi Việt Nam đến nay, thì Độc Lập ở đâu, Tự Do chỗ nào, và Hạnh Phúc ra sao? Sau bốn mươi năm, người Việt chúng ta ai cũng đã rõ. Vấn đề là mỗi người Việt Nam chúng ta hôm nay, muốn tương lai đất nước, gia đình, và con cháu sẽ ra sao trong tương lai. Mỗi người chúng ta phải tự quyết định lấy điều này. Không ai làm giùm cho mình được cả.

Hãy đọc lại lời khuyên của tiến sĩ Randy Pausch ở trên một lần nữa. Van xin, yêu cầu, thỉnh nguyện bè đảng cướp nước hại dân, đang nắm quyền cai trị, là điều không tưởng, nếu không muốn nói là bệnh hoạn. “Không có bữa ăn nào mà không phải trả tiền.”

Một mình George Washington cũng không làm được. Một mình Mohandas Gandhi cũng không làm được. Một mình cụ Phan Chu Trinh cũng không làm được. Một mình tổng thống Ngô Đình Diệm cũng không làm được. Một mình Lý Quang Diệu cũng không làm được. Một mình Hồ Chí Minh cũng không làm được. Phải có sự góp sức của nhiều nhiều người dân, dù trong bối cảnh nào.

Trong dân gian Việt Nam ngày trước có câu: “Rau nào sâu nấy.”

Ai cũng hiểu câu này nói lên sự quyết định, do đại đa số lòng dân trong mỗi quốc gia, cho một chế độ. Và đúng cho cả tốt lẫn xấu. Người dân độc ác, thù hận, sẽ có chế độ độc tài, tàn ác. Người dân hiền hòa, từ ái, sẽ có chế độ tự do, nhân bản. Không nên quên rằng những kẻ đang nắm quyền cai trị trên cao, cho đến công an, cả quân đội, vốn cũng từ dân mà ra. Không thể từ trên trời rơi xuống. Điều này ai cũng quá rõ, không cần nhắc lại ở đây. “Ý dân là ý trời.” Dù có ý thức hay không, dù có muốn hay không, điều này cũng luôn đúng, cho cả tốt lẫn xấu.

Cho nên, nếu không để bị kẹt trong danh tự, và chịu khó nhìn rộng xa đến nhiều quốc gia khác trên thế giới, sẽ nhận ra được rằng: Người dân nào, chế độ đó.

Huỳnh Văn Hòa
8/11/2015

This entry was posted in Bình-luận - Quan-điểm. Bookmark the permalink.