GIẤC MỘNG VIỆT NAM (chu sa lan): Q.IV- Ngóng Về Hà Nội

csltap1_img_0Lời của người viết truyện

Bộ tiểu thuyết giả tưởng này được chia ra làm bốn quyển:

  • quyển 1 : Phú Quốc For Sale;
  • quyển 2: Tất Cả Cho Hoàng-Trường Sa;
  • quyển 3: Hẹn Nhau ở Sài Gòn
  • và quyển 4: Ngóng Về Hà Nội.

Mặc dù dựa vào tin tức thời sự, các sự kiện có thật đã và đang xảy ra cũng như nhiều tài liệu và sách vở; truyện, đơn thuần chỉ là một tưởng tượng của người viết. Nếu tên tuổi hoặc các tình tiết trong truyện có trùng hợp với bất cứ ai thời đó chỉ là sự tình cờ và không cố ý của người viết truyện.

Ngoài ra tất cả tin tức, tài liệu và sự kiện được người viết sưu tập và lưu trữ mà theo thời gian lâu dài vì vậy không còn nhớ được nguồn gốc hoặc xuất xứ của các trang, blog trên Internet. Chân thành cảm tạ tác giả các bài vở, tài liệu, tin tức đăng trên các trang mạng mà người viết đã sử dụng.

Cũng cần nói thêm, có những danh từ chuyên môn bằng Anh ngữ được giữ nguyên nhưng có giải thích hoặc tạm dịch ra tiếng Việt nhưng có phụ chú bằng Anh ngữ vì tiếng Việt không được xác nghĩa lắm, ví dụ như sonar được dịch ra tiếng Việt là máy thủy âm định vị; C4 là tiếng viết tắt của command, control, communication, computer được dịch sang tiếng Việt thành ra chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, điện toán, là hệ thống chỉ huy hàng dọc và hàng ngang tinh vi và phức tạp được áp dụng trong dây chuyền chỉ huy (chain command) của quân đội Hoa Kỳ và của thế giới. Knot là danh từ riêng để đo tốc độ của tàu, tương đương với một hải lý hay 1.852 mét. MOAS là chữ viết tắt của Mine & Obstacle Avoidance System, một hệ thống máy móc chuyên dò tìm ra mìn, đá ngầm, san hô hay bất cứ chướng ngại vật nào ở dưới nước nằm trên đường đi của tàu ngầm. MK-15 Block 1 Phalanx CIWS (Closed-in Weapons Sys-tem) là đại bác sáu nòng bắn bằng loại đạn 20 ly được dùng chống lại máy bay hay hỏa tiển của địch nhờ một giàn ra đa gắn trên ụ súng để định vị trí của hỏa tiển hay máy bay và luôn cả đạn của súng bắn ra nữa. Tất cả những danh từ, tên riêng bằng Anh ngữ sẽ được chú thích đầy đủ tùy thuộc vào sự hiểu biết và tìm kiếm của người viết truyện.

Cuối cùng người viết cám ơn quý độc giả đã nhín chút thời giờ để đọc bộ tiểu thuyết dã sử hiện đại này. Bây giờ Hẹn Nhau Ở Sàigòn bắt đầu.

Tập 10

RA TRUNG

62.

Chiếc jeep mui trần có gắn ăng ten cần dừng ngay trước cửa văn phòng của tướng Khải ở trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt. Một người đàn ông trọng tuổi mặc thường phục bước xuống. Như đã trực sẵn nên khi ông ta vừa xuống xe một quân nhân ở trong văn phòng của tướng Khải bước ra chào đón. Quân nhân đó tên Dũng, mang cấp bậc trung tá, vị sĩ quan tham mưu cao cấp nhất của tướng Khải.

– Chào đại tá… Đại tá và gia quyến vẫn được bình an?

Người đàn ông mặc thường phục được trung tá Dũng gọi là đại tá hơi mỉm cười lên tiếng trả lời.

– Cám ơn trung tá… Cũng nhờ vào sự khoan hồng của chính phủ mới và sự đãi ngộ đặc biệt của thiếu tướng Khải mà gia đình tôi mới được dễ thở hơn nhiều gia đình của người khác…

Ngừng lại giây lát ông ta hắng giọng tiếp bằng câu hỏi.

– Không biết tướng Khải vời tôi có chuyện chi?

Trung tá Dũng cười cười trước câu hỏi của vị đại tá mặc thường phục.

– Tư lệnh của tôi cũng có chút chuyện nhỏ tính nhờ đại tá…

– Chuyện chi ạ…?

– Thưa đại tá khi nào giáp mặt tư lệnh của tôi, đại tá sẽ biết liền…

Nghe Dũng nói như vậy, vị đại tá mặc thường phục không hỏi nữa mà im lặng theo chân anh ta đi vào văn phòng của tướng Khải. Giơ tay chào kính, trung tá Dũng cao giọng thốt.

– Trình tư lệnh… Đây là đại tá Thạnh, tham mưu phó quân khu 7…

Thiếu tướng Khải vui vẻ bắt tay vị đại tá tham mưu phó quân khu 7 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, người mà thời gian ngắn trước đây là một trong nhiều kẻ đối đầu với ông ta trên chiến trường.

– Mời anh ngồi…

Đại tá Thạnh chậm chạp ngồi xuống chiếc ghế dành cho mình đặt đối diện với tướng Khải qua chiếc bàn rộng bày đầy giấy tờ và tài liệu. Trung úy Tiến, sĩ quan tùy viên của tướng Khải đặt tách trà nóng trước mặt khách.

– Mời anh uống trà…

Tướng Khải nâng tách trà. Đại tá Thạnh cũng đưa tách trà của mình lên. Họ không cụng ly với nhau. Dường như vẫn còn có chút gì ngăn cách giữa hai phe. Chắc có lẽ còn quá sớm để họ có thể gạt qua những dị biệt và xa lạ hầu hòa hợp và hòa giải sự bất đồng chính kiến của mình.

– Bà nhà và các cháu nhỏ của đại tá vẫn được bình an chứ?

Tướng Khải hỏi và đại tá Thạnh trả lời mau.

– Thưa gia đình tôi vẫn bình an. Tôi xin đa tạ lòng tốt của thiếu tướng…

Tướng Khải cười nhẹ.

– Không có chi… Tôi chỉ làm theo lệnh của chính phủ là không bạc đãi hay hành hạ cũng như tù đày bất cứ quân nhân nào thua trận. Đại tá và các chiến hữu của đại tá là lính, mà lính thì chỉ làm theo lệnh của cấp trên… Thế thôi…

Đại tá Thạnh cười im lặng. Hớp thêm ngụm nước trà nóng vị tư lệnh của chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn hắng giọng đi thẳng vào mục đích của buổi gặp gỡ.

– Tôi đã đọc hồ sơ quân ngũ của đại tá. Có hơn 20 năm quân vụ đồng thời lại là sĩ quan tham mưu xuất sắc nhất mà đại tá chưa được giữ chức vụ nào tương xứng với khả năng của mình. Dường như đại tá không được thượng cấp ưu đãi lắm…?

Đại tá Thạnh cười im lặng trước những lời của tướng Khải. Có thể vì ông ta dè dặt không muốn thố lộ chuyện tư riêng của mình với một người mới gặp mặt lần đầu. Có thể ông ta khôn ngoan và hiểu biết thân phận một người lính thua trận như mình cho nên không dám có ý kiến. Cũng có thể ông ta không trả lời để chờ tướng Khải tách bạch ra. Lát sau ông ta mới nhỏ nhẹ thốt.

– Tôi xuất thân con nhà nghèo cho nên không có nhiều may mắn khi đi học và luôn cả trong quân ngũ…

Gật gù cười như hiểu cái ý của người đối diện, tướng Khải hắng giọng.

– Tôi nghĩ là tôi nên thẳng thắn với đại tá. Như thế buổi gặp mặt giữa chúng ta sẽ cởi mở và hữu ích hơn…

Ngừng lại giây lát vị tư lệnh chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn nhẹ cười tiếp

– Tôi muốn mời đại tá gia nhập quân lực nước Việt Nam của chúng ta…

Nói xong tướng Khải thấy được chút ít ngạc nhiên hiện ra trên nét mặt của đại tá Thạnh. Ông ta ngạc nhiên cũng phải vì không khi nào nghĩ là mình sẽ được bên thắng trận mời hợp tác. Không bị quản thúc, tù đày hay tánh mạng bị đe doạ là may mắn lắm rồi. Bây giờ chính vị tư lệnh còn mời gia nhập nữa. Có một điều nữa mà ông ta cũng nhận ra trong câu nói mà tướng Khải dùng. Mấy tiếng ” quân lực nước Việt Nam của chúng ta…” hàm ý không còn sự chia rẻ, phân biệt bên này hay bên kia, phe thắng hoặc bại, nước này hay nước kia mà là một nước Việt Nam tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam…

Còn đang suy nghĩ đại tá Thạnh nghe tướng Khải lên tiếng tiếp.

– Với sự chấp thuận của chính phủ, đại tá vẫn được giữ nguyên cấp bậc cũ cùng với lương bổng và thâm niên quân vụ. Ngoài ra đích thân tôi đề bạt đại tá nắm giữ một chức vụ quan trọng…

Lần nữa vị cựu tư lệnh phó quân khu 7 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại ngạc nhiên nhiều hơn về đề nghị hấp dẫn của kẻ thắng trận. Tuy nhiên vốn là một sĩ quan nhiều kinh nghiệm sống và giàu suy tư, ông ta càng thêm băn khoăn về đề nghị của tướng Khải. Sự băn khoăn đó được thể hiện bằng câu hỏi.

– Thưa thiếu tướng… Trước khi nhận lời tôi muốn biết tôi sẽ làm gì trong quân lực của nước Việt Nam?

Nâng tách trà lên hớp ngụm nhỏ xong đặt xuống bàn, vị tướng hai sao cười nhẹ lên tiếng trong lúc nhìn đại tá Thạnh như muốn quan sát thái độ hoặc cử chỉ của người đối thoại.

– Tư lệnh sư đoàn 11 tân lập… Tôi nghĩ chức vụ này thích hợp với một sĩ quan tham mưu giàu kinh nghiệm như đại tá…

Không ai thấy được lòng bàn tay của đại tá Thành rịn mồ hôi vì kích thích và sửng sốt tột cùng. Dường như ông ta chưa tin vào đôi tai của mình hoặc còn nghi ngờ về lời nói của tướng Khải. Làm sao chánh phủ mới xuyên qua vị tướng hai sao lại mời ông ta nhập phe với họ mà còn được giữ nguyên cấp bậc, lương bỗng, thâm niên quân vụ và còn thăng chức tư lệnh sư đoàn nữa. Trong hơn hai mươi năm lính, chức tư lệnh sư đoàn là điều mà ông ta hằng mong muốn mà chưa có cơ hội nào để đạt được.

– Tôi xin mạn phép hỏi một câu. Lý do nào thiếu tướng lại có nhã ý mời tôi chỉ huy một sư đoàn tác chiến…?

Nghe câu hỏi của đại tá Thạnh, tướng Khải nâng tách trà lên nhấp ngụm nhỏ rồi mới thong thả trả lời.

– Trước đây tôi với đại tá đứng trên hai chiến tuyến đối nghịch nhau. Tuy nhiên tình thế đã đổi thay do đó tôi nghĩ chúng ta cần phải đứng cùng một chiến tuyến để thực hiện một mục đích chung của dân tộc Việt là chống đế quốc Trung Cộng đang nuốt dần dần đất đai của nước ta. Tôi với đại tá mà không đứng chung chiến tuyến thì nước Việt Nam ta sẽ trở thành quận huyện của Trung Cộng và 90 triệu đồng bào sẽ cúi đầu làm nô lệ cho Hán tộc…

Tướng Khải ngừng lời. Căn phòng rơi vào sự im lặng trừ tiếng rì rầm phát ra từ giàn máy điện toán và những chiếc quạt trần đang quay vù vù. Lát sau vị tư lệnh chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn mới hắng giọng tiếp.

– … Tôi có duyệt qua lý lịch các sĩ quan cao cấp của quân khu 7 và 9; từ sĩ quan tham mưu của bộ tư lệnh dài xuống tới tư lệnh, tư lệnh phó, tham mưu trưởng các sư đoàn. Qua nhiều lần suy nghĩ tôi chọn đại tá làm tư lệnh sư đoàn 11, một sư đoàn tân lập mà hai phần ba lính lại là các đồng đội cũ của đại tá…

Đại tá Thạnh gật đầu như hiểu ý ngầm của tướng Khải. Vị tư lệnh chiến dịch mời ông ta làm tư lệnh một sư đoàn mà toàn những người lính dưới quyền chỉ huy của ông ta khi còn nắm chức tham mưu phó quân khu. Như vậy rất dễ cho ông ta chỉ huy. Hơn ai hết ông ta hiểu cái vị thế của mình và không thể cự tuyệt lời mời của tướng Khải. Bất hợp tác với tướng Khải trong lúc này là hành động kém khôn ngoan nếu không muốn nói dại dột. Dù trong bụng đã nhận lời mời của tướng Khải song đại tá Thạnh còn muốn biết nhiều hơn bằng cách hỏi thêm một câu nữa.

– Còn có lý do nào khác hơn nữa khiến cho thiếu tướng đề bạt tôi vào chức vụ tư lệnh sư đoàn 11? Tôi xin lỗi thiếu tướng về câu hỏi thẳng của tôi?

Tướng Khải cười nhẹ khi nghe đại tá Thạnh đặt câu hỏi.

– Tôi thích sự thẳng thắn của đại tá. Quân đội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng có nhiều sĩ quan sạch mà đại tá là người đứng đầu.

Đại tá Thạnh mỉm cười khi nghe tướng Khải nhấn mạnh tiếng ” sạch ”. Ông ta hiểu nó có ý nghĩa gì.

– Đại tá lên lon nhờ vào khả năng của chính mình hơn sự chạy chọt hay có ô có dù. Các bạn đồng khóa với đại tá giờ đã mang sao rồi trong khi đại tá vẫn còn ba mai bạc. Tôi và chính phủ của tôi cố gắng giữ sự trong sạch ở trong quân đội và trong bộ máy hành chánh vì biết tham nhũng là một trong nhiều nguyên nhân làm suy yếu đất nước và làm mất lòng tin của dân đối với kẻ cầm quyền…

Đại tá Thạnh gật gù.

– Tôi hiểu mối quan tâm của thiếu tướng. Chọn tôi làm tư lệnh sư đoàn 11, thiếu tướng không sợ tôi phản thùng kéo hết sư đoàn về lại với phe cũ sao?

Tướng Khải bật lên tiếng cười vui vẻ.

– Tôi không sợ và tôi cũng không nghĩ đại tá sẽ làm một hành động mà theo tôi không một ai muốn làm. Kéo hết sư đoàn về lại phe cũ chưa chắc họ đã tín nhiệm và cho đại tá giữ chức tư lệnh. Thứ nữa, tôi nghĩ đại tá là kẻ thức thời. Cái thời của phe xã hội chủ nghĩa sắp mạt rồi. Sau mấy chục năm cầm quyền họ đã bất lực trong việc đem lại no ấm, tự do, dân chủ và bảo vệ tổ quốc trước họa xâm lăng từ đế quốc Tàu. Đảng cộng sản đã để mất lòng dân thì sớm muộn gì chế độ cũng bị xóa bằng cách này hoặc cách khác. Về lại với bên Hà Nội là đại tá đi ngược lại nguyện vọng của toàn dân. Quân lực của tôi có thể mất một tư lệnh giỏi và chục ngàn binh sĩ song cũng không thiệt hại bao nhiêu. Huống chi chưa chắc các sĩ quan phụ tá và binh sĩ sẽ làm theo lệnh của đại tá…

Đại tá Thạnh cười thành tiếng.

– Tôi hỏi vậy thôi chứ tôi cũng biết thức thời vụ mới là tuấn kiệt. Tôi sẽ là kẻ chỉ huy sư đoàn 11 để theo chân quân lực Việt Nam bắc tiến, giải phóng mấy chục triệu đồng bào khỏi sự cai trị hà khắc và độc đoán của cộng sản…

Thiếu tướng Khải đưa tay ra bắt tay đại tá Thạnh. Vị tân tư lệnh sư đoàn 11 đứng nghiêm giơ tay chào tướng Khải, người chỉ huy của ông ta trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng sắp tới.

o O o

Trong lúc binh lính và dân chúng khắp nơi trong thành phố ăn mừng Sài Gòn được thở không khí của tự do và dân chủ; tướng Khải và các sĩ quan tham mưu của ông ta lại bận rộn hơn bao giờ. Tư lệnh, tư lệnh phó, tham mưu trưởng, các sĩ quan trưởng phòng và tư lệnh sư đoàn đều bù đầu phác họa kế hoạch dành cho cuộc hành quân lịch sử: RA TRUNG-Giai Đoạn 3 của chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn hay là giai đoạn cuối cùng mà quân lực Việt Nam ở Phú Quốc phải hoàn thành bằng mọi giá để giữ vững Sài Gòn. Phải giành lại và trấn giữ cao nguyên, vùng đất chiến lược che chở cho miền nam. Phải làm chủ vùng duyên hải miền trung đông dân cư có các hải cảng quan trọng như Cam Ranh, Đà Nẳng, Vũng Tàu để từ đó phóng ra một chiến dịch quan trọng nhất: Ngóng Về Hà Nội. Toàn thể quân lực bao gồm 11 sư đoàn bộ chiến căn bản cộng thêm mấy chục ngàn binh lính của hai quân khu 9, 7 và có thể của quân khu 5; quân lực của nước Việt Nam đạt một quân số hơn 300 ngàn sẽ từ Quảng Trị vượt qua sông Bến Hải đánh chiếm các tỉnh của bắc trung phần như Quảng Bình, Hà Tỉnh, Nghệ An và Thanh Hóa để làm bàn đạp tiến công vào Hà Nội và giải phóng miền bắc. Phải thống nhất ba miền nam trung bắc, thời chánh phủ của nước Việt Nam mới đủ sức tranh giành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đồng thời kiểm soát hải lộ Đông Hải, cắt đứt con đường tơ lụa biển hầu bẻ gãy tham vọng bá chủ thế giới hay ít ra bá chủ châu Á của đế quốc Tàu. Phần các tư lệnh sư đoàn tác chiến cũng đã có nhiều buổi hội họp riêng với nhau để chuẩn bị cuộc ” Ra Trung ”. Xe tăng, đại bác, máy bay, tàu chiến đều đầy đủ xăng nhớt và đạn dược. Lương thực cho binh sĩ các cấp đều sẵn sàng. Tinh thần chiến đấu của binh sĩ thuộc 11 sư đoàn tác chiến từ sư đoàn 1 cho tới sư đoàn 11 rất cao, nhất là đối với sư đoàn 11 vừa mới được thành lập dưới sự chỉ huy của đại tá Thạnh, tân tư lệnh. Từng giữ chức tham mưu phó quân khu 7, do đó không mất nhiều thời giờ ông ta đã thành lập được một ban tham mưu gồm các sĩ quan thuộc bộ tư lệnh quân khu 7 và các sư đoàn bộ chiến. Phần trung đoàn trưởng thì ông ta cũng đã chọn được bốn vị cựu sĩ quan của các sư đoàn đã bị tan rã như 5, 309, 317. Ông ta cũng được cái lợi là tiếng tuy tân lập nhưng binh sĩ của sư đoàn đều là cựu quân nhân có kinh nghiệm tác chiến chứ không phải tân binh chưa biết bắn súng.

o O o

13:00 giờ. 1-8-2042. Thị xã Long Khánh.

Chín quân nhân đủ cấp bậc đứng vòng quanh chiếc bàn hành quân trên trải tấm bản đồ hai tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng. Đó là bộ tham mưu của đại tá Thạnh. Đây là buổi họp cuối cùng trước khi toàn bộ lực lượng cơ hữu của sư đoàn được lịnh kéo lên cao nguyên. Chỉ tay vào bản đồ của tỉnh Lâm Đồng, đại tá Thạnh rắn giọng.

– Đúng năm giờ sáng mai, sư đoàn 11 của chúng ta với Lữ Đoàn 172 Biệt Động Đội cùng lúc tiến lên cao nguyên. Sư đoàn của mình có nhiệm vụ đánh Lâm Đồng và thị trấn Đà Lạt rồi sau đó sẽ tiến chiếm thị trấn Ban Mê Thuột và tỉnh Đắc Lắc…

Nhìn trung tá Chính, trung đoàn trưởng trung đoàn 2, đại tá Thạnh cười tiếp.

– Anh biết rành về vùng Định Quán và tỉnh Lâm Đồng nên tôi để cho anh đi đầu. Nhiệm vụ của trung đoàn 2 là đánh chiếm các vị trí đóng quân quan trọng của địch ở phía nam của tỉnh Lâm Đồng và thị trấn Bảo Lộc. Trong lúc đó trung đoàn 1 của trung tá An sẽ đánh Đà Lạt và các quận ở phía bắc như Lâm Hà, Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng và Di Linh…

Vốn coi một trung đoàn của sư đoàn 302 thuộc quân khu 7 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà vùng trách nhiệm trong đó có thị trấn Định Quán, Chính khá am tường những căn cứ quân sự của tỉnh Lâm Đồng với hai thị trấn Đà Lạt và Bảo Lộc.

– Tư lệnh đừng có lo. Từ Định Quán tôi nhắm mắt đi cái vèo là tới Bảo Lộc liền…

Quay sang trung tá Thiện, trung đoàn trưởng trung đoàn 3 và trung tá Cảnh, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 172 Biệt Động Đội; vị tư lệnh sư đoàn 11 nghiêm giọng:

– Phần hai anh điều động các đơn vị trực thuộc di chuyển tới Di Linh đoạn anh An bắt đường 28 đi tới Gia Nghĩa rồi noi theo đường 693 đi Ban Mê Thuộc. Anh Cảnh chỉ huy lính biệt động đội theo quốc lộ 20 đi tới Liên Sơn rồi bắt đường 27 tiến đánh Ban Mê Thuột. Tướng Khải có nhã ý để cho sư đoàn của chúng ta xuất quân trước nhất. Vậy các anh em cố gắng hết sức mình để tỏ ra mình dù là mới gia nhập song cũng biết đánh đấm…

Cười hà hà trung tá An hỏi.

– Tôi nghe nói sư đoàn 3 của đại tá Đăng sẽ đi sau mình. Tư lệnh biết ông ta đi đâu?

– Gia Lai. Tướng Khải có nói cho tôi biết sư đoàn 3 của đại tá Đăng sẽ dùng quốc lộ 14 tiến chiếm tỉnh Gia Lai và hai căn cứ quân sự quan trọng là Pleiku với Kontum…

Đại tá Thạnh cười cười nhìn các sĩ quan dưới quyền chỉ huy của mình rồi lát sau mới nói tiếp.

– Mới đầu tướng Khải tính cho sư đoàn 11 đánh Pleiku nhưng sau đó ông ta đổi ý để cho sư đoàn 3 của đại tá Đăng đánh tỉnh Gia Lai. Tôi cũng không kêu nài gì về quyết định đó. Để sư đoàn 3 của ông Đăng và sư đoàn 302 của quân khu 5 choảng nhau cho biết đá biết vàng. Các anh chưa biết sư đoàn 3 gồm có rất nhiều sĩ quan và binh sĩ đã ở trong quân lực Hoa Kỳ. Cá nhân đại tá Đăng cũng là tiểu đoàn trưởng trước khi gia nhập vào quân lực Phú Quốc…

Do dự giây lát vị tân tư lệnh sư đoàn 11 mới hắng giọng hỏi các sĩ quan của mình.

– Trong trận chiến vừa rồi các anh biết lý do nào khiến cho mình thua họ?

Câu hỏi của đại tá Thạnh rơi vào im lặng. Thật lâu đại tá Hào, tư lệnh phó sư đoàn mới hắng giọng.

– Tôi nghĩ có ba lý do… Lý do đầu tiên và quan trọng nhất là tinh thần chiến đấu của binh sĩ…

Đại tá Thạnh gật gù mỉm cười nhìn vị sĩ quan phụ tá của mình như nhìn nhận đồng thời cũng ngầm khuyến khích ông ta bộc bạch những suy tư thầm kín. Vị tư lệnh sư đoàn biết binh lính và sĩ quan các cấp vì lý do an ninh cá nhân nên có thói quen ít khi chịu bày tỏ ý kiến của họ. Được cấp trên cho phép, Hào phấn chấn nói tiếp.

– Lý do thứ nhì là vũ khí. Họ được trang bị vũ khí mới trong khi mình xài toàn đồ cũ xưa. Thứ ba là lính mình kém xa họ về kinh nghiệm trận mạc. Theo chỗ tôi dọ hỏi thì khoảng phân nửa binh sĩ của quân lực Phú Quốc xuất thân từ quân lực của các nước như Úc Đại Lợi, Anh, Pháp, Gia Nã Đại và nhất là Hoa Kỳ. Nửa phần tân binh của họ tuyển mộ ở trong nước thì đa số tình nguyện chứ không phải bị bắt đi nghĩa vụ quân sự như lính của mình. Là lính tình nguyện được huấn luyện kỹ càng, thêm trang bị vũ khí tối tân lại được chỉ huy bởi các sĩ quan giàu nghiệm chiến trường thời dĩ nhiên người lính có tinh thần chiến đấu cao hơn. Đó là tôi chưa nói tới một yếu tố mà mới nghe thoạt buồn cười và hoang tưởng song lại có tác dụng nâng cao tinh thần chiến đấu của người lính. Đó là lý tưởng. Họ chiến đấu cho cái gì mà họ tin tưởng trong khi ta đã mất niềm tin từ lâu rồi…

Phòng họp rơi vào im lặng sau khi đại tá Hào dứt lời. Thật lâu đại tá Thạnh mới lên tiếng.

– Anh Hào có nhận xét rất chính chắn. Ngoài những lý do đã nêu ở trên họ còn đưa ra chiêu bài dân chủ, tự do và no ấm cho dân chúng và nhất là chống sự xâm lăng của đế quốc Tàu. Đó chính là nỗi ước mơ thầm kín của dân ta sau hơn mấy chục năm sống dưới chế độ của cộng sản. Trong cuộc nói chuyện khi mời tôi làm tư lệnh sư đoàn 11, tướng Khải cho biết là ông ta không sợ khi làm tư lệnh tôi sẽ đem hết sư đoàn 11 về lại với quân đội nhân dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam…

Tất cả sĩ quan đều chăm chú nhìn vị tư lệnh của họ khi nghe ông ta tiết lộ lời này.

– Tôi nghĩ tư lệnh sẽ không làm như vậy…

An, trung đoàn trưởng trung đoàn 1 ứng lời. Bắt gặp ánh mắt của mọi người chiếu vào mình, An cười nhẹ.

– Thứ nhất là vợ con của chúng ta còn kẹt lại Sài Gòn. Thứ nhì là khi quay về bên kia họ có tín nhiệm và dung thứ chúng ta hay là không. Thứ ba là sau cuộc chiến vừa rồi tôi nghĩ cái thời của đảng cộng sản đã mạt rồi…

– Thôi chuyện đó chúng ta hãy bàn luận khi nào vào tới Ban Mê Thuột. Bây giờ các anh hãy trở lại đơn vị chuẩn bị cho cuộc ra quân ngày mai…

Đại tá Thạnh lần lượt bắt tay ba vị trung đoàn trưởng và lữ đoàn trưởng Biệt Động Đội. Đây là đơn vị đặc biệt gồm hai tiểu đoàn mà ông ta đã thành lập với sự chấp thuận của tướng Khải. Đơn vị tổng trừ bị này cũng chính là đơn vị xung kích dùng để giải quyết một mặt trận quan trọng. Ba ngày trước, ngồi trong phòng họp của phòng hành quân của chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn, ông ta đã được các sĩ quan tham mưu của tướng Khải thuyết trình về mặt trận của vùng cao nguyên đặc biệt là Ban Mê Thuột, thành phố giữ vị trí xung yếu nhất của cao nguyên. Có thể nói chiếm đóng được Ban Mê Thuột là quân lực Việt Nam ở Sài Gòn đã làm chủ cao nguyên, hành lang chiến lược che chở cho Sài Gòn cũng như kiểm soát được con đường chuyển vận binh sĩ và tiếp liệu từ bắc vào trong nam. Cũng vì vị trí xung yếu này mà sư đoàn 315 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được lệnh của quân khu 5 từ Quảng Nam di chuyển lên cao nguyên. Sư đoàn 315 tạm thời đặt bộ tư lệnh tại Ban Mê Thuột với ba trung đoàn chủ lực 142, 143, 733 và 2 tiểu đoàn trực thuộc là một tiểu đoàn tăng hoặc chiến xa, một tiểu đoàn pháo và tên lửa. Trung đoàn 142 đóng tại Gia Nghĩa, vị trí nằm tại giao điểm của ba con đường 14, 28 và 693. Trung đoàn 143 trấn Buôn Hồ, giao điểm của ba con đường 14, 683 và 682 để kiểm soát trục lộ giao thông từ Pleiku về Ban Mê Thuột cũng như quốc lộ 26 từ Ninh Hòa đi lên vùng cao nguyên. Trung đoàn 733 đóng ở Buôn Đôn kiểm soát phần đất giáp ranh với Miên Lào và quốc lộ 14C từ Ban Mê Thuột đi lên Pleiku và Kontum.

Đứng im nhìn theo các sĩ quan dưới quyền tản mác, vị tư lệnh sư đoàn 11 thở dài nhè nhẹ. Hơn ai hết ông ta biết những ngày sắp tới của mình sẽ có nhiều thử thách đầy cam go và gian nan. Tuy nhiên đây cũng là dịp may hiếm có để cho ông ta chứng tỏ khả năng chỉ huy của mình. Phải thắng mặt trận Ban Mê Thuột thời ông ta và sư đoàn 11 mới có thể ăn nói với các sư đoàn kỳ cựu của quân lực Việt Nam trong giai đoạn Ra Trung. Muốn được các vị tư lệnh sư đoàn khác kính phục, ông ta phải chứng tỏ khả năng chỉ huy của mình. Sự kính phục không thể xin xỏ mà phải đạt được bằng mồ hôi, nước mắt và máu của mình. Nhìn đăm đăm vào mũi tên màu đỏ cắm tại vị trí Ban Mê Thuột, vị tư lệnh phó của quân khu 7 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà bây giờ trở thành tư lệnh sư đoàn 11 của nước Việt Nam lẩm bẩm điều gì không ai nghe rõ.

63.

Cù Lao Thu. Tọa độ bắc vĩ tuyến 10° 25′ 30″, đông kinh tuyến 108° 27′ 15″.

Thấy hạm trưởng đi họp bên chiếc tuần dương hạm Như Nguyệt trở về tàu với dáng vẻ trầm ngâm và im lặng; thủy thủ đoàn chiếc 66 đều đoán phải có tin tức gì đặc liên quan tới chiếc Hải Mã VNN66. Thời hạn ba tháng để họ được đổi phiên về Côn Sơn hoặc Phú Quốc nghỉ ngơi và xum họp với gia đình sắp tới rồi. Nếu bây giờ vì nhu cầu hành quân họ sẽ phải ở lại trên biển thì đó là điều không ai muốn. Sự phỏng đoán của thủy thủ đoàn đúng khi Chương mở cuộc họp trong phòng ăn với sự tham dự đầy đủ của sĩ quan và thủy thủ đoàn các cấp trừ những người đang phiên trực.

– Tôi vừa đi họp hành quân về và rất tiếc có tin không vui cho anh em. Quân lực ta sau khi chiếm xong Sài Gòn sẽ không dừng lại mà tiếp tục chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn Giai Đoạn 3 hay là RA TRUNG. Các sư đoàn bộ chiến của bộ binh dưới quyền chỉ huy của tướng Khải sẽ tiến đánh cao nguyên và các tỉnh miền duyên hải trung phần. 10 tỉnh miền trung sẽ biến thành mục tiêu giải phóng của quân lực và chúng ta chỉ dừng lại khi đặt chân lên cầu Hiền Lương của tỉnh Quảng Trị. Khi đó chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn mới được coi như hoàn thành…

Chương dừng lại nhìn một vòng thủy thủ đoàn đang đứng im lặng. Trên nét mặt của họ ánh lên nét hân hoan và phấn khởi mà cũng thấp thoáng sự buồn rầu vì như thế họ không được trở về căn cứ gặp lại vợ con sau ba tháng xa cách.

– Tôi cũng biết anh em vô cùng mệt mỏi và mong muốn gặp lại vợ con. Tuy nhiên đây là lệnh của thượng cấp. Nó xuất phát từ thủ tướng Việt, tổng tư lệnh tối cao của quân lực nên cá nhân tôi và các anh không có cách nào khác hơn là thi hành nhiệm vụ đã được giao phó. Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là…

Ai cũng nghe giọng của hạm trưởng cao lên khi nói tiếp.

– Nhiệm vụ của hải quân và của riêng chúng ta là đột kích và chiếm đóng căn cứ hải quân Cam Ranh…

Vị hạm trưởng ngừng nói khi nghe có tiếng xì xầm nho nhỏ phát ra xong mới thong thả tiếp.

– Trong ý định đối đầu với hạm đội Nam Hải của Trung Cộng, bộ tư lệnh hải quân muốn nhân dịp may hiếm có đánh úp căn cứ hải quân Cam Ranh, chiếm lấy mấy chiếc Kilo đang đậu. Nếu có thêm 6 chiếc KILO 636MV của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; hạm đội tàu ngầm của ta sẽ có thêm sức mạnh để chống trả lại cuộc hải chiến mà hải quân Trung Cộng sẽ khai mở ngày gần đây hầu tái chiếm quần đảo Trường Sa đang ở trong tay ta. Tôi chắc anh em sẽ rất phấn khởi được lái chiếc Kilo săn tìm tàu ngầm của Trung Cộng. Biết đâu nay mai này, thiếu tá Thiện, đại úy Toàn sẽ trở thành hạm trưởng của một trong sáu chiếc Kilo…

Chương mỉm cười nhìn hai sĩ quan phụ tá thân tín của mình. Anh đọc trong mắt họ sự vui mừng và phấn khởi khi nghĩ tới điều mà anh đã nói.

– Có ai đi với mình không thưa hạm trưởng?

Thượng sĩ Đan lên tiếng hỏi. Hướng ánh mắt về phía người hạ sĩ quan có cấp bậc và thâm niên cao nhất của tàu, Chương cười nhẹ.

– Dĩ nhiên là có và có rất nhiều. Không kể bốn chiếc tàu ngầm bí mật tham gia vào cuộc đột kích mà còn có thêm các chiến hạm nổi khác nữa. Các chiến hạm này được sử dụng như là nút chặn không cho tàu ngầm của địch ra khơi để trốn chạy về Đà Nẳng hoặc Hải Phòng. Chúng ta còn được sự tham gia của một trung đoàn đặc nhiệm của bộ binh có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Cam Ranh. Hải quân mình chỉ lo phần đột kích căn cứ hải quân còn bộ binh lo phần của họ. Bốn chiếc 44, 55, 66 và 77 sẽ chở các toán hải kích lại gần để từ đó họ sẽ bất thần tấn công vào căn cứ hải quân Cam Ranh cũng như chiếm đóng những chiếc Kilo đang neo đậu tại đây…

Ngừng lại nhìn thủy thủ đoàn đang đứng ngồi vây quanh mình giây lát vị hạm trưởng rắn giọng.

– Nhiệm vụ đột kích căn cứ hải quân Cam Ranh để chiếm đóng các chiếc Kilo rất quan trọng đối với hạm đội tàu ngầm của chúng ta, tôi kêu gọi anh em hãy sốt sắng thi hành nhiệm vụ của mình…

Sau khi ra lệnh giải tán, Chương lưu lại Thiện, Toàn, Thâm và Ân, cơ khí trưởng để báo cáo lần cuối cùng về tình trạng nhiên liệu và vũ khí trước khi lên đường ra trung. 15 phút sau, dưới lệnh của Hạnh, sĩ quan đương phiên chiếc 66 chìm xuống biển sâu rồi lặng lẽ hải hành với vận tốc 10 knots một giờ.

00:00 giờ.

Biển đen thăm thẳm. Sóng vỗ ì ầm vào mạn của chiếc 66 khi nó nổi lên khỏi mặt nước để chạy máy xạc bình đồng thời nhận toán hải kích 24 người từ tuần dương hạm Như Nguyệt. Sau khi người lính cuối cùng của toán hải kích chui xuống hầm, tiếng còi ré lên. Đậy nắp hầm, khóa lại cẩn thận, đại úy Toàn, sĩ quan đương phiên ra lệnh.

– 66 chuẩn bị lặn… 66 chuẩn bị lặn…

Một phút sau chiếc tàu ngầm mang sứ mạng đột kích căn cứ Cam Ranh để chiếm đóng mấy chiếc Kilo từ từ chìm mất trong lòng biển thâm u. Phòng chỉ huy sáng vừa đủ cho các sĩ quan đang đứng vòng quanh chiếc bàn hành quân của hạm trưởng. Trên mặt bàn hiện lên tấm bản đồ của tỉnh Khánh Hòa mà vịnh Cam Ranh được làm lớn lên với các địa điểm như Bình Ba, Bình Lập, núi Ao Hồ, mũi Cà Tiên và hòn Chút.

– Theo tin tức mới nhất và cũng là tin tức cuối cùng mà bộ tư lệnh gởi cho tôi thì căn cứ tàu ngầm của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở tại Cam Ranh hiện có tới bốn chiếc Kilo…

Thấy trung úy Miên, trưởng toán hải kích nhìn mình với ánh mắt băn khoăn, Chương cười nhẹ tiếp.

– Cuộc đột kích căn cứ Cam Ranh sẽ là cuộc hành quân lớn với sự tham dự của ba binh chủng hải lục không quân. Bên bộ binh thời có một lữ đoàn đặc nhiệm do trung tá Phùng chỉ huy. Nhiệm vụ của lữ đoàn đặc nhiệm là tấn kích vào lính phòng thủ của căn cứ đồng thời sẽ giữ an ninh trật tự sau khi căn cứ bị chiếm đóng. Bên hải quân thời có bốn chiếc tàu ngầm, mỗi chiếc chở theo 24 lính hải kích. Các toán hải kích có nhiệm vụ chiếm đóng các căn cứ hải quân Cam Ranh cùng với các tàu neo đậu. Ngoài ra còn có các chiến hạm nổi lềnh bềnh ngoài khơi để yểm trợ hải pháo. Phần không quân sẽ trực thăng vận một tiểu đoàn lính dù chiếm phi trường. Cuộc hành quân đột kích căn cứ Cam Ranh sẽ được điều động bởi đại tá Sơn, tham mưu phó của thiếu tướng Khải…

Ngừng lại giây lát xong Chương khẽ ra hiệu cho hạ sĩ nhất Bính, nhân viên phụ trách về bản đồ. Bình bấm cái nút màu xanh. Trên mặt bàn hành quân từ từ hiện lên tấm bản đồ chi chít những con số. Tất cả sĩ quan của chiếc 66 đều biết đó là bản đồ đo độ sâu của Biển Đông, trải dài từ bờ biển của đảo Hải Nam xuống tới tận quần đảo Trường Sa và một phần của Vịnh Thái Lan. Nhờ bản đồ này họ có thể biết một cách khá chính xác về độ sâu của bờ biển Việt Nam đặc biệt là các hải cảng như Cam Ranh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Sài Gòn. Giọng nói trầm và chậm rãi của vị hạm trưởng vang lên.

– Diện tích chừng 60 cây số vuông, nước sâu trung bình từ 15 cho tới 30 mét, quân cảng Cam Ranh có sức chứa hàng trăm chiến hạm lớn nhỏ. Nó là nơi đặt bộ tư lệnh hải quân Vùng 4, Lữ đoàn 162 tàu chiến đấu và lữ đoàn 189 tàu ngầm của Hải quân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nhiệm vụ của trung úy là tấn công và chiếm đóng 4 chiếc Kilo…

Chương nói trong lúc nhìn trung úy Miên, trưởng toán 1 hải kích.

– Hai toán hải kích 1 và 2 đang ở trên hai chiếc 55 và 77 sẽ lãnh phần đánh chiếm bộ tư lệnh hải quân vùng 4 và bộ chỉ huy lữ đoàn 162. Còn toán hải kích 3 và 4 do trung úy chỉ huy có nhiệm vụ đột kích bốn chiếc Kilo đang cập cầu cũng như đánh chiếm căn cứ của lữ đoàn 189…

Chương ra hiệu cho hạ sĩ nhất Bính. Chừng hai ba giây đồng hồ sau mấy tấm hình hiện ra trên màn ảnh.

image001Chỉ vào bức ảnh vị hạm trưởng cất giọng chậm và trầm.

– Trung úy thấy bốn chiếc Kilo đang cặp cầu rồi chứ gì. Bình thường thì nó cặp vào các cầu lộ thiên nên rất dễ cho anh em hải kích lại gần. Tuy nhiên trong thời chiến thì nó sẽ được cất giấu vào trong đường hầm…

Chương chỉ tay vào ba bức hình vừa hiện ra.

image003image005image007Quan sát giây lát trung úy Miên chắt lưỡi.

– Nó mà ở trong đây khó đánh lắm trung tá ơi. Hổng dễ lọt vào các đường hầm đúc bằng bê tông…

Đang im lặng nghe tự nãy giờ Thiện chợt lên tiếng.

– Lọt vào bên trong đường hầm này rất khó khăn và lâu lắc. Nếu mấy chiếc Kilo mà đậu ở trong đó thì mình chơi cách khác. Trung úy và anh em hải kích chỉ cần đặt mìn chận bít cửa ra vào của nó rồi mình tính sau…

Được Thiện mớm cho ý kiến hay, trung úy Miên khoái chí cười ha hả. Gật gù cười Chương thong thả lên tiếng.

– Tôi biết… Cũng may là phòng tình báo của hải quân đươc sự giúp đỡ của một sĩ quan nằm trong lữ đoàn tàu ngầm 189 của địch. Sau khi mình chiếm xong bộ chỉ huy thì vị này sẽ giúp mình vô hiệu hóa hệ thống an ninh cũng như chỉ dẫn cách thức để cho mình xâm nhập vào đường hầm và tiếp cận với mấy chiếc Kilo. Cũng do tin tức của vị sĩ quan này bộ tư lệnh hải quân của ta mới biết có bốn chiếc Kilo đang ở tại căn cứ Cam Ranh…

Nghe vị hạm trưởng tiết lộ tin tức. trung úy Miên cười vui vẻ.

– Như vậy thì đỡ cho tôi và anh em hải kích. Chứ kiểu đường hầm này chắc chắn máy bay đánh bom còn chưa xập…

Chương gật đầu hắng giọng.

– Lát nữa đại úy Toàn sẽ cung cấp thêm tin tức cho trung úy biết về cách kiến trúc và thiết trí của Kilo để khi vào được bên trong thì trung úy và anh em hải kích biết phải làm gì để chế ngự và kiểm soát nó rồi sau đó nhân viên của tôi sẽ phụ trách việc điều khiển và chỉ huy Kilo…

Dứt lời Chương ra hiệu cho Toàn. Hiểu ý hạm trưởng, Toàn cười nói với Miên.

– Mời trung úy tới bàn của tôi để tôi trình bày với trung úy về cách thức bố trí của chiếc tàu ngầm của Nga Sô…

Đợi cho Toàn với Miên đi xong, Chương hắng giọng nói với hạm phó của mình.

– Chiếc 66 sẽ vào tận trong vịnh rồi tới sát căn cứ 189 để toán hải kích đột kích nhanh hơn…

Nghe hạm trưởng nói là tàu sẽ vào trong vịnh, thủy thủ đoàn nhìn nhau với ánh mắt lo âu. Họ biết hành động lén lút lặn vào trong vịnh để thả toán hải kích ra là hành động táo bạo và cực kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên đó là cách duy nhất để đột kích và chiếm giữ bốn chiếc tàu ngầm của địch. Nếu không chiếm giữ được mà để nó ra khơi thì coi như kế hoạch bất thành. Độ sâu của nước trong vịnh chỉ chừng 30 mét do đó khó mà triển khai hết sự tàng hình của chiếc 66 được. Nếu kẻ địch phát giác ra thì họ chỉ còn nước đầu hàng hoặc chết. Dường như biết được sự lo lắng của thủy thủ đoàn các cấp, Chương cười bình tịnh nói tiếp như để trấn an tất cả nhân viên của mình đang ở trong phòng chỉ huy.

– Anh em đừng có lo. Tôi có cách vào vịnh rất an toàn. Chúng ta sẽ vào trong vịnh Cam Ranh lúc ban đêm và cũng phải chọn thời tiết thật thích hợp…

Giơ tay nhìn đồng hồ thấy đã quá giờ ăn tối vị hạm trưởng cười tiếp.

– Chúng ta còn dư thời giờ để bàn soạn một cách chi tiết cuộc đột kích căn cứ hải quân Cam Ranh nên tôi để cho anh em đi ăn cơm tối…

Hiểu ý hạm trưởng chỉ muốn bàn chi tiết cuộc đột kích với các sĩ quan có trách nhiệm mà thôi nên Thiện cười ra lệnh cho thủy thủ đoàn giải tán đi ăn cơm tối.

64.

Trung tá Phùng là người thứ ba nhảy ra khỏi lòng chiếc C130. Ông ta cùng với bộ chỉ huy và tiểu đoàn 1 thuộc lữ đoàn đặc nhiệm nhảy dù xuống khu vực núi Tà Lương thuộc tỉnh Khánh Hòa vào một đêm tối trời. Ngọn núi này cao hơn 700 mét nằm cách Cam Ranh chừng 15 cây số. Tuy không cách xa Cam Ranh lắm song vì núi khá cao và cây cối rậm rạp nên vùng đất bao chung quanh chân núi vẫn không có đông dân cư ngụ. Theo kế hoạch hành quân đã được phác họa thì trung tá Phùng với bộ chỉ huy lữ đoàn cùng với tiểu đoàn 1 của thiếu tá Tài nhảy dù xuống núi Tà Lương để từ đó bất thần đột kích vào căn cứ Cam Ranh. Trong lúc đó, trung tá Anh, lữ đoàn phó sẽ chỉ huy tiểu đoàn 2 của thiếu tá Chiếm, bí mật nhảy dù xuống vùng đất của sông Cái thuộc quận Diên Khánh để từ đó đánh lấy Nha Trang đồng thời yểm trợ cho tiểu đoàn 1 và có thể tiến đánh căn cứ Cam Ranh nếu cần. Còn thiếu tá Bình, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 với toàn bộ tiểu đoàn hơn 800 lính sẽ nhảy xuống vùng Suối Vang, Suối Đá và Suối Giếng thuộc tỉnh Ninh Thuận nằm kế bên quốc lộ 1. Tiểu đoàn 3 có nhiệm vụ khóa cứng đường tiếp viện quân của địch từ Phan Rang ra giải vây cho Cam Ranh.

Trải tấm bản đồ rộng ra trên đất, chỉ tay vào một điạ điểm được khoanh tròn màu đỏ, trung tá Phùng hỏi trung úy Hiển ở trong bộ chỉ huy của mình.

– Mình đang ở đây phải không em?

Gốc gác ở Nha Trang, gia nhập quân lực năm 2037 cho nên Hiển vẫn còn nhớ khá nhiều về tỉnh Khánh Hòa.

– Dạ… Mình đang ở dưới chân núi Tà Lương, cách Cam Ranh độ mười hai cây số…

Khẽ gật đầu, Phùng hỏi tiếp.

– Mình đi đường nào về Cam Ranh gần nhất?

– Thưa trung tá… Mình phải đi Tân Hiệp rồi bắt đường 654 về Cam Ranh. Mình có thể đi bằng hai cách xe lửa hoặc xe hơi…

Gật đầu, Phùng quay qua nói với thiếu tá Tài, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1.

– Vụ đánh căn cứ tôi giao cho anh… Tôi với bộ chỉ huy sẽ đi sau. tụi này sẽ đánh thị xã…

Lãnh lệnh, Tài quây bốn đại đội trưởng lại.

– Hành dẫn thằng 1 tới ga Tân Hiệp trước nhất. Tôi nghĩ mình đón xe lửa về Ba Ngòi tiện lợi và kín đáo hơn là xe đò…

Đại úy Miện, tiểu đoàn phó phụ họa.

– Ông nói đúng… Để tôi chỉ huy thằng 1 và 2 tới Tân Hiệp chiếm lấy một chiếc tàu hỏa chở hết tiểu đoàn về Ba Ngòi…

Tài cười nói với Miện.

– Ông Phùng với bộ chỉ huy lữ đoàn lãnh vụ đánh chiếm thị xã. Phần tiểu đoàn của mình sẽ đánh căn cứ Cam Ranh…

Nghe câu nói của cấp chỉ huy, đại úy Miên cười hè hè.

– Đánh thì mình đánh được, chỉ sợ ít quân quá mình khó mà giữ lâu…

Bấm đèn pin soi rõ bán đảo Cam Ranh giây lát, thiếu tá Tài mới lên tiếng.

– Bên hải quân cũng sẽ cho lính hải kích của họ đánh chiếm căn cứ hải quân. Không quân cũng sẽ thả dù hoặc trực thăng vận lính nhảy dù xuống để tấn công phi trường. Phần mình lo bộ chỉ huy căn cứ thôi… Tiểu đoàn mình mà lấy được căn cứ Cam Ranh là tướng Khải mua bia cho mình nhậu…

Cười hà hà Miên kéo lính đi riết tới ga xe lửa Tân Hiệp. Trung úy Chấn, đại đội trưởng đại đội 1 dẫn đại đội với trung đội 2 của thiếu úy Nghĩa đi đầu. Nửa đêm họ thấy đèn cháy mập mờ soi rõ những chiế. Lính ập vào không gặp sự chống đối nào của nhân viên hỏa xa. Chốc sau chiếc xe lửa hú còi xuôi nam mang theo bộ chỉ huy lữ đoàn đặc nhiệm và một tiểu đoàn xung kích có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Cam Ranh.

o O o

Biển Đông. Đâu đó trong vùng hải phận Việt Nam.

350 mét sâu. Chiếc VNN66 Hải Mã lặng lẽ trườn mình trong lòng nước biển đen thẳm. Đèn của phòng chỉ huy sáng rực màu xanh. Âm thanh của máy móc phát ra từ phòng hải hành, phòng kiểm soát với điều khiển vũ khí và phòng thủy âm định vị nghe mơ hồ như tiếng rì rầm của gió nhẹ.

– Nó đâu rồi?

Vừa bước vào phòng chỉ huy Chương lên tiếng hỏi liền. Thiếu tá Thiện, hạm phó trả lời thay cho Hạnh, sĩ quan đương phiên.

– Đang từ đông nam ngược lên tây bắc… Tôi nghĩ nó chuẩn bị vào bờ… Hạm trưởng có ý kiến gì không?

55 thủy thủ ở trong tàu, chỉ có hạm phó Thiện là người duy nhất nói chuyện với hạm trưởng mà ít khi có tiếng ” trình ” hoặc ” thưa ”. Tất cả thủy thủ đoàn không kể cấp bậc và chức vụ theo thói quen và quân kỹ đều mở đầu câu nói bằng tiếng thưa hay trình. Bước tới đứng ngay màn hình của giàn máy thủy âm định vị thụ động mà thượng sĩ Đan đang ngồi, Chương lên tiếng.

– Thủy âm định vị báo cáo…

Vị hạ sĩ quan giỏi nhất của tàu về chuyện dò tìm tàu địch ứng tiếng liền.

– HQ 263… vận tốc 6… khoảng cách 2 hải lý… hướng tây bắc 270…

Khẽ gật gù tỏ vẻ bằng lòng, vị hạm trưởng chiếc tàu ngầm nổi tiếng nhất của hạm đội tàu ngầm Phú Quốc quay qua cười nói với Thiện.

– Tôi cũng đoán nó sẽ trở về Cam Ranh… Bám theo nó sát nút thì mình sẽ áp sát vào vịnh dễ hơn…

Thiện gật đầu chưa kịp lên tiếng, Chương tiếp liền.

– Mình lặn sâu mà chạy song song với nó ở trên đầu thì…

Nghe tới đó Thiện sáng mắt như hiểu ý của cấp chỉ huy. Quay qua Hạnh, anh ra lệnh gọn.

– 66… hướng tây bắc 270… vận tốc 10 knots…

Tuân theo lệnh hạm phó, vị sĩ quan đương phiên cho thủy thủ của phòng hải hành tăng tốc độ để bắt kịp chiếc tuần duyên hạm của hải quân vùng 4 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có căn cứ đóng tại Cam Ranh. HQ263 là loại tàu tuần duyên do Nga Sô đóng, có vận tốc nhanh gấp hai lần so với chiếc 66. Tuy nhiên đang đảm đương nhiệm vụ tuần tiễu trong hải phận 12 hải lý của mình nên nó chỉ chạy tà tà vì vậy mà chiếc tàu ngầm mới có thể bắt kịp nó. Cũng phải mất hơn giờ chiếc 66 mới bắt kịp rồi sau đó chạy song song với tàu địch ở độ sâu 350 mét. Ba hồi còi ré lên báo hiệu nhiệm sở tác chiến. Tất cả thủy thủ đoàn ngồi vào vị trí của mình. Phòng chỉ huy đều đủ mặt từ hạm trưởng cho tới người lính lái tàu kể cả trung úy Biên, toán trưởng toán hải kích.

– Thủy âm định vị báo cáo?

Giọng của vị hạm trưởng vang lên.

– 263… vận tốc 7… khoảng cách 0… hướng tây bắc 195…

Chương quay nhìn Thiện. Anh bắt gặp vị hạm phó cũng đang nhìn mình.

– Sắp vào bờ nên nó giảm tốc độ…

Thiện nói trổng. Chương gật đầu im lặng. Mấy lúc gần đây như để chuẩn bị cho vị hạm phó của mình lên thay thế hoặc đi làm hạm trưởng một tàu khác, Chương thường giao quyền chỉ huy lại cho Thiện. Khi nào cần kíp hoặc khẩn cấp thì anh mới có mặt ở phòng chỉ huy để điều khiển.

– Còn bao xa mới tới bờ?

Chương lên tiếng hỏi trong lúc bước tới bàn làm việc của Toàn, lúc đó đang là sĩ quan đương phiên.

– Thưa hạm trưởng… 6 hải lý…

Khẽ gật gật đầu, Chương ra lệnh gọn.

– 66… 200 mét sâu…

Hướng về phòng hải hành, Toàn lập lại lệnh của hạm trưởng. Thượng sĩ Minh, sĩ quan điều khiển cho tàu lặn xuống hoặc nổi lên lập lại hai lần lệnh trên cho nhân viên của mình nghe. Sở dĩ ông ta phải lập lại hai lần cốt ý cho nhân viên nghe rõ để thi hành đúng lệnh. Sau khi nhân viên của phòng lặn làm xong cũng phải lập lại hai lần để chứng tỏ mình đã thi hành đúng theo lệnh của hạm trưởng. Chiếc 66 từ từ nổi lên ở độ sâu 200 trong lúc giảm tốc độ xuống còn 7 knots để chạy song song với chiếc HQ263. Đang ngồi trên ghế Chương chợt lên tiếng.

– Độ sâu của biển?

Hạ sĩ nhất Bền, nhân viên phụ trách máy đo độ sâu của biển lên tiếng liền.

– 310 mét thưa hạm trưởng…

Rời ghế Chương bước tới màn hình đang hiện lên bản đồ đo độ sâu của Biển Đông. Anh nhìn chăm chú vào vùng biển nằm giữa hai tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hoà. Độ sâu của nước của Biển Đông thuộc duyên hải Việt Nam có bốn độ sâu khác nhau. Độ sâu nhất là vùng biển xa ngoài khơi giáp với quần đảo Trường Sa có độ sâu trung bình từ 1 cây số cho tới hai cây số và có thể sâu hơn nữa tuỳ theo chỗ lồi lõm của đáy biển. Độ sâu thứ nhì khoảng ngàn thước. Độ sâu thứ ba khoảng 500 mét và độ sâu thứ tư đang từ 500 mét bỗng đổi sang đột ngột chừng 150 mét. Tàu ngầm di chuyển trong vùng biển ven bờ nếu không cẩn thận sẽ bị đụng đá ngầm hoặc chạm đáy biển.

– 66… 150 mét… 66… 150 mét…

Tuân lệnh hạm trưởng chiếc 66 từ từ nổi lên ở độ sâu 150 mét và giữ tốc độ 7 knots để chạy song song với chiếc tàu tuần đi vào cảng Cam Ranh. Chiếc 263 vô tình không hay biết hoặc thiếu máy móc để dò tìm ra dưới nước sâu có chiếc tàu ngầm của địch đang bám theo mình, lợi dụng những tiếng động do mình phát ra để không bị hệ thống dò tìm của các tàu tuần quanh vịnh phát giác. Càng vào gần tới bờ chiếc HQ263 giảm tốc độ xuống còn 6 knots. Điều này rất có lợi cho chiếc 66 vì càng chạy chậm nó càng ít gây ra tiếng động lớn để không lo sợ bị phát giác bởi hệ thống thuỷ âm định vị của tàu địch.

Ba sĩ quan cao cấp nhất ở trong phòng chỉ huy của chiếc 66 là Chương, Thiện và Toàn đóng đinh con mắt của họ vào màn hình chỉ độ sâu. Càng gần tới thuỷ lộ để vào quân cảng Cam Ranh thì độ sâu càng giảm dần dần. Giơ tay lên chi vào số 77 trên bản đồ Chương nói với Toàn.

– Mình ngủ ở đây tiện nhất… Chờ chiếc 44 tới tháp tùng với mình đi vào trong vịnh…

Tuân lệnh hạm trưởng, Hạnh lúc này đang làm sĩ quan đương phiên ra lệnh cho tàu bình quân rồi chầm chậm nằm xuống đáy biển. Tất cả thuỷ thủ được lệnh hạn chế đi lại cũng như không được làm ồn và nghỉ ngơi tại vị trí tác chiến của mình.

65.

Trung tá Chính được lính trực đánh thức dậy lúc 04:30. Ông ta có nửa giờ để sửa soạn. Đúng 05:00, xốc lại khẩu Colt45 bên hông, đội lên đầu cái nón sắt, vị trung đoàn trưởng trung đoàn 2 của sư đoàn 11 leo lên chiếc xe jeep đang nổ máy bật đèn pha sáng quắc. Thượng sĩ Hà, ngồi ở ghế sau vỗ nhẹ lên vai hạ sĩ Bùng, tài xế cùng với câu nói thật gọn có hai tiếng.

– Đi em…

Chiếc xe jeep lăn bánh bắt đầu cuộc tiến chiếm vùng cao nguyên của sư đoàn 11 với hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc trong đó có ba thành phố quan trọng Bảo Lộc, Đà Lạt và Ban Mê Thuộc. Cũng đúng 05:00 giờ, đại tá Thạnh và toàn bộ tư lệnh của ông ta ở Long Khánh cũng di chuyển, trong lúc hai trung đoàn 1 và 3 với lữ đoàn Biệt Động Đội tuân theo đúng kế hoạch hành quân rời địa điểm đóng quân đi sau trung đoàn 2 của trung tá Chính.

33 tuổi. Vốn con nhà khá giả ở Long An, Hào được cha mẹ cho đi học đàng hoàng. Đậu tú tài anh thi vào đại học kinh tế để có thể sau này thay thế cha già trông coi cái xí nghiệp của gia đình. Tuy nhiên sau ba năm vật lộn với con chữ, Hào mới khám phá ra kinh doanh hoặc mua bán không hợp với bản tính của một thanh niên thích sôi động như mình. Thế là cãi lời cha, bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, anh tình nguyện gia nhập Trường Sĩ Quan Lục Quân 2 đóng tại căn cứ Nước Trong quận Long Thành. Sau khi tốt nghiệp anh được thuyên chuyển về tiểu đoàn 3, trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 315. Đời binh nghiệp trong thời bình của anh tuy có chút sôi động song chưa thỏa mãn được tính hiếu động và ưa thích nguy hiểm của anh. Chiến tranh cục bộ nổ ra đúng như mong đợi của Hào, bây giờ mang cấp bậc đại úy và chức vụ đại đội trưởng đại đội 1, tiểu đoàn 3, trung đoàn 2, sư đoàn 315. Dù là sĩ quan tài giỏi song đơn vị của anh cũng phải lùi và lùi trước sức tấn công mạnh mẽ của một quân đội trên cơ mình về tinh thần chiến đấu, kinh nghiệm chiến trường và vũ khí tối tân. Cuối cùng từ đơn vị nhỏ tới lớn phải tan hàng kéo theo sự xụp đổ của quân khu 7. Không còn là người lính của quân đội nhân dân, sau khi trình diện chính phủ mới, anh được phép trở về nhà ăn bám cha mẹ. Đùng một cái, qua thông cáo trên đài truyền hình và đài phát thanh, Hào được biết tin chính phủ mới sẽ tuyển mộ các cựu quân nhân để thành lập sư đoàn 11 dưới quyền chỉ huy của đại tá Thạnh, tư lệnh phó quân khu 7. Thế là Hào lại lần nữa gia nhập vào quân ngũ. Do ở sự hiểu biết và cũng muốn được sự ủng hộ của quân nhân các cấp, anh được giữ nguyên cấp bậc và chức vụ cũ khi đầu vào quân lực nước Việt Nam tự do và dân chủ. Anh cũng được cấp chỉ huy giải thích rõ ràng về nhiệm vụ và mục tiêu của chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn với giai đoạn 3 Ra Trung. Đơn vị của anh sẽ là mũi tiến công đầu và anh sẽ là người lính đặt chân lên Ban Mê Thuộc trước nhất.

Đoàn công voa chở tiểu đoàn 1 của trung đoàn 2 dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Ân được đổ xuống một vị trí nằm trên quốc lộ 20 cách thị xã Bảo Lộc chừng 20 cây số.

– Hào Hiệp đây An Dân… Hào Hiệp đây An Dân… nge rõ trả lời…

Hào Hiệp là danh hiệu truyền tinh của đại úy Hào, đại đội trưởng đại đội 2, còn An Dân là của thiếu tá Ân, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1. Biết tiểu đoàn trưởng muốn nói chuyện với đại đội trưởng của mình, hạ sĩ Bình, mang máy truyền tin bèn đưa ống liên hợp cho cấp chỉ huy.

– An Dân… An Dân… Hào Hiệp tôi nghe…

– Tôi cho anh cái vinh dự là người đầu tiên của sư đoàn 11 được ngồi uống cà phê ở Bảo Lộc. Anh ráng đánh cho đẹp nghen…

Hào bật cười vì cái giọng Sài Gòn của tiểu đoàn trưởng.

– Dạ… Tiểu đoàn trưởng đừng có lo… Tôi đang dẫn lính chạy bộ vào Bảo Lộc đây… Bảo đảm với tiểu đoàn trưởng là chiều tối hôm nay tiểu đoàn mình sẽ nhậu lai rai ở Bảo Lộc…

– Tốt… Nếu đụng nặng thì anh báo cho tôi biết…

Đưa máy lại cho Bình, Hào ra lệnh cho trung đội 3 di chuyển. 45 người lính kể luôn đại đội trưởng theo riết hai trung đội 1 và 2 lội một mạch tới trưa mới dừng lại ăn cơm và nghỉ ngơi. Cơm nước xong Hào quây ba trung đội trưởng lại.

– Mình chia làm ba cánh đi vào Bảo Lộc. Ông Bền dẫn trung đội 1 đánh mặt bắc. Ông Thân dẫn thằng 2 theo đường 20 đi vào. Còn ông Mành dẫn trung đội của ông kiếm đường đánh vào mặt tây…

Ba trung đội trưỡng lãnh lệnh kéo lính đi. 15:30 giờ. Dân chúng ở trong thị xã chợt nghe súng nổ, đủ mọi loại súng nổ rồi từ ba hướng khác nhau nhiều người lính lạ ào ào tiến vào. Lính phòng thủ của thị xã cố gắng chống cự song vì quân số ít và tinh thần chiến đấu suy giảm nên bị địch quân tràn ngập sau nửa giờ giao tranh. 18:00 giờ. Ngồi trên xe jeep đi vào thị xã Bảo Lộc, trung tá Chính được báo cáo hai tiểu đoàn 1 và 3 dưới sự yểm trợ của pháo binh và xe tăng đã đụng nặng với một đơn vị thuộc bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng có căn cứ đóng tại Di Linh. Hai tiểu đoàn 1 và 3 có nhiệm vụ mở đường để cho trung đoàn 1 và trung đoàn 3 với lữ đoàn biệt động đội noi theo quốc lộ 28 để tiến đánh Ban Mê Thuột. Nếu hai tiểu đoàn này bị địch chận cứng ở lộ 28 cuộc hành quân sẽ bị chậm trễ. Không kịp ghé quán cà phê uống ly nước giải lao, trung tá Chính bảo tài xế quày xe jeep trở ra quốc lộ 20 trong lúc lưu tiểu đoàn 2 giữ Bảo Lộc. 18:00 giờ. Trung tá Chính với bộ chỉ huy trung đoàn có mặt ở Di Linh. Nghe hai tiểu đoàn trưởng báo cáo tình hình, vị trung đoàn trưởng ngồi xe jeep quan sát trận địa xong điện về bộ tư lệnh sư đoàn xin pháo binh bắn hủy diệt mục tiêu đoạn ra lệnh cho hai tiểu đoàn tấn công. Thằng 1 xấn vào bên phải, còn thằng 3 ập vào bên trái trong lúc hai chiếc xe tăng tấn công thẳng vào chính diện. Đại bác từ xe tăng bắn ra nổ ầm ầm. Súng của hai bên nổ suốt đêm tới gần bốn giờ sáng mới ngưng. Địch quân tan hàng bỏ căn cứ rút vào rừng. Được khai thông, hai trung đoàn 1 và 3 tiếp tục theo đường 20 cho tới khi đụng quốc lộ 27 mới theo con lộ này đi lên Ban Mê Thuột. Trong lúc đó lữ đoàn biệt động đội ngồi quân xa theo quốc lộ 28 từ Di Linh lên Gia Nghĩa đoạn bắt đường 683 tiến lên Ban Mê Thuột.

o O o

19:00 giờ.

Đang ngồi im trên ghế Chương chợt lên tiếng.

– 66… 15 mét sâu… vận tốc 5…

Tuân lệnh hạm trưởng chiếc tàu ngầm từ từ nhúc nhích rồi sau đó chậm chạp nổi lên ở độ sâu 15 mét.

– 66 bình quân… 66 bình quân…

Chiếc tàu ngầm lơ lửng trong nước giây lát. Bước tới ống dòm vị hạm trưởng xoay một vòng tròn rồi dừng lại rất lâu ở không độ. Bên kia hạm phó Thiện cũng dán mắt mình vào ống tiềm vọng kính. Bẻ cái càng lại, nâng ống dòm lên cao khỏi đầu mình, Chương buông gọn một câu mà khi nghe xong tất cả thủy thủ trong phòng chỉ huy đều ngẩn ngơ. Có người đang làm việc cũng ngưng tay quay nhìn cấp chỉ huy. Hơi mỉm cười Chương lập lại lệnh của mình lần nữa.

– 66… vận tốc 5… không mét sâu…

Không mét sâu đồng nghĩa với tàu nổi lên mặt nước. Hổng lẽ hạm trưởng đùa. Hổng lẽ ông điên khùng đi vào cảng Cam Ranh bằng cách nổi lên mặt nước. Tuy nhiên lệnh là lệnh. Liếc nhanh hạm trưởng đang đứng trước tiềm vọng kính, trung úy Hạnh, sĩ quan đương phiên nói lớn.

– 66… vận tốc 5… zero mét sâu…

Chiếc Hải Mã từ 15 mét sâu chậm chạp nổi lên mặt nước. Vẫy đại úy Toàn, Chương nói nhỏ vào tai. Nghe xong Toàn cười ha hả bước tới ngăn tủ lôi ra lá cờ nền đỏ sao vàng còn mới tinh. Bây giờ thì Thiện, rồi Thâm sĩ quan vũ khí và toàn thể thủy thủ đoàn mới bật ngữa khi hiểu ra chiếc 66 sẽ treo lá cờ của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để đường hoàng đi vào cảng Cam Ranh chứ không có chịu vào một cách lén lút. Vào cảng lúc chạng vạng tối thì đâu có ai phân biệt được chiếc nào là tàu ngầm của phe địch và tàu ngầm của phe ta. Tàu tuần tiễu làm sao đủ sức nhận ra chiếc nào là Kilo và chiếc nào là tàu ngầm của hải quân Việt Nam ở Phú Quốc. Tàu tuần tiễu chỉ cần nhìn lá cờ đỏ sao vàng để phân biệt bạn hay địch mà thôi.

Chương cười cười nói với hạm phó Thiện và đại úy Toàn.

– Tụi mình lên đài quan sát hóng gió. Anh em nào không nhằm ca trực được thay phiên nhau lên để hút thuốc và uống cà phê…

Ôm lá cờ đỏ sao vàng, hạ sĩ Em được lên trước tiên vì có nhiệm vụ treo cờ. Gió biển thổi khá mạnh làm lá cờ bay phần phật. Thủy thủ đoàn đứng chật đài quan sát dùng ống dòm quan sát phong cảnh của vịnh Cam Ranh. Ai cũng thấy, chiếc 44 treo cờ đỏ sao vàng chạy sau họ chừng trăm thước. Mọi người đều nín thở khi chiếc tàu tuần chạy song song với họ rồi vượt qua mặt ra ngoài khơi.

– Anh em ráng tìm ra chỗ mấy chiếc Kilo đang cập cầu…

Chương ra lệnh cho thủy thủ đứng chen chúc trên đài quan sát. Hàng chục chiếc ống dòm rê khắp nơi như muốn xuyên thủng màn đêm. Cuối cùng có tiếng trung sĩ Bảng vang lớn.

– Thấy nó rồi… đông bắc 70 độ…

Quan sát cẩn thận Chương ra lệnh cho tàu nhắm chỗ đèn sang sáng chạy tới. Toán hải kích dưới quyền chỉ huy của trung úy Miên sẵn sàng hành động khi tàu cặp vào cầu. Mười lăm phút sau hai chiếc 44 và 66 lặng lẽ cặp vào. Chiếc 44 cặp vào bên trái còn chiếc 66 cặp vào cây cầu còn trống nằm giữa hai chiếc Kilo tắt đèn tối thui. Giơ tay xem đồng hồ, Chương nói với thủy thủ đoàn.

– Giờ hẹn với trung tá Phùng là 00:00 giờ. Mình còn đúng 1 giờ nữa…

Quay qua hạm phó Thiện, vị hạm trưởng cười tiếp.

– Ông cho thủy thủ ứng trực và canh gác cẩn thận…

Quay qua trung úy Miên, anh tiếp nhanh.

– Cách tốt nhất là trung úy cho anh em hải kích sẵn sàng tác chiến. 15 phút trước 00:00 giờ trung úy đi được rồi…

Hai chiếc tàu ngầm của hải quân Phú Quốc tắt đèn tối thui chờ tới giờ hẹn.

o O o

Thiếu tá Tài giơ tay lên. Chiếc đồng hồ dạ quang của ông ta chỉ đúng 23:55 giờ. Vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 bốc máy gọi trung úy Hành chỉ huy đại đội 1 đang nằm tại Mỹ Ca. Nhận được lên nổ súng, Hành nói với thiếu ý Yên, trung đội trưởng trung đội 1 và chuẩn úy Hiền chỉ huy trung đội 2.

– Ông Yên đánh cầu bên phải còn ông Hiền dũa cây cầu bên trái. Mình phải chiếm hai cây cầu thì mới có đường qua bên kia…

Yên thúc lính men theo nhà dân tiến gần tới đầu cầu có vọng gác đèn điện cháy sáng trưng. Xuyên qua ống dòm anh thấy có người lính đi đi lại lại. Cắc… Bùm… Phát súng lệnh cũng là phát súng bắn sẻ đốn gục người lính canh. Ầm… Trái hỏa tiễn cầm tay thổi bay vọng gác.

– Xung phong…

Toán khinh binh của tiểu đội 1 ào lên… Tạch… tạch… M16 nổ dồn dập. Nguyên đại đội hơn hai trăm của Hành túa lên cầu như ong vỡ tổ. Không đầy 5 phút, những người lính đầy kinh nghiệm trận mạc của trung tá Phùng tràn ngập cứ điểm của địch. Để một tiểu đội có bố trí đại liên và hỏa tiễn cầm tay chống xe tăng giữ cầu, Hành thúc bốn trung đội của mình chạy nhanh trên cây cầu xi măng nối đất liền với bán đảo Cam Ranh. Được tin, thiếu tá Tài tức tốc kéo rốc tiểu đoàn theo sau đại đội 1 của Hành. Vừa được nửa cây cầu, anh nghe tiếng máy bay phản lực gầm rú rồi căn cứ Cam Ranh bốc cháy sáng rực.

– Máy bay mình anh em ơi… F15 của mình…

Lính la rầm trời khi thấy mấy chiếc F15 đang chúc mũi xuống. Bom nổ ầm ầm. Hỏa tiễn rít gió. Được phi cơ yểm trợ, Tài mừng rỡ hét lính xung phong. Những người lính mang hai cấp số đạn cộng thêm các trang bị nặng nề cố gắng bám sát theo cấp chỉ huy. Tay cầm Colt45, tay cầm máy truyền tin cá nhân, vị tiểu đoàn trưởng có mặt với toán xung kích đầu tiên. Vượt khỏi cầu, toàn bộ tiểu đoàn 1 túa ra khắp nơi. Đích thân Tài chỉ huy đại đội 4 với bộ chỉ huy tiểu đoàn đánh thẳng vào bộ chỉ huy của căn cứ Cam Ranh. Cùng lúc đó hàng chục chiếc trực thăng vận tải xuất hiện rồi lát sau từ từ đáp xuống phi trường. Lính dù túa ra khắp nơi đánh vào các vị trí quan trọng của phi trường và căn cứ không quân. Tuy quân số không đông lắm song nhờ dựa vào các công sự phòng thủ chắc chắn được bố trí các ổ súng cộng đồng nên lính phòng thủ của địch tạm thời ngăn được làn sóng tấn công mạnh mẽ của tiểu đoàn 1. Nhận biết được điều đó, Tài lên máy đích thân nói chuyện với cấp chỉ huy xin thêm quân tiếp viện. Không còn quân nào khác hơn, trung tá Phùng bèn ra lệnh cho thiếu tá Anh, lữ đoàn phó chỉ huy hai đại đội của tiểu đoàn 2 đang đóng dọc theo quốc lộ 1 đâu đó trong vùng Cam Hải Tây về tiếp viện cho tiểu đoàn 1 của thiếu tá Tài. Nhận được lệnh, Anh sai lính kiếm xe xuôi nam.

o O o

– Kế hoạch đánh chiếm bốn chiếc Kilo của chúng ta có chút thay đổi…

Chương nói với trung úy Miên, vị sĩ quan chỉ huy hai toán hải kích có nhiệm vụ tấn công căn cứ của Lữ đoàn tàu ngầm 189 và bốn chiếc Kilo đang cặp cầu gần bên chiếc 44 và 66.

– Vì chiếc 44 đang cặp kế bên hai chiếc Kilo nên tôi đề nghị với trung úy là để cho toán hải kích ở trên chiếc 44 đánh chiếm hai chiếc tàu ngầm của địch trước đã. Phần ông cũng dồn hết anh em hải kích để chiếm lấy hai chiếc Kilo đang đậu ở gần mình. Sau khi chiếm được bốn chiếc tàu ngầm xong rồi anh em hải quân chúng tôi sẽ phụ anh em lính hải kích giữ tàu để cho ông kéo hết lực lượng lên tấn công bộ chỉ huy của lữ đoàn 189…

Đúng ra thì Chương không cần phải đề nghị như vậy vì anh là kẻ chỉ huy của Miên, song vì lịch sự và không muốn làm phật lòng vị trưởng toán hải kích nên mới lên tiếng nói đề nghị. Nhận thấy lời nói của Chương rất hợp lý với lại cũng biết Chương là cấp chỉ huy trong công tác này nên Miên cười hà hà thốt.

– Trung tá là sếp mà… Coi bộ ông cưng mấy chiếc Kilo nhiều à nghen…

Mọi người trong phòng chỉ huy cười song không dám cười lớn vì câu nói đùa của Miên. Thiện lên tiếng vừa đủ.

– Bạc tỉ đó ông… Mỗi chiếc Kilo giá 300 triệu thì tụi này cưng là phải rồi…

Gục gặt đầu Miên rời phòng chỉ huy đi về chỗ dành riêng cho toán hải kích để phác họa lại cách đánh chiếm hai chiếc Kilo. Phần Thiện cũng liên lạc với chiếc 44 để cho biết về lệnh mới của hạm trưởng của mình.

23:45 giờ. Chương bắt tay trung úy Miên song không nói gì hết ngay cả lời chúc may mắn thường lệ. Anh biết những người lính hải kích chuyên nghiệp như Miên lời chúc may mắn không có tác dụng gì hết. Đành rằng may mắn ở đâu cũng có và xảy ra bất cứ lúc nào, song lính hải kích tin vào chính mình hơn. Cầm tay khẩu súng lục có gắn ống hãm thanh, trung úy Miên nói gọn với toán hải kích bằng câu nói tiếng Anh. Đó là thứ ngôn ngữ mà anh thông thạo hơn.

– Let’s go…

Hai mươi bốn người lính hải kích nhanh chóng chia ra làm hai toán tìm cách lại gần hai chiếc tàu ngầm của địch. Toán 1 do thượng sĩ Ban, toán phó chỉ huy có nhiệm vụ đánh chiếm chiếc Kilo đậu bên phải, còn Miên tự mình điều động toán 2 đánh vào chiếc bên trái cùng cây cầu với chiếc 66.

Tay không vũ khí, thượng sĩ Ban chậm rãi đi tới chỗ người lính đang cầm súng gác chiếc tàu ngầm. Qua ánh đèn điện sang sáng anh thấy được lá cờ đỏ sao vàng bay nhẹ trong gió đêm. Người lính gác đầu đội nó sắt, tay cầm khẩu AK47 đi đi lại lại trên cầu tàu.

– Anh có bật lửa không anh?

Thượng sĩ Ban lên tiếng hỏi người lính gác cầu tàu. Khi còn cách người lính gác chừng hai bước, Ban đưa điếu thuốc lá lên như tỏ ý muốn hỏi lửa để đốt thuốc lá. Người lính canh hơi tỏ vẻ ngạc nhiên về sự xuất hiện bất thình lình của người lính xa lạ. Tuy nhiên anh ta vẫn móc túi đưa cho Ban hộp diêm quẹt. Đốt thuốc xong, Ban trả hộp quẹt lại.

– Lạnh quá…

Ban xuýt xoa. Người lính gật đầu im lặng ngầm quan sát Ban. Dù thấy người lính lạ không có vũ khí song anh ta vẫn còn chút cảnh giác xuyên qua thái độ dè dặt và không thân thiện lắm.

– Mời anh điếu thuốc…

Ban đưa gói thuốc ra. Do dự giây lát rồi cuối cùng người lính canh cũng đeo khẩu súng lên vai, tay rút điếu thuốc ra ngậm vào miệng rồi đưa trả lại cho Ban, trong lúc tay kia móc túi lấy hộp quẹt. Ngay lúc đó cánh tay của người lính hải kích mang cấp bậc thượng sĩ có hơn hai mươi tuổi lính bung ra. Xoẹt… Lưỡi dao bấm mỏng tanh xuyên qua kẻ xương sườn đâm sâu vào tim. Người lính gác cầu gục xuống không kêu được tiếng nào. Ban vẫy tay. 11 người lính mặc thường phục xuất hiện. Êm và nhanh hơn bóng ma, trung sĩ Kiệm bước xuống chiếc tàu ngầm đang đậu có cánh cửa đang mở rộng cho không khí vào tàu.

– Chào…

Tiếng chào của Kiệm kèm theo tiếng nổ của súng hãm thanh tạo thành âm thanh bụp… bụp… bụp… vang lên ở phòng chỉ huy, phòng ngủ, phòng cơ khí và mọi ngõ ngách trong tàu từ nòng súng của 12 người lính hải kích. Được tin của trung úy Miên báo đã làm chủ hai chiếc Kilo, Chương tức tốc huy động thủy thủ của mình tới thay thế cho toán hải kích canh giữ tàu của địch. Lưu lại bốn người lính hải kích để phụ coi tàu với thủy thủ của chiếc 66, trung úy Miên kéo rốc lính lên bờ tính cách tấn công căn cứ của lữ đoàn 189. Sau khi lục soát khắp nơi Chương mới biết sỡ dĩ toán hải kích chiếm tàu mau lẹ vì ban đêm thủy thủ của mấy chiếc Kilo đều về nhà hết trơn. Còn một ít ở lại trực gác nhưng ngủ say thành ra không chống trả được. Chưa hoàn tất được việc kiểm soát bốn chiếc Kilo, thủy thủ đoàn của chiếc 66 nghe súng nổ rộ lên khắp nơi trong căn cứ Cam Ranh. Điều đó cho họ biết lính xung kích của lữ đoàn đặc nhiệm đã mở cuộc tiến công ào ạt vào căn cứ. Lát sau họ lại nghe súng nổ ầm ầm ở căn cứ của hải quân. Dãy nhà trước mặt họ giáp với cầu tàu phụt lửa cháy sáng lòa. Tiếng la hét vang vang. Hơn trăm người lính của hai chiếc 44 và 66 được chia ra canh giữ bốn chiếc Kilo. Phần mấy người lính hải kích đem hết hỏa lực án ngữ tại đầu cầu. Cuộc đụng độ của hai phe kéo dài tới gần sáng mới chấm dứt.

66.

Đại tá Thạnh dừng xe jeep tại một địa điểm trên quốc lộ 27 cách thành phố Ban Mê Thuột độ vài cây số. Thành phố này là vị trí xung yếu và có tính cách chiến lược của vùng cao nguyên mà sư đoàn 11 của ông có trách nhiệm phải chiếm cho kỳ được dù trả với bất cứ giá nào. Đó là lệnh của tướng Khải khi mời ông chỉ huy sư đoàn 11 tiến công Ban Mê Thuột. Với ba trung đoàn chủ lực của sư đoàn cộng thêm lữ đoàn 172 biệt động đội, lữ đoàn 304 Nhảy Dù vừa được tăng phái, một trung đoàn thiết giáp, 1 trung đoàn pháo; ông có trong tay một lực lượng tinh nhuệ tương đương với hai sư đoàn bộ chiến. Các đơn vị này đã vào vị trí và chỉ còn chờ lệnh để công kích lực lượng của địch đang cố thủ trong thành phố bị cô lập với bên ngoài. Sáu trục lộ giao thông chính yếu từ các nơi đổ về Ban Mê Thuột đều được các đơn vị của ông chiếm đóng. Trung đoàn 1 của trung tá An đóng tại Phước An, địa điểm nằm trên quốc lộ 26 cách thành phố không xa lắm. Lữ đoàn 304 nhảy dù đóng quân trên quốc lộ 14 mà đơn vị tiền phương đã vào sát ranh giới của thành phố. Lữ đoàn 172 biệt động đội chia nhau đóng quân dọc theo đường 27 mà đơn vị tiến sâu vào đất địch nhất là tiểu đoàn 1 đang đóng ở xã Hòa Thắng. Trung đoàn 3 dưới quyền điều động của trung tá Thiện đặt bộ chỉ huy tại ngã ba đường 14 với lộ 693 cách thành phố không đầy 20 cây số. Trung đoàn 2 đang giữ Bảo Lộc và Đà Lạt, sau khi được thay thế bởi một đơn vị bạn, đã nhảy bước dài bằng trực thăng lên chiếm Buôn Đôn cùng các cứ điểm nằm trên đường 681. Như vậy thì Ban Mê Thuột đã bị cô lập hoàn toàn vì sư đoàn 1 và sư đoàn 2 đã di quân theo đường 14C để tiến đánh Pleiku và Kontum. Ngoài ra 4 sư đoàn bộ chiến khác cũng bắt đầu mở cuộc công kích vào các tỉnh miền duyên hải. Sư đoàn 3 với sư đoàn 4 đánh Phan Rang. Sư đoàn 5 và sư đoàn 6 đổ bộ lên hai tỉnh Khánh Hòa và Tuy Hòa để cắt miền trung ra làm hai phần. Cũng vì vậy mà các sư đoàn của quân khu 5 trấn đóng các tỉnh miền duyên hải không thể kéo lên tiếp viện cho sư đoàn 2 ở Pleiku và các đơn vị thuộc sư đoàn 307 tăng phái đóng tại Ban Mê Thuột. Nhận được tin đó ngày hôm qua, đại tá Thạnh rất an tâm điều động các đơn vị của mình tiến sát vào thành phố. Chỉ cần lệnh tấn công, năm đơn vị của ông với quân số 12 ngàn sẽ nhổ chốt để vào trung tâm thành phố Ban Mê Thuột. Tất cả hỏa lực hùng hậu này sẽ làm cho thành phố ” buồn muôn thủơ ” tan hoang vì sức chống trả của lực lượng phòng thủ. Ngoài các đơn vị thuộc lực lượng quân sự của tỉnh Đắc Lắc, Ban Mê Thuột còn được trấn giữ bởi hai trung đoàn 1 và trung đoàn 95. Trung đoàn 1 hay trung đoàn Ba Gia từng nổi tiếng trong cuộc chiến tranh Đông Dương năm 1975; tuy nhiên hơn 50 năm nay chưa tham dự cuộc chiến nào nên từ sĩ quan chỉ huy và binh sĩ đều thiếu kinh nghiệm chiến trường. Trung đoàn 95 có căn cứ ở thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gai Lai vừa kéo xuống tăng viện để phòng thủ Ban Mê Thuột. Cân phân giữa hai lực lượng, đại tá Thạnh nhận thấy nếu mình có hơn quân số và vũ khí thì địch cũng có lợi điểm ở chỗ có sẵn các công sự phòng thủ kiên cố. Bây giờ là lúc mà tất cả hai phe đều trông cậy vào tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Trán của vị cựu tư lệnh phó quân khu 7 của quân đội nhân dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và bây giờ là tư lệnh sư đoàn 11 thuộc quân lực của nước Việt Nam tự do nhăn lại với nhiều vấn đề phải giải quyết. Ông mà ra lệnh tấn công là có rất nhiều người chết kể cả lính, vợ con lính và dân lành vô tội. Làm thế nào để binh sĩ của địch mất tinh thần chiến đấu dẫn tới chuyện bỏ ngũ? Câu hỏi lởn vởn trong trí của vị sĩ quan tham mưu có hơn 20 tuổi lính.

05:00 giờ. Ngày 7-8-2042. Ban Mê Thuột.

Uống cạn ly cà phê xong đại tá Thạnh bốc máy. Lệnh từ đích thân xuống cho ba trung đoàn xung kích của sư đoàn 11 với hai lữ đoàn 172 biệt động đội và 304 nhảy dù bắt đầu mở cuộc tiến công vào thành phố Ban Mê Thuột. Khởi đầu cuộc tiến công là hàng ngàn quả đạn 130 ly từ các khẩu đại pháo của thiết giáp và trung đoàn pháo binh được rót vào các căn cứ quân sự và nơi đóng quân của địch. Ba phần tư dân chúng đã tản cư ra khỏi thành phố mấy ngày trước rồi vì biết thế nào cũng có đánh nhau. Còn số ít dân chúng và binh lính gồng mình gánh chịu cơn mưa pháo kéo dài hơn nửa tiếng đồng hồ mới dứt.

Pháo vừa dứt, đội lên đầu cái nón sắt, trung tá Cảnh, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 172 biệt động đội ra lệnh tiến quân. Tuy mới được thành lập song từ sĩ quan chỉ huy cho tới binh sĩ của lữ đoàn đã được tuyển chọn từ các quân cựu quân nhân của hai quân khu 9 và 7, do đó họ có nhiều kinh nghiệm đánh nhau không kém các đơn vị khác. Được trang bị vũ khí nhẹ, đơn vị xung kích này chuyên đánh nhau trong thành phố và đánh cận chiến. Đang đóng ở Hòa Thắng, thiếu tá Yên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 bung bốn đại đội ra lấy quốc lộ 27 làm chuẩn tiến chậm vào thành phố. Vùng trách nhiệm của tiểu đoàn 1 là phường 3 và 4 của thành phố Ban Mê Thuột. Hai phường này nằm dọc theo quốc lộ 27, rất đông đúc dân cư và có nhiều khu buôn bán sầm uất. Súng bắt đầu nổ mới đầu còn thưa sau dồn dập hơn. Bốn đại đội, mỗi đại đội có quân số hơn 250, dàn hàng ngang đi sau thiết giáp mở đường chậm chạp tiến vào. Bánh xích của xe tăng nghiến mặt đường nghe kèn kẹt. Nòng đại bác 130 chĩa về trước sẵn sàng bắn hủy diệt mục tiêu.

Đặt tại một địa điểm trên quốc lộ 27, bộ tham mưu của đại tá Thạnh bận rộn hơn bao giờ hết. Tiếng súng nổ ầm ầm, tiếng la hét, chửi thề văng tục vang vang trong hệ thống liên lạc nội bộ của sư đoàn. Đứng nhìn vào bản đồ điện tử của thành phố Ban Mê Thuột có các dấu hiệu chỉ quân nhà màu xanh và quân địch màu đỏ, tai lắng nghe báo cáo của các đơn vị mặt trận; đại tá Thạnh ước lượng, xét đoán, nhận định tình hình và truyền lệnh của mình tới các trung đoàn trưởng và lữ đoàn trưởng. Tuy không ở tuyến đầu nhưng vị tư lệnh biết rõ mọi diễn biến của trận đánh còn hơn các trung đoàn trưởng hoặc lữ đoàn trưởng nữa. Có thể nói ông ta không thực sự cầm súng bắn nhau với địch song đánh bằng cái não của mình, bằng cách di quân, chuyển đơn vị, đổi vị trí, ra lệnh cho phi pháo can thiệp lúc cần. Lệnh cho thằng 2-1 tiến (tiểu đoàn 2-trung đoàn 1), thằng 3-3 dừng (tiểu đoàn 3-trung đoàn 3). Lệnh cho lữ đoàn trưởng 304 Dù chuyển tiểu đoàn 2 đánh vào phường 1, còn tiểu đoàn 1 cố gắng ” link ” hay bắt tay với đại đội 3 của tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 1 của trung tá An. Không những biết rành các trung đoàn trưởng, ông ta còn nhớ luôn tên của các tiểu đoàn trưởng nữa. Có một điều mà ít có người biết trừ các sĩ quan tham mưu thân cận và gần gũi với ông ta, trước khi trở thành tư lệnh phó quân khu 7, đại tá Thạnh từng là phó trưởng phòng hành quân của bộ tư lệnh sư đoàn 2 lúc còn mang cấp bậc trung tá. Ông ta biết nhiều về F2 đang đóng bộ tư lệnh tại thành phố Pleiku. Thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1965 tại Quảng Nam, mang bí số F2 hiện thời có ba trung đoàn chủ lực là trung đoàn 1, 21, 31 mang bí số E1, E21 và E31 ( trung đoàn 1 nổi tiếng nhất, sau trận Ba Gia được gọi là trung đoàn Ba Gia ). F2 còn có thêm trung đoàn 368 pháo binh và các tiểu đoàn hoặc đại đội cơ hữu như tăng thiết giáp, công binh, trinh sát, đặc công, pháo…

Cuộc tiến công của sư đoàn 11 vào thành phố Ban Mê Thuột xảy ra hai giờ đồng hồ thì tạm chấm dứt theo lệnh của đại tá Thạnh. Bước ra sân, đốt điếu thuốc vị tư lệnh ngóng nhìn về phía cụm khói bốc lên đâu đó ở thành phố nổi tiếng vì cà phê. Làm thế nào để cho sức kháng cự của lực lượng phòng thủ phải yếu đi? Rít liên tiếp ba hơi thuốc lá hiệu Lucky mà tướng Khải có nhã ý tặng cho, Thạnh bắt đầu dạo bước.

– À…

Ý nghĩ bừng sáng trong óc, vị tư lệnh à tiếng nhỏ mừng rỡ quay vào lều, bước tới chỗ dành riêng cho tiểu đoàn tác chiến điện tử dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Chánh. Đây là đơn vị gồm toàn quân nhân của quân lực Việt Nam ở Phú Quốc chuyên đảm trách về truyền tin, liên lạc, an ninh và tình báo của sư đoàn.

– Mình có thể bắt sóng của địch không thiếu tá?

Đại tá Thạnh hỏi vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tác chiến điện tử một cách khá lịch sự hơn là ra lệnh. Chánh mau mắn trả lời.

– Dạ được chứ tư lệnh… Xin tư lệnh chờ 1 phút…

Lát sau đại tá Thạnh nghe tiếng ù ù rồi tiếng nói vang lên. Chỉ cần nghe thoáng qua ông biết đó là giọng nói của một sĩ quan nào đó phía bên kia đang nói chuyện với sĩ quan dưới quyền chỉ huy.

– Đây là đại tá Thạnh, cựu tư lệnh phó quân đoàn 7 và hiện thời là tư lệnh sư đoàn 11 của quân lực Việt Nam đang tấn công vào Ban Mê Thuột…

Đại tá Thạnh ngưng ở đó như muốn cho phe địch nghe và suy nghĩ về những gì mình nói. Mọi người đều nghe phía bên kia im lặng không nói gì hết.

– Tôi muốn nói với các sĩ quan chỉ huy trung đoàn 1, trung đoàn 95 và binh sĩ của bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắc Lắc hiện đang đồn trú trong thành phố Ban Mê Thuột. Tôi biết các anh là những người lính can đảm, kiêu hùng và trung thành với tổ quốc Việt Nam của chúng ta. Tuy nhiên trung thành với tổ quốc không có nghĩa là trung thành với đảng và nhà nước. Hào quang Điện Biên Phủ và huyền thoại đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ đã chết. Đảng và nhà nước hôm nay chỉ toàn những kẻ tham lam, khiếp nhược, ác với dân mà hèn với Trung Cộng, kẻ thù muôn đời của dân tộc Việt. Đảng coi trọng quyền lợi của cá nhân bè phái hơn quyền lợi của dân tộc và đất nước. Những kẻ cầm quyền hiện nay ở Hà Nội đã dùng mọi mưu mô thủ đoạn để làm giàu trên xương máu của dân lành và của các chiến sĩ anh hùng như các anh. Tôi biết các anh không sợ chết; nhưng chết cho đảng và nhà nước là một cái chết không xứng đáng. Chết cho đảng không phải là chết cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta mà là chết cho đám người ngu xuẩn, ươn hèn, khiếp nhược, vì tiền bạc và quyền lực cam tâm làm nô lệ cho ngoại bang. Cá nhân tôi sau khi thức ngộ đã theo về với quân lực của nước Việt Nam tự do dân chủ. Hôm nay, nhân danh cựu tư lệnh phó quân khu 7, kiêm tư lệnh sư đoàn 11 của nước Việt Nam; tôi kêu gọi các anh em sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đang đồn trú trong thành phố Ban Mê Thuột hãy buông súng, bỏ hàng ngũ theo về với quân lực của nước Việt Nam tự do dân chủ. Chúng tôi hân hoan chào đón các anh em và chúng ta sẽ cùng nhau cầm súng giải phóng Hà Nội đem lại tự do và dân chủ cho mấy chục triệu đồng bào miền bắc đang sống cơ cực lầm than dưới sự cai trị sắt máu của đảng cộng sản. Có như vậy các anh mới xứng danh là người lính chiến đấu cho dân tộc và đất nước. Các anh hãy mạnh dạn rời bỏ hàng ngũ để cùng chúng tôi lập thành một quân lực thống nhất đầy đủ sức mạnh để đòi lại Hoàng-Trường Sa và những đất đai đã mất về tay Trung Cộng…

Thông điệp của vị tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột đã được lập đi lập lại nhiều lần trên tần số nội bộ của phe bên kia cũng như được các xe chạy khắp nơi phát thanh cho dân chúng biết. Điều này lại có tác dụng không ai ngờ được. Chỉ trong ba ngày sau khi thông điệp được phát thanh, hàng ngàn binh sĩ đồn trú đã từ lén lút sau trở thành công khai buông súng và rời bỏ hàng ngũ kéo theo sự xụp đổ của Ban Mê Thuột rồi lan tới Pleiku và Kontum. Toàn vùng cao nguyên trung phần, hành lang chiến lược che chở cho Sài Gòn đã được tái chiếm và kiểm soát chặt chẽ. Đang ở Pleiku, sư đoàn 1 sẽ ngồi quân xa lên Kontum rồi sau đó sẽ hợp với sư đoàn 2 theo quốc lộ 14 đi lên Thạnh Mỹ, giao điểm của hai quốc lộ 14 và 14B để uy hiếp thành phố Đà Nẳng. Sư đoàn 11 với hai lữ đoàn tăng phái sẽ ngồi quân xa từ Ban Mê Thuột lên Kontum rồi theo quốc lộ 24 tấn kích vào tỉnh Quảng Ngải trong lúc sư đoàn 5 với 6 đang ở Tuy Hòa sẽ tiến chiếm Quy Nhơn và các vị trí quan trọng như Phù Cát, Tam Quan, Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định rồi vượt đèo Bình Đê tấn công Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngải. Bốn tỉnh của vùng cao nguyên là Lâm Đồng, Đắc Lắc, Gia Lai và Kontum sẽ do hai sư đoàn 14 tân lập chia nhau trấn giữ.

o O o

Sài Gòn. 12- 8- 2042. 10:00 giờ.
Tòa đô chánh.

Trăm ngàn người khắp nơi trong nước đã tụ về Sài Gòn ngày hôm nay để nghe thủ tướng Lê Quốc Việt đọc diễn văn trình bày về chính sách của chính phủ trong tương lai sau khi quân lực của nước Việt Nam ở Phú Quốc đã hoàn tất chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn Giai Đoạn 2. Dân chúng; có người ở tận đảo Phú Quốc xa xôi, có người ở Rạch Giá, Cần Thơ, Cà Mau, Châu Đốc, Mỹ Tho, Long An, Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Long đã đổ xô về Sài Gòn từ mấy ngày trước để tham dự buổi nói chuyện của vị đại diện chính phủ mới về đường lối đối nội và đối ngoại với những mục tiêu quan trọng như ” Ra Trung hay là chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn Giai Đoạn 3 ”; Biển Đông hay cách thức đối phó với Trung Cộng trong tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phục hồi và phát triển kinh tế của đất nước sau cơn binh biến và sự ổn định chính trị cũng như tổ chức các cơ cấu công quyền hầu thích hợp với tình thế hiện tại. Tuy nhiên điều mà dân chúng bàn tán sôi nổi mà vị thủ tướng họ Lê của nước Việt Nam tự do sẽ đề cập tới chuyện đi hay ở của ông ta trong chức vụ đứng đầu của nước. 16 năm qua dưới sự lãnh đạo anh minh, sáng suốt và khôn ngoan của ông ta; chánh phủ đã vượt qua mọi trở ngại và thử thách cam go để biến một nước Việt Nam nhỏ bé, nghèo nàn về kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa thành một nước Việt Nam hùng cường và có chỗ đứng vững vàng trên thế giới. Bây giờ dù đã trưởng thành song nước Việt Nam vẫn còn chưa thực hiện được giấc mộng của dân tộc là lật đổ cộng sản, thống nhất ba miền nam trung bắc thành một nước tự do dân chủ, đem lại no ấm cho dân chúng và cuối cùng đòi lại những đất đai, biển đảo đã mất bởi đế quốc Trung Cộng. Trong tình thế hổn độn và dầu sôi lửa bỏng này, vị thủ tướng tài ba và yêu nước thương dân lại nói tới chuyện rút lui ra khỏi chính trường về an hưởng tuổi già. Điều đó làm cho dân chúng ngạc nhiên rồi đâm ra thất vọng và buồn rầu. Nhiều người thân cận với ông ta còn tỏ ra giận dữ vì nghĩ rằng ông ta đã bỏ rơi họ, làm tan vỡ giấc mộng chống xâm lăng của họ.

Quan khách được mời tuần tự kẻ trước người sau ngồi vào ghế có tên của mình. Người ta thấy ở ba hàng ghế đầu có mặt đầy đủ các vị trong nội các, 99 đại biểu của quốc hội của nước Việt Nam, các tướng lãnh trong quân lực, nhiều đại sứ của các quốc gia thân hữu và cuối cùng là đại diện của những công ty xí nghiệp lớn nắm giữ các ngành quan trọng như kỹ nghệ, tài chính, ngân hàng và giao dịch của cả nước. Tất cả ánh mắt đều hướng về cánh cửa màu đỏ nơi mà thủ tướng Việt sẽ xuất hiện sau khi vị giám đốc phòng nghi lễ lớn tiếng hô báo hiệu.

Tới đứng tại bục gỗ có gắn máy vi âm, thủ tướng Việt khẽ giơ tay ra dấu chào mọi người. Giọng nói rắn rỏi và hơi trầm của ông ta vang lên.

– Kính thưa đồng bào… Kính thưa quí vị… Tôi có hai điều quan trọng, cần thiết và cấp bách để thưa cùng 99 vị đại biểu quốc hội, các vị bộ, thứ trưởng trong nội các, các vị tướng lãnh trong quân lực và các vị đại diện cho công ty xí nghiệp của nước ta và quan trong nhất cùng dân chúng của nước Việt Nam ở cả ba miền nam trung bắc. Ngay lúc tôi đứng đây thưa chuyện cùng quí vị thì thiếu tướng Trần Quang Khải đã điều động 8 sư đoàn bộ chiến với sự yểm trợ của không quân và hải quân tiến ra miền Trung để hoàn tất Giai Đoạn 3 của chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn và vị tư lệnh chỉ chịu dừng quân ở vỉ tuyến 17, nơi có sông Bến Hải và cây cầu Hiền Lương. Sau khi chiến dịch này chấm dứt, khi tình thế đã chín mùi, quân lực của chúng ta sẽ khai mở chiến dịch Ngóng Về Hà Nội để thống nhất đất nước hầu đem lại tự do, dân chủ và ấm no cho toàn dân tộc…

Không hẹn mọi người đồng loạt vỗ tay hoan hô lời tuyên bố này. Tiếng vỗ tay kéo dài thật lâu. Trong lúc mọi người đang vỗ tay, có một quân nhân mang cấp bậc trung tá bước ra tới chỗ thủ tướng Việt đứng và trình cho ông ta tờ giấy. Đọc xong ông ta tươi cười hắng giọng.

– Kính thưa quý vị. Tôi vừa nhận được tin sư đoàn 11 của đại tá Thạnh đã chiếm được Ban Mê Thuột…

Lần nữa mọi người trong phòng lại vỗ tay rào rào còn thiên hạ đứng ngoài thì hò hét vang trời. Đợi cho tiếng hoan hô dứt, vị thủ tướng cao giong nói của mình.

– Ngoài ra tướng Khải còn báo là quân ta cũng đã chiếm được quân cảng Cam Ranh. Các tàu chiến của hải quân địch cũng bị ta chiếm đóng trong số đó có bốn chiếc tàu ngầm…

Tiếng vỗ tay lần này vang lớn và lâu hơn nữa. Thiên hạ tung nón mũ lên không, la hét hú hò vang trời. Chỉ cần vài phút tin này đã lan ra khắp nơi trong nước và nước ngoài có người Việt cư ngụ.

– Với sự cố vấn của vị bộ trưởng quốc phòng, tham mưu trưởng liên quân, tư lệnh bộ binh, không quân và hải quân; tôi đã ra lệnh cho quân lực ta tiếp tục tiến công vào vùng cao nguyên trung phần và các tỉnh miền duyên hải. Làm chủ được vùng cao nguyên chiến lược thì quân lực ta mới có thể chận bít đường tiếp liệu và xâm nhập của Quân Đội Nhân Dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và giữ vững thủ đô Sài Gòn. Phải chiếm giữ vùng duyên hải với các hải cảng Cam Ranh, Đà Nẳng thì hải quân ta mới có đủ sức đối chọi lại hạm đội Nam Hải của hải quân Trung Cộng trong vấn đề tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai quần đảo này từ xưa tới giờ đều thuộc Việt Nam và mãi mãi là của Việt Nam. Tôi khẳng định cùng quí vị đang có mặt ở đây và với toàn thể đồng bào ba miền nam trung bắc là Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam và mãi mãi là của Việt Nam…

Tất cả mọi người trong phòng hội đều đồng loạt vỗ tay rồi đứng dậy hoan hô như chia xẻ quyết tâm của vị lãnh đạo tối cao của đất nước. Ngoài sân rộng lan ra cả đường phố dân chúng hò la, vỗ tay, tung mũ nón lên trời như vui mừng và nồng nhiệt hưởng ứng lời nói của thủ tướng Việt đồng thời la vang các khẩu hiệu ” Đả đảo Trung Cộng xâm lăng Việt Nam…” ” Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam ” …

– Kính thưa đồng bào… Kính thưa quí vị… Tôi cũng biết Trung Cộng là một cường quốc về kinh tế và quân sự trên thế giới. Tôi cũng biết Trung Cộng có hơn 1 tỉ dân. Tôi cũng biết quân lực của họ hùng mạnh nhất Á Châu. Tuy nhiên hùng mạnh không có nghĩa là họ muốn làm gì thì làm, muốn chiếm đất đai, biển đảo của ai cũng được. Là một cường quốc, họ phải hành xử làm sao cho xứng đáng cương vị của một cường quốc. Là một nước lớn, nước mạnh họ phải cư xử với láng giềng bằng hành vi và thái độ của bậc đàn anh. Có như thế thì các nước láng giềng nhỏ yếu mới kính phục và thân thiện với họ. Đằng này, ỷ mình mạnh, có máy bay tàu chiến, tàu ngầm nguyên tử hạt nhân; họ ngang ngược giành hết Biển Đông, trắng trợn vẽ đường 9 đoạn rồi hung hăng tuyên bố đó là quyền lợi cốt lõi của mình. Họ xem Biển Đông như cái ao của họ, tha hồ tự tung tự tác, khinh rẻ quyền tự chủ và lợi lộc của các lân bang. Hiềm khích sinh ra từ lòng tham không đáy của Trung Cộng. Nước Việt Nam ta tuy nhỏ, dân chỉ có trăm triệu, song không vì thế mà ta để cho họ bắt bớ ngư phủ, ngăn cấm dân ta đánh cá trên vùng biển mà tổ tiên đã đổ biết bao xương máu để giữ gìn cho tới ngày hôm nay. Quân lực ta dù có ít người hơn họ, vũ khí có thô sơ hơn họ; nhưng ta không thể khoanh tay đứng nhìn kẻ xâm lăng hạ đặt giàn khoan dầu ở trong vùng đặc quyền kinh tế của ta. Họ chiếm đất của ta vì lòng tham lam, còn ta chống trả lại họ chỉ vì cái lẽ sống còn của dân tộc, vì không đánh trả lại họ thì nước sẽ mất, dân sẽ cúi đầu làm nô lệ cho kẻ thù phương bắc. Vì cái lẽ sinh tồn của nước của dân mà Hai Bà Trưng mới mạnh dạn kêu gọi toàn dân đứng lên đánh lại Tô Định và Hán Triều. Vì cái thế sống còn mà Ngô Quyền mới đánh lại Nam Hán, mở ra nền tự chủ và độc lập cho Đại Việt ngàn năm sau. Cũng vì cái lẽ sống còn mà Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung phải hô hào toàn dân Việt đứng sau lưng họ để bẻ gãy mộng xâm lăng của nước láng giềng phương bắc. Hôm nay đây, nước Việt ta dưới sự lãnh đạo của tôi sẽ noi gương các bậc anh hùng trong lịch sử thề lấy lại Hoàng Sa từ tay Trung Cộng…

Tiếng la hét, vỗ tay hoan hô của dân chúng ở ngoài sân vọng vào lớn tới mức làm cho thủ tướng Việt phải ngừng lời.

– Đả đảo Trung Cộng…

– Hoan hô quân lực Việt Nam…

– Đánh cho để dài tóc… đánh cho để đen răng…

– Đánh cho nó chích luân bất phản… đánh cho nó phiến giáp bất hoàn…

– Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ…

Tất cả người ngồi trong phòng hội của tòa đô chánh đều nghe rõ mồn một dân chúng ngoài sân lập lại câu nói bất hủ trong bài thơ ” Hịch Ra Trận ” của vua Quang Trung trước khi đánh nhau với quân xâm lăng. Đứng ngay tại bục gỗ cao, vị thủ tướng của nước Việt Nam tự do dân chủ mỉm cười khi nghe dân chúng ngoài sân biểu lộ khí thế chống xâm lăng của dân tộc. Đợi cho tiếng hò la của dân chúng từ từ lắng đọng, ông ta mới hắng giọng tiếp.

– Muốn có một quân lực hùng mạnh đủ sức để bảo vệ đất nước, chúng ta cần phải có tiền để mua sắm tàu chiến, máy bay, xe tăng và quân dụng. Chúng ta phải có tiền trả lương cho binh sĩ, phải nuôi nấng vợ con họ khi mà họ nằm xuống trong nhiệm vụ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và tự do độc lập của đất nước. Chúng ta phải có tiền trả lương cho công chức; chăm sóc đời sống của người già cả, bệnh hoạn và nghèo khổ. Chúng ta phải có tiền mở mang trường học, đường sá cũng như các dịch vụ làm thăng tiến đời sống của dân chúng. Nói tóm lại chúng ta phải có tiền để làm tất cả mọi chính sách, mọi hoạch địch, mọi phương án mà chính phủ đã đề ra. Tiền ở đâu mà ra? Câu hỏi giản đơn này đã làm tôi mất ngủ hằng đêm, đã làm tôi giảm cân sau khi ngồi vào chiếc ghế thủ tướng và nhất là sau khi thành phố được hồi sinh dưới tên Sài Gòn. Thành thực mà nói, chiếc ghế thủ tướng của tôi không êm chút nào…

Người người đồng bật cười khi nghe vị lãnh tụ của họ pha trò.

– Vợ tôi thường nói cái ghế thủ tướng của tôi không được lót nệm mà lót bằng chông gai sắc nhọn vì không lúc nào tôi ngồi yên trên ghế. Rất may mắn là tôi có được bà vợ hiền, yêu chồng và thương nước nên không phàn nàn khi tôi làm việc 14 giờ một ngày…

Đang ngồi cạnh, Quế Hương thấy bà vợ của thủ tướng Việt mỉm cười. Tò mò cô quay qua hỏi nhỏ.

– Ổng nói có đúng không thưa bà?

Bà Việt, nhủ danh Trúc Đào cười nhẹ trả lời.

– Hổng đúng… Sự thực là ổng làm việc 24/24… Có nhiều khi tôi cằn nhằn bảo ổng dọn vào văn phòng ở luôn đi… Còn cô làm mấy giờ một ngày?

– Dạ ít hơn ông thủ tướng một chút. 12 giờ một ngày và 5 ngày một tuần… Chồng tôi và hai con nhỏ thường phàn nàn tôi mê làm việc. Tuy nhiên…

Nói tới đó Quế Hương phải ngưng nói khi giọng của thủ tướng Việt cất lên.

– Tiền là nỗi lo âu lớn nhất của tôi trong 16 năm làm thủ tướng. Cũng may tôi có được các cộng sự viên tài giỏi mà tôi muốn nêu tên họ ra đây không ngoài mục đích bày tỏ lòng cám ơn của mình. Hồng Ngọc với Quế Hương là hai bộ trưởng kinh tế và tài chính xuất sắc có những đặc điểm vô cùng quí giá. Ngoài chuyện kiếm ra tiền, dành dụm tiền, sử dụng đồng tiền đúng không chút lãng phí, hai cô còn yêu nước Việt Nam hơn chính bản thân mình. Hai cô tận tụy với chức vụ, hăng say trong việc kiếm ra tiền để cho tôi dùng phát huy nền giáo dục phôi thai chưa có đẳng cấp quốc tế. Cũng nhờ kinh tế tăng trưởng, tài chánh ổn định mà ông bộ trưởng giáo dục mới đào tạo được các chuyên viên tốt nghiệp đại học trong các ngành nghề quan trọng. Cũng nhờ vào tiền của hai cô Hồng Ngọc, Quế Hương mà các sáng kiến mới lạ của ông bộ trưởng văn hóa mới được thi hành để hôm nay nước ta mới bắt đầu thành hình một nền văn hóa khởi sắc đầy dân tộc tính. Cũng nhờ vào đồng tiền của chính phủ mà quân lực của ta mới đủ sức đánh bật Trung Cộng ra khỏi quần đảo Trường Sa. Cũng nhờ vào tầm nhìn chiến lược của ông Quốc, bộ trưởng quốc phòng và các tướng lãnh tài ba mà tôi mới được đứng ở giữa thành phố Sài Gòn, nói với đồng bào là ngày nào còn làm thủ tướng, tôi sẽ Ngóng Về Hà Nội để hoàn thành cuộc thống nhất ba miền nam trung bắc thành một nước Việt Nam dân chủ và độc lập, đem lại tự do và no ấm cho 90 triệu đồng bào vốn đã hứng chịu nhiều khổ đau trong quá khứ…

o O o

Trong lúc thủ tướng Việt thưa chuyện cùng đồng bào ở Sài Gòn, thiếu tướng Khải và bộ tư lệnh tiền phương của ông đặt tại căn cứ Cam Ranh đang hoạt động ráo riết. Từ ông tướng hai sao tới người lính binh nhì đều rất phấn khởi về thành quả đã đạt được sau khi ba sư đoàn 1, 2 và 11 bình định được vùng cao nguyên và đang mở đường xuống vùng duyên hải bao gồm bốn tỉnh còn sót lại của quân khu 5 là Bình Định, Quảng Ngải, Quảng Nam và Thừa Thiên trong đó có các thành phố quan trọng Quy Nhơn, Huế và Đà Nẳng, thành phố lớn và quan trọng nhất của miền Trung. So về mặt chiến thuật và chiến lược, nhất là trong chiến lược Biển Đông thời Đà Nẳng còn quan trọng hơn Hà Nội và Sài Gòn. Làm chủ được Đà Nẳng, hải quân của nước Việt Nam ở Sài Gòn có thể gây áp lực nặng nề lên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam nhưng đã bị Trung Cộng chiếm đóng vào năm 1974.

o O o

Quảng Ngải. 01-12-2042.

Tay cầm tách cà phê nóng, tay cầm điếu thuốc lá, vị tư lệnh chiến dịch nhìn vào phóng đồ hành quân của bốn tỉnh miền trung hiện ra trên màn hình rộng lớn. Hai mũi tên màu xanh có ghi số 1 và 2 ở xa nhất. Số 1 là sư đoàn 1. Sau nhiều lần đụng độ với các đơn vị của sư đoàn 315 thuộc quân khu 5, sư đoàn 1 đã chiếm đóng Đại Lộc, địa điểm nằm trên quốc lộ 14B đồng thời cũng là giao điểm của ba con đường 14B, 605 và 609 rồi sau đó di chuyển lên mặt bắc để đánh chiếm quận Nam Đông và Phú Lộc. Số 2 là sư đoàn 2 với bộ tư lệnh đang ở Hiệp Đức nằm trên quốc lộ 14E có trung đoàn 1 đóng ở Hiên, trung đoàn 2 đóng ở Đại Lộc và trung đoàn 3 đóng ở Quế Sơn.

Tướng Khải mỉm cười gật gù tỏ vẻ thích thú khi chăm chú vào số 11. Ông ta quả không nhìn lầm người. Nắm chức tư lệnh sư đoàn 11, đại tá Thạnh đúng là sĩ quan tham mưu lỗi lạc biết người biết ta, đồng thời cũng biết khai thác và lợi dụng triệt để ưu, khuyết điểm của mình cũng như của địch. Nội chuyện dụng ba tấc lưỡi để chiếm Ban Mê Thuột của ông ta đã là một đề tài bàn tán của tất cả người thuộc bộ tư lệnh của tướng Khải. Sư đoàn 11 với hai lữ đoàn tăng phái chia ra hai cánh quân được đánh số 11A và 11B. Số 11A gồm có trung đoàn 1 và lữ đoàn 172 biệt động đội sau nhiều cuộc chạm trán nẩy lửa với các đơn vị thuộc sư đoàn 307 đã chiếm đóng Ba Tơ nằm trên quốc lộ 24. Cánh quân 11B gồm hai trung đoàn 2, 3 với bộ tư lệnh sư đoàn và lữ đoàn 304 nhảy dù đã càn quét khu vực nằm giữa ba con sông Trà Bồng, Trà Khúc và sông Vệ với các thị trấn như Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long để chuẩn bị tiến chiếm Nghĩa Hành và thị xã Quảng Ngải rồi sau đó chuyển lên Tam Kỳ, Thăng Bình và sẽ tiến chiếm Hội An. Hai mũi tên khác có ghi số 5 và 6 đang từ hướng Nam tiến ra cho ông ta biết hai sư đoàn 5 và 6 đã làm chủ Quy Nhơn, Phù Cát, Tam Quan và đang tiến dần ra Đức Phổ để hổ trợ cho sư đoàn 11 bình định tỉnh Quảng Ngải. Với áp lực của sư đoàn 5, 6 từ nam tiến ra bắc, sư đoàn 11 từ tây nam tiến ra đông bắc và hai sư đoàn 1 với 2 từ tây tiến ra đông; bốn sư đoàn 302, 305, 307 và 315 của quân khu 5 phải lui về thế thủ và sẽ lùi dần về Đà Nẳng. Mặt trận này sẽ gay go và ác liệt vì một bên cố thủ và một bên cố chiếm.

– Trung tá Phùng vẫn còn ở Cam Ranh?

Tướng Khải hỏi trung tá Dũng, sĩ quan tham mưu của mình. Đang ngồi ở bàn riêng Dũng lên tiếng liền.

– Dạ… Ông ta vẫn còn ở Cam Ranh…

– Cho tôi nói chuyện với ông ta…

Phút sau trung úy Tiến, sĩ quan tùy viên và trung tá Dũng đều nghe rõ cuộc điện đàm của vị tư lệnh với trung tá Phùng, lữ đoàn trưởng lữ đoàn đặc nhiệm đang tạm đồn trú ở căn cứ Cam Ranh.

– Anh Phùng… Anh mạnh không?

Bên kia đầu dây có tiếng cười hà hà của trung tá Phùng kèm theo câu nói đùa.

– Trình tư lệnh… Tôi hổng được mạnh lắm vì mỗi lần được tư lệnh hỏi thăm sức khỏe là tôi bịnh…

Tướng Khải bật cười vì câu trả lời của người sĩ quan thân tín đã gắn bó với ông hơn hai chục năm trong quân ngũ.

– Anh mạnh hay yếu gì thì tôi cũng có việc này giao cho anh vì tôi biết chỉ có anh mới làm được…

Trung tá Phùng cười hà hà khi được tướng Khải cho ăn đường.

– Cám ơn tư lệnh. Việc gì dậy thưa tư lệnh?

– Tôi cần anh dẫn lính trèo lên đèo Hải Vân ngồi ngắm cảnh và lai rai vài ly Remi Martell chơi…

Trung tá Phùng chắt lưỡi cười hà hà.

– Chà… Tôi nghe Hải Vân là đệ nhất đèo của nước ta mà chưa có dịp đi cho biết. Tư lệnh muốn tôi đi bằng gì?

– Tôi thấy trực thăng tiện nhất…

– Tư lệnh cho tôi nửa giờ để nghiên cứu xong sẽ gọi lại sau…

– Được… Anh liên lạc trực tiếp với trung tá Dũng. Tôi cho anh được ưu tiên 1 trong chuyến công tác khóa cứng đường số 1 để cô lập Đà Nẳng…

– Tuân lệnh thiếu tướng…

Cúp máy, uống cạn tách cà phê, rít vài hơi thuốc lá, tướng Khải chúi đầu vào phòng đồ hành quân chằng chịt đường xá, sông núi của vùng duyên hải trung phần. Ông ta đang đánh nhau với địch quân bằng chính cái não có hơn hai mươi lăm tuổi lính của mình.

67.

31-12-2042.

Tháp tùng bởi hai sĩ quan tham mưu cao cấp của mình là đại tá Hào, tư lịnh phó và đại tá Tân, tham mưu trưởng; đại tá Thạnh, tư lệnh sư đoàn 11 bước nhanh ra bãi đáp trực thăng đón tướng Khải.

– Xin lỗi tư lệnh tôi tới chậm…

Sau khi giơ tay chào kính, đại tá Thạnh nói với thiếu tướng Khải vừa đáp trực thăng xuống bãi đáp để thăm viếng bất ngờ và vội vàng mà chỉ báo trước thời gian rất ngắn. Xiết chặt tay đại tá Thạnh, tướng Khải cười nói.

– Tôi xin lỗi đại tá và anh em về sự thăm viếng đột ngột này. Tôi có chuyện cần bàn gấp với đại tá và các sĩ quan tham mưu của sư đoàn 11 mà không tiện nói trên máy…

– Mời tư lệnh vào bộ chỉ huy…

Không khách sáo tướng Khải theo đại tá Thạnh vào trong ngôi nhà được dùng tạm thành bộ chỉ huy hành quân.

– Tư lệnh dùng cà phê hay trà?

Đại tá Hào, tư lệnh phó sư đoàn 11 hỏi tướng Khải.

– Anh cho tôi xin nước lạnh được rồi…

Vị tư lệnh chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn trả lời gọn trong lúc bước tới đứng trước màn hình vừa hiện lên bản đồ hành quân của thành phố Đà Nẳng và vùng phụ cận vẫn còn nằm trong sự kiểm soát của các đơn vị trực thuộc quân khu 5 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hướng về chỗ ngồi đứng của đại tá Thạnh và sĩ quan các cấp dưới quyền chỉ huy của ông ta, vị tư lệnh chiến dịch hắng giọng.

– Như quý vị đã biết giai đoạn 3 của chiến dịch sẽ hoàn thành nếu như cái gai trong mắt của chúng ta được nhổ đi. Đó là thành phố Đà Nẳng, nơi đặt bộ tư lệnh quân khu 5 với các đơn vị trực thuộc. Mặc dù bị tổn thất khá nhiều sau các cuộc đụng độ ở cao nguyên và duyên hải miền trung, các sư đoàn 2, 305, 307, 315 cũng được bổ xung quân số và tiếp liệu để tái phối trí trong việc ngăn chận quân ta tiến chiếm Đà Nẳng. Với quân số hơn 30,000, được chỉ huy bởi các sĩ quan tài giỏi và binh sĩ can đảm, thiện chiến; lực lượng phòng thủ của địch sẽ gây khó khăn cho ta rất nhiều. Ta quyết chiếm, địch quyết giữ; dĩ nhiên chiến trường sẽ phải đẫm máu mà thương vong phải lên tới hàng ngàn binh lính chưa kể thường dân vô tội…

Mọi người im lặng nghe vị tư lệnh của họ nói. Ai ai cũng tưởng tượng ra cảnh đạn bay, đại pháo nổ, bom rơi trong thành phố có hơn triệu dân. Thành phố đẹp và quan trọng đứng hàng thứ ba của nước Việt sẽ tan hoang vì bom đạn.

Giọng nói trầm và nghiêm của tướng Khải vang lên trong căn phòng im lặng.

– Tôi vừa nói chuyện với thủ tướng Việt. Ông ta cho tôi 1 tháng để hoàn tất việc tiến chiếm Đà Nẳng. Phân nửa lực lượng hải quân được điều động tới ngoài khơi và nếu có lịnh sẽ hải pháo vào thành phố. Để dứt điểm căn cứ quan trọng này, hai phi đoàn oanh tạc và 4 phi đoàn phản lực ở các phi trường Biên Hòa, Phan Rang, Pleiku sẵn sàng dội bom. 6 trung đoàn pháo với các khẩu 155, 130 và hỏa tiễn đặt nơi các vị trí trong tỉnh Quảng Nam sẽ bắn hủy diệt mục tiêu. Tôi cũng đã ra lệnh cho lữ đoàn đặc nhiệm của trung tá Phùng nhảy dù xuống vùng Phú Lộc đánh chiếm đèo Hải Vân, khóa cứng quốc lộ 1. Cách đây ba ngày tôi đã ra lệnh cho tàu hải quân bốc sư đoàn 5 và 6 xong đổ lên Quảng Trị và Thừa Thiên làm nút chận không cho các đơn vị của cộng sản ngoài bắc vào giải vây cho Đà Nẳng. Phần bốn sư đoàn 1, 2 và 11 lãnh nhiệm vụ công kích vào các vị trí của địch. Với bao nhiêu đơn vị đó đồng loạt khai hỏa, chúng ta có thể hình dung ra cảnh tan hoang của Đà Nẳng. Cá nhân tôi, không muốn nhìn thấy sự chết chóc của chiến hữu, người thân, bạn bè và thường dân vô tội vạ. Tuy nhiên dường như tôi không có chọn lựa nào khác để buộc phe bên kia phải buông súng…

Ngừng lại, nhìn xuống chỗ đại tá Thạnh đang ngồi, tướng Khải cười tiếp.

– Sau nhiều ngày suy nghĩ và thảo luận với các sĩ quan tham mưu, tôi đề ra một giải pháp mà nếu thi hành được sẽ hoàn thành lệnh của thượng cấp đồng thời ít tốn hao xương máu của mọi người…

Vừa nói tướng Khải vừa đi xuống chỗ đại tá Thạnh. Thấy vị tư lệnh nhìn mình rồi vừa nói vừa đi xuống chỗ mình đang ngồi, đại tá Thạnh chợt liên tưởng tới một chuyện khiến cho ông ta mỉm cười. Đợi cho tướng Khải tới đứng ngay trước mặt mình, vị tư lệnh sư đoàn 11 hắng giọng.

– Chắc tư lệnh muốn tôi làm giống như ở mặt trận Ban Mê Thuột?

Không ngạc nhiên vì câu hỏi của đại tá Thạnh, tướng Khải bật lên tiếng cười thích thú.

– Tôi muốn đại tá làm giống chút chút thôi. Thay vì đọc trên máy liên lạc, lần này tôi sẽ gởi đại tá vào trong Đà Nẳng gặp trung tướng Nguyễn Long…

Đại tá Thạnh cười.

– Chỉ ngại ông ta không muốn tiếp tôi…

– Tôi biết điều đó…

Tướng Khải buông gọn.

– Trước khi gởi đại tá vào Đà Nẳng, tôi sẽ ban lệnh tổng tấn công trước để phô trương sức mạnh của ta. Phải dập cho các đơn vị tử thủ của địch tan nát, phải nhồi cho các đơn vị cơ hữu của các sư đoàn thuộc quân khu 5 mệt nhoài, phải gây cho họ thiệt hại từ nhẹ dần tới nặng để cho họ biết họ chỉ còn có một chọn lựa: hòa bình hay súng đạn. Muốn hòa bình, họ phải tiếp đại tá để từ đó ta mở cho họ một sinh lộ. Họ có thể kéo tàn quân về bắc hoặc muốn theo về với ta cũng được. Tôi nghĩ trung tướng Long và các sĩ quan tham mưu cao cấp của ông ta là những kẻ thức thời, biết đặt quyền lợi của dân tộc và tổ quốc lên trên quyền lợi của cá nhân, đảng phái. Ta với họ không phải là kẻ đối địch. Kẻ đối địch với chúng ta chính là Trung Cộng. Đó là kẻ tử đối đầu muôn đời của dân tộc Việt…

Tướng Khải ngừng nói cầm chai nước lên uống ngụm nhỏ. Đợi cho cấp chỉ huy uống xong, đại tá Thạnh mới cười mở lời.

– Tại sao tư lệnh chọn tôi mà không chọn ai đó. Tôi biết bộ tham mưu của tư lệnh có nhiều người lắm…

Tướng Khải bật lên tiếng cười ngắn khi nghe đại tá Thạnh nói. Hớp thêm ngụm nước, ông ta hắng giọng.

– Tôi chọn đại tá vì đại tá có điều kiện tất yếu để vào ăn nhậu với tướng Long và các sĩ quan tham mưu của ông ta. Thứ nhất, không ít thời nhiều đại tá vẫn còn có mối liên hệ mật thiết với bên kia. Đúng không?

Đại tá Thạnh gật đầu thay cho câu trả lời.

– Phòng nghiên cứu chính trị kiêm chiến thuật và chiến lược thuộc bộ quốc phòng cho tôi biết người đang giữ chức vụ chính ủy quân khu 5, trung tướng Trần Phương có bà con xa gần với đại tá. Ngoài ra vị phó tư lệnh, thiếu tướng Nguyễn Trọng là bạn đồng khóa với đại tá. Hai người đó sẽ bảo đảm sinh mạng cho đại tá đồng thời sẽ ảnh hưởng tới quyết định của tướng Long. Lý do thứ nhì mà tôi chọn đại tá là vì tôi biết đại tá có tài thuyết phục người khác…

Đại tá Thạnh bật cười lớn khi được tướng Khải tán tụng.

– Dụng cái tài thuyết phục để ngưng cuộc đánh nhau là đại tá đã cứu hàng ngàn sinh mạng của các chiến hữu dưới quyền và vô số đồng bào vô tội…

– Được… Tôi nhận lời ủy thác của tư lệnh…

Miệng nở nụ cười, tướng Khải đưa tay ra bắt tay đại tá Thạnh. Nhìn vòng quanh lính với quan thuộc bộ tham mưu của sư đoàn 11, ông ta rắn giọng.

– Đúng 00:00 ngày 02-01-2043, lệnh tổng tấn công sẽ bắt đầu. Lực lượng của ta sẽ đồng loạt nhồi cho địch ngất ngư chừng tuần lễ rồi sau đó tôi sẽ gởi đại tá vào Đà Nẳng… Nếu đại tá thuyết phục được tướng Nguyễn Long buông súng thì binh lính hai bên và dân chúng sẽ được ăn Tết Nguyên Đán trong thanh bình. Tôi đã xin với thủ tướng Việt và đã được ông ta chấp thuận là tất cả quân nhân các cấp tham gia vào chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn sẽ được thăng một cấp sau khi chiến dịch hoàn thành…

Nhìn mọi người trong bộ chỉ huy của sư đoàn 11, ông ta cười nói với ba đại tá Thạnh, Hào và Tân.

– Tôi đã xắm sao sẵn cho ba anh rồi…

Dứt lời, tướng Khải lần lượt bắt tay chào từ giã đại tá Thạnh và các sĩ quan cao cấp của sư đoàn 11. Ngồi trong lòng chiếc trực thăng đang từ từ bốc lên cao, trung tá Dũng hỏi tướng Khải.

– Tư lệnh nghĩ ông ta làm được không?

Trầm ngâm giây lát tướng Khải mới trả lời điều mà Dũng hỏi nhưng lại tỏ cái ý của mình hơn là hồi đáp câu hỏi.

– Tôi hi vọng bên kia họ chịu nghe… bằng không thì tôi với anh phải lội sau xe tăng vào Đà Nẳng…

o O o

00:00 giờ ngày 02-01-2043.

Đã đi ngủ, bắt đầu đi ngủ và chưa đi ngủ; binh lính và dân chúng Đà Nẳng đều nghe rõ tiếng hú lồng lộng không gian rồi hàng chục, trăm, ngàn trái đại bác cùng hỏa tiễn từ bốn phương tám hướng trút xuống thành phố và các vùng lận cận. Pháo từ ngoài khơi do các chiến hạm bắn vào. Pháo trên xe thiết giáp trấn ở Hòa Vang, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn xé màn trời đêm trút xuống như mưa. Tuy nhiên bắn nhiều nhất từ các khẩu đại pháo ” M198 và M777 howitzer ” của bốn trung đoàn pháo binh đóng rải rác quanh thành phố. Với tầm bắn xa hơn 20 cây số, nhịp tác xạ tối đa bốn viên trong vòng một phút đồng hồ, hơn trăm khẩu pháo 155 ly liên tục bắn hủy diệt mục tiêu hoặc biến thành phố hơn triệu dân thành nằm trong biển lửa. Pháo dập xuống bộ tư lệnh quân đoàn 5 và bộ chỉ huy căn cứ quân sự thành phố Đà Nẳng. Pháo rớt vào bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn 2, 305, 307 và 315. Pháo dập nát phi trường quân sự Đà Nẳng và bộ tư lệnh không quân. Pháo trút xuống căn cứ hải quân ở Sơn Trà. Mảnh đất có hơn 1200 cây số vuông bị xóc lô tô bởi trăm ngàn loại đạn đại bác cũ mới của các đơn vị tham chiến thuộc quân lực nước Việt Nam ở Sài Gòn. Hai tiếng đồng hồ sau pháo mới thưa dần dần rồi chấm dứt. Lệnh tổng tấn công của tướng Khải cho các vị tư lệnh sư đoàn được nghe qua máy truyền tin. Các cánh quân của sư đoàn 1 dưới quyền chỉ huy của đại tá Thành từ bắc sấn vào. Sư đoàn 2 của đại tá Đăng với các đơn vị chủ lực đóng ở hướng tây ào ạt tiến vào Hòa Vang. Sư đoàn 11 có ba trung đoàn và hai lữ đoàn tăng phái đang trấn giữ các vị trí như Hội An, Vĩnh Điện, Điện Bàn, Ái Nghĩa tấn kích thẳng vào tuyến phòng thủ thuộc mặt trận phía nam thành phố. Súng nổ rền khắp nơi. Dân chúng kêu khóc, la hét, bồng bế, dắt díu nhau chạy xa khỏi vùng lửa đạn.

Đội nón sắt, mặc áo giáp, mang kèm bên hông khẩu Colt45, đại tá Thạnh trực tiếp tham dự cuộc tiến công vào thành phố Đà Nẳng bằng cách lội theo bộ chỉ huy của lữ đoàn 172 Biệt Động Đội dưới quyền điều động của trung tá Cảnh, lữ đoàn trưởng. Quân số của lữ đoàn có ba tiểu đoàn mà tiểu đoàn 3 gồm toàn các tình nguyện quân thuộc các đơn vị của hai trung đoàn 1 và trung đoàn 95 bị tan rã sau trận Ban Mê Thuột. Tin vị tư lệnh sư đoàn đang ở tuyến đầu lửa đạn được truyền miệng tới tận các người lính của lữ đoàn 172 khiến cho ai ai cũng phấn khởi. Phía bên trái, lữ đoàn 304 Dù theo đường 603 xấn vào với ý định tiến chiếm các vị trí quan trọng thuộc vùng Ngũ Hành Sơn. Lữ đoàn 172 Biệt Động Đội noi theo quốc lộ 1 tiến chiếm Cầu Đỏ. Sau nhiều giờ kịch chiến, đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 2 của lữ đoàn 172 mới làm chủ cây cầu chiến lược bắt qua sông Cẩm Lệ. Từ đó toàn bộ binh lính của ba tiểu đoàn và các đơn vị cơ hữu ồ ạt tiến chiếm các vị trí phòng thủ của địch ở các vùng như Hòa Thọ, Hòa Phát, Khuê Trung. Từ đây ba tiểu đoàn của lữ đoàn 172 Biệt Động Đội sẽ đánh thẳng vào quận Hải Châu là khu trung tâm của thành phố Đà Nẳng, nơi đóng quân của bộ tư lệnh quân khu 5.

o O o

07-01-2043.

Ba người đứng trên cầu Cẩm Lệ. Quân phục của họ xốc xếch và dơ dáy. Họ đội nón sắt, mặc áo giáp và mang Colt45. Người mang hai mai bạc chính là trung tá Cảnh, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 172 Biệt Động Đội. Người thứ nhì trên cầu vai cũng có hai mai bạc. Đó là trung tá Nhiên, lữ đoàn phó. Người thứ ba chính là thiếu tá Điện, sĩ quan hành quân của lữ đoàn.

– Nhiên nghĩ sao?

Đưa chai nước lạnh đang cầm trong tay lên ực ngụm nhỏ, Nhiên nói trong lúc nhìn chiếc xe jeep kéo đàng sau khẩu pháo.

– Tôi nghĩ đã tới lúc tướng Khải gởi tư lệnh của mình vào Đà Nẳng rồi đó. Tất cả các đơn vị của quân ta đều nằm vào các vị trí sẵn sàng tiến vào nội thành Đà Nẳng…

– Mình tiến hơi nhanh…

Miên lên tiếng. Cảnh gật đầu.

– Sở dĩ mình tiến nhanh vì phe bên kia không chịu đánh. Nếu họ đánh thực tình thì chưa chắc mình thắng dễ và thắng nhanh như vậy. Tinh thần binh sĩ của họ sa sút nhiều nên chỉ đánh cầm chừng. Phòng an ninh và tình báo của sư đoàn cho tôi biết các đơn vị nhỏ từ cấp tiểu đội lên tới đại đội và có khi tiểu đoàn nữa đã bỏ hàng ngũ rất đông. Có một vị thiếu tá, chỉ huy tiểu đoàn của sư đoàn 315 đã kéo hết tiểu đoàn xin gia nhập vào sư đoàn 11. Dù có quân số đông, súng ống đầy đủ mà thiếu tinh thần chiến đấu thì sự tan rã sẽ không tránh được…

Miên với Điện cũng cùng ý nghĩ đó.

– Vậy thì mình cần gì phải nói chuyện với phe bên kia. Cứ xấn vào là xong…

Rút trong người ra gói thuốc Lucky, Cảnh đưa mời Miên và Điện. Miên lấy còn Điện cười lắc đầu.

– Cám ơn anh. Tôi hút muốn phỏng miệng tối hôm qua rồi…

Bật lửa đốt cho Miên rồi mới đốt cho mình, hít liên tiếp hai hơi, nhả khói ra xong xuôi Cảnh mới cười.

– Tôi có hỏi ông Tân thì ổng nói tướng Khải không có ý đánh vào Đà Nẳng vì hai lý do quan trọng. Thứ nhất ổng muốn tiết kiệm sinh mạng và đạn dược của mình. Thứ nhì ổng muốn chiêu hồi toàn thể quân nhân các cấp của quân khu 5 về với phe mình để làm một chuyện lớn…

– Chuyện lớn là chuyện gì hả anh Năm?

Điện hỏi. Hít hơi thuốc dài, nhả khói ra Cảnh hắng giọng.

– Đánh Tàu… Ông Tân nói là chính phủ Việt Nam ở Sài Gòn lúc nào cũng đề phòng chuyện Tàu đánh chiếm lấy miền bắc. Quân Tàu dàn mấy chục sư đoàn bộ chiến với đầy đủ tăng pháo sát với biên giới nước ta ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông. Nếu có chiến tranh nổ ra là 1 sư đoàn thuỷ quân lục chiến của chúng sẽ đỗ bộ lên Thanh Hoá, chặn cứng không cho quân đội miền trung và nam ra tiếp viện Hà Nội. Mấy chục sư đoàn khác chia làm hai ba cánh vượt biên giới đánh vào Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Móng Cái rồi sau đó tấn kích Hà Nội. Ông Tân còn nói với lực lượng đó cộng thêm tinh thần sa sút, quân lực miền bắc sẽ tan rã trong vòng 30 ngày…

– Nhanh vậy à?

Miên hỏi trong lúc nhìn Cảnh. Vị lữ đoàn trưởng lữ đoàn 172 Biệt Động Đội rít tiếp hơi thuốc rồi nhả khói ra. Khói thuốc tan nhanh theo gió từ dưới sông bốc lên.

– Vũ khí kém hơn địch, quân số ít hơn, tinh thần chiến đấu sa sút, mất sự ủng hộ của dân thì làm sao không thua nhanh…

– Còn mấy ông tướng đâu?

Miên hỏi. Cảnh cười nhạt.

– Mấy ông tướng bị tụi Tàu nó mua hết rồi… Còn không thì dọt cho lẹ chứ ở lại chịu chết à…

Ngừng lại giây lát Cảnh mới tiếp với giọng buồn bực.

– Đại tá Thạnh có tâm sự với tôi, sở dĩ ổng chịu nhận chức tư lệnh sư đoàn 11 để đánh ra trung là vì ổng biết tướng Khải thực lòng đãi ngộ kẻ thua trận như bọn mình. Ổng nói dù sao thì quân lực Việt Nam còn có lý tưởng giải phóng đất nước khỏi tay cộng sản đem lại tự do dân chủ cho dân chúng cũng như sẵn sàng chống xâm lăng Tàu. Tôi thấy điều đó phù hợp với nguyện vọng của tôi…

Miên thong thả góp lời.

– Tôi cũng thấy điều đó… Nghe lời của ông Thạnh đọc trên đài phát thanh, tôi tuy tình nguyện gia nhập song trong lòng vẫn không yên. Tới chừng được ông Thạnh nói chuyện rồi cho làm phó của anh, tôi mới tin chính phủ mới thực tâm muốn dùng người cũ. Tôi sợ ra trình diện họ nhốt mình vào trại cải tạo là tiêu đời…

Điện cười bàn thêm vào.

– Đang đói, đang khổ mà được cho mang cấp bậc cũ, lương bỗng như xưa thì ai cũng ham. Vợ tôi mừng rơi nước mắt vì được cấp cho nhà ở và ba đứa con được đi học trường công miễn phí. Bả khen chánh phủ mới hết biết luôn…

Cười ha hả, Cảnh nói lớn.

– Bà xã tôi cũng vậy… Bả còn xúi thằng lớn của tôi sau khi đậu tú tài thì tình nguyện đi lính…

Chiếc xe jeep gắn năm bảy cái ăng ten chạy ào tới, Cảnh nói với hai sĩ quan phụ tá của mình.

– Tôi đi coi mấy thằng em đóng quân xong mới trở về. Hai anh cũng bảo anh em chuẩn bị đi nghen. Có gì là mình đi liền…

o O o

10-01-2043.

Chiếc xe jeep giương cờ trắng chạy chầm chậm trên quốc lộ 14B. Trung sĩ nhất Thìn cầm tay lái. Đại tá Thạnh ngồi bên cạnh. Ở băng sau có thiếu tá Chánh, sĩ quan tham mưu và thiếu uý Biết, sĩ quan tuỳ viên. Không có lính tháp tùng, không có xe hộ tống gì hết; vị tư lệnh sư đoàn 11 cùng với bốn người lính thân tín ngồi xe jeep đi vào Đà Nẳng để gặp trung tướng Nguyễn Long, tư lệnh quân khu 5 với mục đích chiêu hồi ông ta về với quân lực Việt Nam tự do dân chủ ở Sài Gòn.

– Mình làm được không thưa tư lệnh?

Biết rụt rè lên tiếng hỏi. Đó cũng là câu hỏi của đại tá Thạnh từ lúc ông ta leo lên xe jeep. Ông ta biết phe bên kia chưa chắc đã chịu nghe mình phân trần. Dù bị bao vây bốn mặt, tướng Long vẫn còn có trong tay ba sư đoàn tinh nhuệ cộng thêm lực lượng của bộ chỉ huy quân sự thành phố mà con số ước lượng hơn 30 ngàn quân chính quy có đầy đủ tăng pháo, chỉ thiếu sự yểm trợ của không quân thôi. Các máy bay phản lực từ nam rút chạy ra vì lý do nào đó, có thể là bảo toàn lực lượng nên đã bỏ phi trường Đà Nẳng bay về Vinh, Thanh Hoá hoặc Hà Nội rồi. Đại tá Thạnh hi vọng với vòng vây càng ngày càng xiết chặt, tạo một áp lực nặng đủ cho tướng Long phải suy tính cẩn thận khi chịu chết trong thành phố thu nhỏ chỉ còn phân nửa. Các chiến hạm của hải quân Sài Gòn đã có mặt ở cửa sông Hàn cũng như ở Vịnh Kim Liên. Một đơn vị của sư đoàn 1 đã đóng tại Khu Công Nghiệp Thuỷ Tú. Tiểu đoàn 1, trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 2, sau nhiều cuộc đụng độ đẫm máu đã kiểm soát Khu Công Nghiệp Hoà Khánh, nghĩa là chỉ cách trung tâm thành phố mươi cây số. Ở mặt trận nam thì hai lữ đoàn 304 Dù và 172 Biệt Động Đội đã áp sát vào quận Hải Châu mà đơn vị tiến xa nhất đã có mặt vòng đai quanh phi trường quân sự Đà Nẳng. Ở phía bắc thì lữ đoàn đặc nhiệm của trung tá Phùng đã đóng chốt ở đèo Hải Vân, còn hai sư đoàn bộ chiến 5 và 6 đã kiểm soát hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị. Như vậy tướng Long chỉ còn một chọn lựa. Điều đình để được thua trong danh dự bằng cách theo về với quân lực Sài Gòn. Tử thủ là chọn một cái chết hoặc bị bắt làm tù binh.

o O o

00:00 giờ. 13-01-2043.

Đang đứng trước phóng đồ hành quân, tướng Khải nghe đại tá Tân lên tiếng.

– Chuẩn tướng Tân, tôi nghe…

Ai cũng nghe vang lên giọng nói trầm và chững chạc của đại tá Thạnh.

– Thưa chuẩn tướng… Nhờ chuẩn tướng trình lại với tư lệnh Khải là tôi sẽ đem trung tướng Long tới bộ tư lệnh hành quân để ông ta nói chuyện với tư lệnh Khải…

Nghe tới đó tướng Khải bước nhanh tới chỗ chuẩn tướng Tân đang đứng.

– Hello… Anh Thạnh hả… Khải đây…

– Thưa tư lệnh… Tôi đã nói chuyện với trung tướng Long. Ông ta chấp nhận những yêu cầu của ta. Tuy nhiên ông ta muốn gặp tư lệnh để được nghe chính miệng tư lệnh bảo đảm những lời hứa hẹn đó…

Tướng Khải nói liền không do dự.

– Tôi thấy không có gì trở ngại. Địa điểm và giờ giấc tuỳ ông ta chọn…

– Thưa tư lệnh… Ông ta nói sẽ gặp tư lệnh trong vòng nửa giờ nữa. Tôi sẽ tháp tùng với ông ta. Chúng tôi sẽ dùng trực thăng… Xin tư lệnh thông báo cho các đơn vị…

Hiểu ý của đại tá Thạnh, tướng Khải vui vẻ thốt.

– Tôi hiểu ý của anh. Tôi sẽ ra lệnh cho binh lính không được nổ súng…

– Cám ơn tư lệnh…

Đại tá Thạnh dứt lời. Quay qua chuẩn tướng Tân, tư lệnh Khải nói gọn.

– Anh truyền lệnh tôi xuống tất cả các đơn vị lớn nhỏ, tuyệt đối không được nổ súng… Mình sửa soạn chút chút để đón tướng Nguyễn Long…

Tiếng reo hò vỗ tay vang lên trong bộ tư lệnh của chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn. Ai cũng biết, sự buông súng của toàn thể quân nhân thuộc quân khu 5 đồng nghĩa với chuyện anh em một nhà đánh giết nhau được chấm dứt. Mấy triệu dân miền Trung và hơn trăm ngàn người lính sẽ được nghỉ ngơi để ăn Tết rồi cùng nhau xây dựng lại đất nước và hướng tới tương lai. Khi quân lực đủ mạnh, chính phủ tự do dân chủ ở Sài Gòn sẽ làm cuộc bắc tiến, giải phóng đồng bào miền bắc ra khỏi chế độ cộng sản độc tài hại dân hại nước.

15-01-2043.

Binh sĩ với dân chúng của các tỉnh thuộc quân khu 5 lắng nghe lời hiệu triệu ngắn gọn của trung tướng Nguyễn Long đọc trên đài phát thanh tại Đà Nẳng.

– Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan và tướng lãnh các cấp trực thuộc quân khu 5…

Hai ngày trước, tôi, trung tướng Nguyễn Long, tư lệnh quân khu 5 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã gặp và trực tiếp nói chuyện với thiếu tướng Nguyễn Khải, tư lệnh chiến dịch Hẹn Nhau Ở Sài Gòn, đại diện cho chính phủ của nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ ở Sài Gòn. Xuyên qua cuộc tiếp xúc này, tôi và tướng Khải đã đi tới một thỏa thuận gồm các điểm chính như sau:

1- Giải giới các lực lượng cơ hữu trực thuộc quân khu 5 trong đó có bốn sư đoàn 2, 305, 307 và 315 cùng bộ chỉ huy quân sự của 10 tỉnh và thành phố Đà Nẳng.

2- Đổi lại với sự giải giới này, tất cả các quân nhân thuộc quân khu 5 sẽ đương nhiên được gia nhập vào quân lực của nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ. Sau khi gia nhập họ sẽ được giữ nguyên chức vụ, đơn vị, cấp bậc và lương bỗng.

3- Kể từ ngày hôm nay, 15-01-2043, quân khu 5 dưới quyền chỉ huy của tôi sẽ được đổi thành quân đoàn 1 trực thuộc quân lực nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ ở Sài Gòn.

4- Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan và tướng lãnh các cấp hãy tuân thủ và thi hành nghiêm chỉnh lệnh giải giới do tôi ban hành để tránh những cuộc đụng độ vô ích và đẫm máu giữa anh em một nhà với nhau…

Lời hiệu triệu của tướng Nguyễn Long được đọc và lập đi lập lại nhiều lần trên đài phát thanh Đà Nẳng, truyền tải đi xa vào tận Sài Gòn cũng như khắp các tỉnh của miền cao nguyên và duyên hải trung phần. Nó đủ sức tạo ra hiệu ứng dây chuyền dẫn tới sự tan rã hoàn toàn của các đơn vị lớn nhỏ thuộc quân khu 5. Binh sĩ và dân chúng hân hoan chào mừng chính phủ mới. Từ giờ phút lịch sử này, biên giới của nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ được trãi rộng ra tới vỉ tuyến 17. Lần nữa hai phe nam bắc lại lấy sông Bến Hải và cầu Hiền Lương làm ranh giới tạm thời. Dân chúng miền nam được sống trong một nước tự do và dân chủ; bắt đầu kiến tạo vùng đất giàu mạnh để thực hiện giấc mơ bắc tiến, thống nhất đất nước hầu kình chống lại kẻ xâm lăng ở phương bắc và đòi lại quần đảo Hoàng Sa đã mất vào tay Trung Cộng năm 1974.

—>
Tập 11

This entry was posted in Chu Sa Lan, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.