MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 15 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

Châu Đốc (hình minh hoạ)

Châu Đốc
(hình minh hoạ)

CHƯƠNG MƯỜI LĂM
NHỮNG HIỆN TƯỢNG HUYỀN BÍ
MIỆT VƯỜN

Cảnh chia ly nào cũng buồn cho kẻ ở người đi. Thấy Bền quyến luyến không nở rời xa người tía nuôi Hai Rồng, đã làm mọi đứng trên bờ rạch Long Khốt rất cảm động. Cậu Hai Bảnh hối hận, nói:

-“Nếu biết trước tình cảm tía con họ sâu đậm như vầy, chắc tôi không giữ cháu Bền lại làm gì; vả lại, chú Hai cũng cần có cháu Bền bên cạnh giúp đở lúc gặp hiểm nguy!”

-“Tôi thấy cháu Bền là một thanh niên rất trọng tình nghĩa hiếm có trên đời,” Tư Long nói. “Trong trận long tranh hổ đấu với Thạch Sum hồi đêm hôm, cháu Bền lầm tưởng chú Hai Rồng bị Thạch Sum đánh bại, nên cháu bảo tôi cùng với mọi người tìm cách chạy về làng trước, còn cháu Bền quyết ở lại chiến đấu với Thạch Sum cùng sống chết với tía!”

Thằng Tư Kê vọt miệng, nói:

-“Nếu anh Bền không xông vào trong biển lửa cứu con, chắc con cũng chết thiêu rồi. Anh Bền gan cùng mình, phải không tía?”

Chín Dậu nhìn con, nói:

-“Trên bước đường đời sau nầy, tía cũng mong mầy có một người bạn tốt như cháu Bền, tía cũng an tâm.”

-“Một chút nữa, tía và gia đình bác Năm chèo ghe về nhà trước đi nghen,” Tư Kê nói. “Con muốn ở lại đây chơi với anh Bền vài ngày, khi nào ảnh đi với ông Hai lên Châu Đốc săn cọp dữ, con mới trở về nhà, được không tía?”

-“Tao thì sao cũng được, mầy hỏi con Ngọ, coi nó chịu không? Chớ đừng hỏi tao làm gì!”

-“Con sao cũng được mà, tía!” Ngọ nhìn Tư Kê, nói. “Vài ngày nữa, Ngọ bơi xuồng ra đây đón anh Tư về, chịu không?”

-“Tính như vậy, mắc công Ngọ lắm,” Tư Kê quay sang tía, nói. “Thôi, tía để chiếc xuồng ba lá lại đây cho con, bao giờ con muốn về sẽ bơi xuồng về. Chút nữa, tía chịu khó quá giang bác Mười về nhà trước, nghe tía.”

-“Ừa, mầy tính như vậy cũng gọn. Ở nhà còn chiếc ghe tam bản, tao muốn đi đâu, chèo ghe đi một mình cũng đặng,” Chín Dậu nói. “Mầy chạy ù đến gốc cây dừa, gọi cháu Bền xuống đi. Tội nghiệp! Cháu Bền nặng tình, nặng nghĩa với chú Hai Rồng quá! Mầy ở lại đây chới nó vài ngày cho có bạn cũng tốt!”

Tư Kê nghe tía nói, bèn chạy bay đến gốc cây dừa, gọi vói lên:

-“Anh Bền ơi! Tuột xuống đi! Chú Hai đi rồi, bộ tính ôm cây dừa ở miết trên đó sao, bạn hiền?”

Bền nghe Tư Kê gọi, liền tuột từ từ xuống đất, nói:

-“Tía tao bôn ba việc nước, cần có tao bên cạnh giúp đở. Có thằng tướng dở như tao, cũng đở cho ông tướng hay, đúng không?”

-“Thôi mà, sớm muộn gì chú Hai cũng về đây đón anh, lo gì chớ!” Tư Kê an ủi, nói. “Tui ở đây, chơi với anh vài ngày cho có bạn, khi nào anh lên đường đi Thất Sơn với ông Hai Bảnh thì tui trở về nhà, được không?”

Bền choàng vai qua Tư Kê, cảm động, nói:

-“Có mầy bên cạnh trò chuyện cũng đỡ buồn! Tao cũng muốn tìm hiểu thêm về vùng đất Đồng Tháp Mười “địa linh nhân kiệt” nầy. Tía tao có nói rằng, nơi đây mà lập chiến khu chống giặc Pháp xâm lược, sẽ vững như bàn thạch, có thể trường kỳ kháng chiến với giặc Pháp. Hồi đó, ông Võ Duy Dương nguyên là phú hào, bỏ cả sự nghiệp ra tuyển mộ được một ngàn quân nghĩa dõng, tổ chức thành các đơn vị du kích, lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ chống thực dân Pháp. Khi hay tin ông khởi nghĩa, vua Tự Đức phong cho ông chức Lãnh Binh, nên ông còn có tên gọi là Lãnh Binh Dương.”

Tư Kê nói:

-“Thôi, tụi mình trở về nhà ông Hai! Tui chắc ông Hai cũng cần gặp anh để bàn chuyện lên Thất Sơn săn hổ đó!”

-“Ừ, tụi mình trở về là vừa!”

Vừa gặp cậu Hai Bảnh, Bền nôn nóng, hỏi ngay:

-“Bao giờ mình lên đường vậy, thưa ông Hai?”

Cậu Hai Bảnh vỗ vai Bền, thân mật nói:

-“Bây giờ, tôi xem mọi ở đây như anh em một nhà, gia đình thân tộc của tôi. Cháu Bền hãy gọi tôi bằng bác Hai là được rồi.”

Tư Long nhìn Bền, nói:

-“Phải đó đa! Mấy người ở đây, ai cũng lớn tuổi hơn chú Hai Rồng, trừ chú Sáu Trí. Vì vậy, tôi cũng muốn cháu Bền gọi cậu Hai, tôi, anh Chín Dậu, anh Mười Dần bằng bác và gọi Sáu Trí bằng chú Sáu cho có vẻ thân mật nghe! Có lúc, cháu kêu tôi bằng chú, có khi gọi tôi bằng ông Tư, nghe sao chẳng giống ai, phải không?”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Việc lên Thất Sơn, còn phải chờ bác gái cháu, coi ngày nào là “kiết nhật” mới cho bác cháu mình xuất hành. Chớ không phải muốn đi lúc nào là đi được đâu, cháu.”

Bền giọng ngạc nhiên, hỏi đùa:

-“Bộ đi đánh giặc cũng phải coi ngày nữa sao, bác Hai?”

Cậu Hai Bảnh phì cười, nói:

-“Đánh giặc khác với đi săn chớ, cháu!”

Mọi người đang đứng trên sân trò chuyện vui vẻ thì một anh lực điền đại diện anh em tới xin phép cho họ rút lui. Cậu Hai Bảnh nói:

-“Cậu nói với họ, chịu khó chờ tôi một chút xíu nghe!”

Tư Long nói:

-“Cậu Hai giữ họ lại có chuyện gì không? Ai nấy cũng nóng lòng muốn trở về nhà, lo vụ mùa sắp tới cho kịp thời vụ.”

-“Tôi biết!” cậu Hai Bảnh nói, rồi quay sang Sáu Trí, hỏi. “Sổ sách thu lúa ruộng hồi năm ngoái, chú Sáu còn giữ đủ không?”

Sáu Trí nói:

-“Dạ, danh sách thu góp lúa ruộng hồi năm ngoái, tôi còn giữ đầy đủ cả.”

Câu Hai Bảnh quay sang Tư Long, hỏi:

-“Gạo thóc trong mấy cái lẫm lúa còn đầy đủ không, chú Tư?”

Tư Long thưa:

-“Lúa thóc trong kho còn đầy đủ cả, chờ báo cho mấy chành lúa ở Mộc Hóa và Thủ Thừa sẵn sàng đem ghe chài tới chở.”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Chú Tư và chú Sáu nói với những anh em tá điền là bắt đầu từ ngày mai, tới đây để nhận lại số lúa mà đã đóng lúa ruộng cho tôi hồi năm ngoái nghe! Trả hết cho họ, số lúa còn tồn kho, tôi nhờ chú Tư cho chở hết ra mấy chành lúa, xây thành gạo hết để chuẩn bị cứu đói cho đồng bào nghèo quanh vùng trong mùa nước nổi sắp tới! Năm nay là năm Canh Thìn, mùa nước nổi chắc sẽ dữ tợn lắm!”

Quyết định đột ngột của cậu Hai Bảnh làm ai nay đều cảm động đến sững sờ. Bền và Tư Kê vui mừng, nói:

-“Để tụi con chạy ù vô sân phơi lúa, báo tin vui cho mọi người biết!”

Tiếng reo hò, vui mừng vui quá vui của những người tá điền như vỡ chợ, làm cho mợ Hai Bảnh và Thu Hương từ trong nhà chạy ra xem chuyện gì. Cả hai đều tá hỏa trước quyết định nhân đạo quá đột ngột của cậu Hai Bảnh. Thu Hương hớn hở chạy bay ra ngoài bến nước bá cổ cha, nói:

-“Má và con hoan nghinh quyết định của ba!”

Cậu Hai Bảnh vuốt tóc con gái cưng, nói:

-“Mình đã làm ơn cho họ, phải làm ơn cho trót chớ, đúng không con gái?”

Thu Hương nói:

-“Má nhờ ba nói với mấy chú, nán lại đây đêm nay, ở chơi với gia đình mình rồi sáng mai hãy về nhà. Má đã chuẩn bị làm đồ nhậu, đãi mấy chú một chầu rồi.”

Cậu Hai Bảnh nhìn mọi người, nói:

-“Thôi, mấy chú chịu khó chìu bà vợ tôi một phen đi; vả lại, tôi cũng có một vài công việc quan trọng, muốn bàn bạc với mấy anh em, trước khi khi lên đường đi Châu Đốc. Mấy chú tính sao?”

Mười Dần nhìn vợ cười toe toét, nói:

-“Ăn thì được, còn nhậu thì tôi không dám phạm “gia uy” đâu, mấy cha!”

-“Thôi mà, tía con Ngọ! Nhắc chuyện cũ hoài, mắc cỡ thấy mẹ! Từ khi ông trở về nhà, tôi sửa lại gia uy rồi, ông muốn nhậu bao nhiêu thì nhậu, miễn là đừng bỏ mẹ con tui nữa là được rồi!” thím Mười quay sang bảo con gái. “Thôi, má con mình vô nhà, tiếp tay với mợ Hai lo bữa cơm chiều đãi mọi người.”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Trước khi đi, chú Hai Rồng có dặn anh em mình phải đề cao cảnh giác, sợ bọn Thạch Sum có thể trở mặt, đánh úp, mình sẽ trở tay không kịp!”

Tư Long nói:

-“Sau bữa cơm chiều, tôi mời mấy anh xuống căn nhà sàn của tôi, nhậu theo kiểu truyền thống thời khẩn hoang lập điền vùng Đồng Tháp Mười, khô cá mà nhậu với nước trà cũng bắt lắm. Tôi có cả chục con khô cá bông của ông Năm Liễng biếu, ngon hết sẩy, nghe mấy cha!”

Bền nói:

-“Con sống trên ghe quen rồi, để anh em tụi con xuống ghe ngủ nghe, bác Tư.”

Tư Long nói:

-“Tối nay, trời sẽ mưa giông đó! Mưa đầu mùa mà!”

Tư Kê vọt miệng, nói:

-“Trời đang nắng chang chang như vầy, mà mưa thế nào được hả, bác Tư?”

Tư Long chỉ mấy con chuồn chuồn đang bay là là trên mặt nước, dọc theo mấy bụi phi lau, nói:

-“Đây là kinh nghiệm của bác Tư, đoán thời tiết mưa nắng ở miệt vườn rất đơn giãn: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa / Bay cao thì nắng, bay vừa thì hanh”. Tối nay, trời không mưa là bác Tư chịu thua tụi bây!”

-“Con không tin,” Tư Kê nói. “Nếu tối nay trời mưa, con dỡ chà dưới rạch, đãi bác Tư một chầu cá nướng. Còn trời không mưa, bác Tư chịu thua con cái gì đây?”

Tư Long gật đầu, nói:

-“Nếu tối nay, trời không mưa, tao tặng cho con Ngọ một cặp heo quắn, chịu không?”

Tư Kê giọng chắc ăn như bắp, nói:

-“Con chịu liền!”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Thôi mời các anh em trở vô sân phơi lúa, để anh em tá điền chào từ giã!”

***

Sau bữa cơm tối, mọi người ngồi quây quần trên bộ tràng kỷ, bàn về chuyến đi lên núi Thất Sơn của cậu Hai Bảnh. Người lo lắng nhứt vẫn là mợ Hai, bà nói:

-“Tôi thấy chuyến đi nầy “lành ít, dữ nhiều”. Nhưng, tôi tin có số mạng “ở hiền, gặp lành”, ông nhà tôi đã ngộ ra được điều nầy, tôi rất mừng; có thể ông nhà tôi sẽ gặp may mắn “tiền hung hậu kiết”. Hy vọng là như vậy!”

Mười Dần đề nghị, nói:

-“Chuyến nầy để tôi đi thay cậu Hai được mà. Tôi nói không phải khoe tài, huấn luyện viên tác xạ là nghề của tôi trong quân đội viễn chinh Pháp ở Phi Châu.”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Tôi biết anh Mười có thể thay tôi làm chuyện nầy giúp đồng bào. Nhưng, tôi đã hứa với họ là nhứt định tôi phải giữ lời!”

Mười Dần nói:

-“Như vậy, tôi có thể đi theo cậu Hai, giúp một tay được không? Có ba người vẫn hơn, đúng không?”

-“Được như vậy, quý hóa lắm! Có anh Mười đi theo ổng, tôi cũng bớt lo,” mợ Hai Bảnh nhìn chồng, hỏi. “Ông nghĩ sao về đề nghị của anh Mười Dần?”

-“Anh Mười xa quê hương cả chục năm trời, phải để anh ở nhà hủ hỉ với chị Mười chớ bà,” cậu Hai Bảnh quay sang thím Mười, hỏi. “Tôi nói như vậy có đúng không, chị Mười?”

Vợ Mười Dần nói:

-“Chuyện nhỏ mà cậu Hai! Vợ chồng tui già rồi! Ổng bỏ hai mẹ con tui đi biền biệt hơn 10 năm trời, còn chưa ăn thua gì!”

-“Như vậy, chị Mười đồng ý rồi, đúng không?” cậu Hai Bảnh nhìn vợ, hỏi. “Còn má con Thu Hương cho biết ngày nào là “kiết nhật” để tui lên đường hả, bà?”

Mợ Hai Bảnh nói:

-“Tôi đã coi lịch rồi, phải chờ đến ngày chủ nhựt 28 tháng 4 – nhằm ngày 21 tháng 3 âm lịch – là “kiết nhựt” ông có thể lên đường được rồi đó!”

Cậu hai Bảnh nói:

-“Như vậy, anh em tụi mình còn thong thả non nửa tháng nữa. Anh Mười về nhà nghỉ ngơi. Bao giờ lên đường, tôi sẽ cho cháu Tư Kê về báo tin cho anh biết.”

Mười Dần nói:

-“Xong việc của đồng bào Thất Sơn nhờ cậy. Nếu cậu Hai đưa hết gia đình về Sài Gòn. Cậu Hai có thể cho tôi xin khẩu súng trường mousqueton được không?”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Khẩu súng trường nầy, tôi có giấy chứng nhận của viên quan ba Pháp, phụ tá Chủ Tỉnh Long Xuyên ký tặng. Nó chỉ hợp pháp với tôi, nhưng nó sẽ không hợp pháp đối với anh Mười.”

Mười Dần nói:

-“Không hề gì đâu, vì tôi sẽ mang khẩu súng nầy về cù lao Ông Chưởng, gia nhập nghĩa quân Phật Giáo Hòa Hảo, kháng chiến chống thực dân Pháp; vì vậy, khẩu súng trường nầy hợp pháp hay không hợp pháp đâu thành vấn đề!”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Được lắm! Hạ xong hai con hổ dữ ở Thất Sơn, tôi sẽ tặng khẩu súng nầy cho anh,” cậu Hai Bảnh hỏi. “Còn chị Mười, có đồng ý cho anh Mười gia nhập kháng chiến quân PGHH hay không hả, chị Mười?”

Vợ Mười Dần hãnh diện, nói:

-“Kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập cho quê hương xứ sở là nghĩa vụ của mọi người Việt Nam yêu nước. Chồng đâu, vợ đó, giặc đến nhà đàn bà cũng ra trận. Tui sẽ sát cánh với anh Mười xung phong ra tuyền tuyến, sống chết có nhau cho tròn tình nghĩa vợ chồng!”

Ngọ hỏi:

-“Còn con thì sao, hả tía má!”

-“Con gái lớn có chồng thì phải theo chồng, theo tía má làm gì chớ! Má coi thằng Tư Kê, nó chịu đèn mầy rồi đó!” thím Mười nhìn Tư Kê, hỏi. “Sao Tư Kê, có muốn cưới con gái của dì Năm hay không? Nói cho tao biết coi!”

Tư Kê mắc cỡ, nói:

-“Chuyện lớn như vậy mà tía má còn phải hỏi! Con chịu liền!”

Chín Dậu vui mừng, nói:

-“Được kết làm sui gia với anh chị Mười thì còn gì bằng. Nhưng mà, thằng Tư Kê còn con nít trân. Chờ hai năm nữa cho nó ngoài 18 tuổi, tui sẽ cho người đến giạm hỏi cháu Ngọ cho nó, sao anh chị chịu không?”

Mười Dần nói:

-“Tôi với bạn là anh em kết nghĩa, từng sống chết có nhau, sao cũng được mà; miễn sao, vợ chồng nó hạnh phúc là được rồi!”

Cậu Hai Bảnh nhìn Sáu Trí nói:

-“Chú Sáu nhớ cắt vài mẫu đất dành cho gia đình anh Chín Dậu ở gần đây, để cho hai ông bạn già Tư Long và anh Chín Dậu sớm hôm hủ hỉ có nhau.”

Sáu Trí nói:

-“Cậu Hai an tâm, việc nầy để tôi lo. Sau mùa nước nổi, tôi sẽ hoàn tất việc phân ranh đất, rồi liên lạc với sở Trường Tiền Tân An, cử người tới chứng thực và cấp bằng khoáng đất cho mấy anh em tá điền. Xong việc, tôi sẽ gặp anh Hai Rồng, anh chị Mười và cháu Bền ở cù lao Ông Chưởng.”

Tư Long hỏi:

-“Cậu Hai cần dặn dò anh em điều gì nữa không? Nếu không, tôi sẽ dẫn anh em xuống căn nhà sàn của tôi đàm đạo.”

Cậu Hai Bảnh nói:

-“Mấy anh em xuống đó trước đi; chút nữa, có thể tôi xuống đó gặp mấy anh em nói chuyện chơi.”

Bền thưa với Tư Long:

-“Con xin phép dẫn Tư Kê xuống ghe ngủ qua đêm với con! Hẹn gặp bác Tư sáng mai! Tụi con sẽ giúp bác Tư phân phát lúa gạo cho bà con tá điền!”

***

Ngồi trong khoang ghe cà dom, trong lòng Tư Kê vẫn không an tâm, hỏi Bền:

-“Liệu tối nay, Thạch Sum có dẫn đám bộ hạ đánh úp dân làng để trả thù không, anh Bền?”

-“Khó mà đoán trước được ý định của Thạch Sum. Hay nhứt là mình phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng đánh trả cuộc tấn công bất ngờ của họ. Tối nay, tao sẽ đi tuần suốt đêm,” Bền hỏi. “Mầy có dám đi với tao không, Tư Kê?”

-“Đi thì đi, sợ gì mà không dám chớ!” Tư Kê nói. “Tui sẽ bơi xuồng đưa anh đi!”

-“Để tao thắp nhang đèn trên bàn thờ của Đức Trần Hưng Đạo và tía má tao cái đã, rồi anh em mình nói chuyện tiếp,” Bền nói. “À quên, để tao đốt vỏ bưởi, cỏ khô un muỗi, rồi còn bắt nồi cháo khuya. Sau khi đi tuần về, phải có cái gì ăn cho ấm lòng.”

Tư Kê hỏi:

-“Hai cái ảnh bán thân trên cái tran thờ bên tay phải là tía má của anh, phải không?”

-“Đúng, đó là hình của tía má tao,” Bền gật đầu, nói: “Còn cái thẩu bằng đất nung để trên tran thờ là tro cốt! Sau mùa nước nổi, tao sẽ thực hiện lời trối trăn của tía má lúc còn sanh tiền, là được rãi tro cốt trên sóng nước Đông Hồ.”

Tư Kê hỏi:

-“Còn cái tran thờ bên trái, anh thờ hình tượng ông tướng nào, tay cầm gươm thiêng, đứng trước mũi chiến thuyền chỉ huy ba quân tướng sĩ, cờ xí rợp trời xông pha chiến trận, trông ông có vẻ oai phong lẫm liệt quá chừng chừng vậy, anh Bền?”

-“Bức hình nầy là một trong những vị đại anh hùng dân tộc, tên húy của ông là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là Đệ Nhất Danh Tướng đời nhà Trần.”

-“Ai vẽ tấm hình rất có hồn vậy, anh Bền?”

-“Tía Hai Rồng vẽ đó!” Bền hãnh diện, nói. “Ngoài võ nghệ cao cường, làu thông kinh sử, tía tao còn là một họa sĩ có tài.”

Tư Kê chưa hết thắc mắc, hỏi tiếp:

-“Còn ông tướng nào “mặt đỏ” mà người Việt Nam mình thờ ở trong nhà là ông tướng nào vậy, anh Bền?”

-“Ông tướng này là tướng của bọn Tàu Phù, tên ông ta là Quan Vân Trường đời Tam Quốc.”

Tư Kê bất mãn, nói:

-“Ông Quan Vân Trường là một viên tướng Tàu, người Tàu họ thờ phượng ông là phải rồi. Còn người Việt Nam mình, mắc mớ gì mà phải thờ ông tướng Tàu, sao kỳ cục vậy ta?”

-“Tao hoàn toàn đồng ý với mầy! Rất mong người Việt Nam mình ý thức được điều nầy, làm như vậy là vô ơn đối Tổ Tiên. Trong một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ kể từ nhà Hán, Tấn, Lương, Tùy, Đường, Tống…thời đại nào, dân tộc Việt Nam mình cũng có những anh hùng xuất hiện cứu quốc như hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Đế…cho đến năm 939, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán, chấm dứt một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, mở đầu kỷ nguyên độc lập và tự chủ cho dân tộc Việt Nam mình.”

-“Từ hồi cha sanh, mẹ đẻ cho đến bây giờ, tui có tới trường học đâu mà biết lịch sử đấu tranh oai hùng của dân tộc Việt Nam! Tui không mù chữ là nhờ dì Út dạy cho hồi còn nhỏ,” Tư Kê hỏi tiếp. “Vị đệ nhứt danh tướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn xuất hiện vào thời điểm nào, trong lịch sử giữ nước của tổ tiên mình vậy, anh Bền?”

-“Hưng Đạo Vương là tước vị của Hoàng thân Trần Quốc Tuấn, một danh tướng kiệt xuất đời nhà Trần, có chiến tích lẫy lừng và hiển hách so với các vị anh hùng dân tộc xuất chúng khác trong lịch sử như Tướng Lý Thường Kiệt, vua Lê Thái Tổ, Đại đế Quang Trung Nguyễn Huệ…” Bền kể tiếp. “Hốt Tất Liệt, cháu nội của Thành Cát Tư Hản dốc toàn lực trong chiến dịch dài ngót 10 năm từ 1268 đến 1279 để chinh phục Trung Hoa. Trong trận hải chiến cuối cùng vào năm 1279 tại vịnh Quảng Đông, Hốt Tất Liệt đánh bại nhà Nam Tống. Thừa tướng Lục Tú Phu phải cõng vua Tàu nhảy xuống biển cùng tuẩn tiết. Từ đó, Hốt Tất Liệt cai trị toàn cõi Trung Hoa để lập ra nhà Nguyên. Hốt Tất Liệt ba lần xua quân Nguyên Mông xâm phạm bờ cõi nước vào năm 1257, 1284 và lần cuối vào năm 1287. Vua Trần Thái Tông thân chinh, rồi đến vua Trần Nhân Tông phong cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Tiết Chế thống lãnh toàn thể lực lượng quân ta chống giặc và Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với tài điều binh khiển tướng, oanh liệt đánh bại quân Nguyên Mông sau ba lần xâm lược nước ta, đều bị quân ta quét sạch ra khỏi bờ cõi.”

Tư Kê hỏi:

-“So về tài điều binh khiển tướng và đức độ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và ông tướng “mặt đỏ” Quan Vân Trường như thế nào?”

-“Theo tía tao đánh giá: Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là Tướng “Chiến lược” hội đủ 8 đức tín của bậc làm tướng như: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Nhẫn, Trung, Dũng. Còn Quan Vân Trường chỉ là tướng “chiến thuật” như thiên lôi sai đâu đánh đó, thừa dũng cảm, nhưng chính bản chất kiêu căng, khinh bạc và kém khả năng chính trị của Quan Vân Trường đã làm thất thủ Kinh Châu.”

-“Anh Bền trí nhớ tốt thiệt,” Tư Kê vẫn còn thắc mắc, hỏi. “Thế thì tại sao, người Việt Nam mình không lập bàn thờ phượng những vị anh hùng dân tộc Việt Nam mình như Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ở trong nhà, mà lại đi thờ một ông tướng Tàu “mặt đỏ” là tại làm sao?”

-“Mầy hỏi tao, tao biết hỏi ai đây? Tao có nghe tía bàn bạc với vài vị trưởng thượng, những nhà trí thức yêu nước chuẩn bị phát động phong trào trở về cội nguồn “Chủ nghĩa Dân tộc” với khẩu hiệu: “Người Việt Nam phải thờ phượng những anh hùng dân tộc Việt Nam” để tạo khí thế sôi nỗi, hun đúc tinh thần yêu nước để chống thực Pháp. Ngoài ra, những cuộc biểu tình, xuống đường của mọi tầng lớp quần chúng chống kẻ thù xâm lược, để tránh việc bắt bớ, đàn áp của chánh quyền cai trị, mọi người phải mặc áo có vẽ hình những vị anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Tướng Lý Thường Kiệt, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ…” Bền nói. “Tía tao tiên đoán, rồi đây sẽ có hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên, học sinh sẽ mặc những cái áo có vẽ hình những vị anh hùng dân tộc, rầm rộ xuống đường, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh, đoàn kết chống ngoại xâm. Đây là đòn “tâm lý chiến” giáng xuống đầu bọn xâm lược nước ngoài và bọn Việt Gian làm chúng sẽ chùn bước. Tía tao nói đúng: Lịch sử còn, khí phách dân tộc còn. Nước Việt Nam sẽ vĩnh viễn còn.”

Bền mở cái rương bằng tre đan, lấy ra một cái áo thun lá, trải ra trên sàn gỗ, nói:

-“Đây là cái áo thun lá, tía dùng sơn dầu vẽ lên mặt trước hình Tướng Lý Thường Kiệt cỡi trên lưng chiến mã, giẵm lên đầu bọn giặc Tàu. Mặt phía sau có viết 4 câu thơ của ngài: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

-“Chú Hai Rồng có hoa tay vẽ thiệt nghen!” Tư Kê khen, nói. “Anh còn cái nào nữa không? Cho tui xin một cái!”

-“Tao chỉ có một cái áo duy nhứt nầy thôi! Tao để dành mặc nó, cùng đồng bào xuống đường biểu dương khí thế!” Bền nói. “Nồi cháo sắp chín rồi, tao nướng vài con cá sặc để ăn với cháo. Hồi nãy, ăn cơm ở nhà trên với mấy chú bác, tao ăn không mạnh miệng nên bây giờ vẫn còn đói.”

***

Trong lúc hai anh em ngồi bên ngọn đèn dầu trong khoang ghe ăn cháo; đột nhiên Tư Kê hỏi: -“Đông Hồ ở đâu vậy, anh Bền?”

-“Đông Hồ là hồ ở phía đông Hà Tiên. Theo con kinh Vĩnh Tế ăn thông với sông Giang Thành, chảy vào Đông Hồ trước, sau đó mới đổ ra biển Hà Tiên. Mỗi năm vào đầu mùa mưa, nước phèn trên đồng ruộng đổ xuống kinh Vĩnh Tế, làm cho nước sông Giang Thành khi đục khi trong. Mặt hồ nước trong xanh, sóng yên gió lặng giữa bốn bề sông nước, núi non rất hữu tình, cảnh vật lại yên tỉnh. Hồi nhỏ, tao thường bơi xuồng trên mặt hồ câu cá chẻm, cá hô.”

-“Cái hồ nầy lớn không, anh Bền?”

-“Bề dài khoảng 3 km, rộng 2 km. Phía hữu ngạn có núi Ngũ Hổ, phía tả ngạn là dãy núi Tô Châu. Nhà tao ở ấp Mương Khai nằm bên dòng sông Giang Thành, khúc sông đổ vào Đông Hồ. Anh em của tao đều mở mắt chào đời nơi làng nầy.”

-“Ủa, anh còn một người anh nữa sao? Anh ruột của anh bây giờ ở đâu?”

-“Anh Hai của tao đã chết rồi,” Bền giọng buồn buồn, nói. “Dân cư sống chung quanh Đông Hồ từ ấp Mương Khai, xóm Láng Tranh, ấp Ngã Tư, xã Thuận Yên… đều sống về nghề hạ bạc, lặn lội giữa biển khơi đầy gian lao và nguy hiểm, đem mạng sống đổi lấy miếng cơm manh áo để lo cha mẹ, vợ con mà cuộc sống của họ tùy theo con nước và đánh bắt cá theo mùa, nên cuộc đời của người đi biển cũng ba chìm bảy nổi như con nước thủy triều. Nhưng, những thanh niên sống chung quanh Đông Hồ ai cũng có say mê tiếng gọi của biển cả. Gia đình của tao cũng không ngoại lệ, anh Hai lúc đó mới có 17 tuổi, cũng khoái lao vào nghề đi biển, thử thách với sóng gió biển để kiếm tiền giúp đở gia đình. Quanh năm suốt tháng sống lênh đênh ngoài cửa biển Rạch Giá, theo ngư dân đánh bắt cá biển. Sau khi được chủ tàu thanh toán tiền nong hoặc khi trời giông bão thì anh Hai tao mở trở vô đất liền, thăm gia đình được vài ngày.”

Tư Kê đoán:

-“Có lẽ anh Hai chết vì bão biển phải không? Tui nghe nói, những người theo nghề đi biển đa số bị tử nạn vì bảo biển hoặc bị hải tặc giết người, cướp hải sản, phải không, anh Bền?”

-“Đúng như vậy,” nhưng Bền lắc đầu, nói. “Anh tao chết vì bị loài rắn biển cực độc cắn phải. Khi đưa về tới đất liền thì ảnh bị trào đờm chết.”

-“Loài rắn biển ghê thiệt hả!” Tư Kê nói.

Bền nói:

-“Vì cái chết đột ngột của anh Hai, nên tía má tao quyết định rời làng quê, sống lênh đênh trên ghe thương hồ vì không muốn tao theo nghề đi biển như những thanh niên trong vùng.”

Tư Kê nhìn Bền nói một câu chí tình:

-“Anh Bền bây giờ một thân một mình, mồ côi cha mẹ. Còn tui cũng chỉ có một mình, không anh em. Tui muốn kết nghĩa huynh đệ với anh!”

-“Được lắm!” Bền hỏi. “Bạn mấy tuổi?”

Tư Kê nói:

-“Tui tuổi Giáp Tý, sinh năm 1924 đúng 17 tuổi ta, còn anh?”

-“Tao tuổi Quí Hợi, sinh năm 1923, đúng 18 tuổi ta. Như vậy, tao làm anh của bạn,” Bền nói. “Tao phục tánh tình nhân hậu của mầy lắm, Tư Kê!”

Tư Kê nói:

-“Còn tui cũng phục cái tánh dũng cảm của anh, dám liều mình xông vô biển lửa để cứu bạn. Không có anh, chắc tui đã bị chết thiêu với thằng bé con rồi.”

Bền vỗ vai Tư Kê thân mật, nói:

-“Bây giờ tụi mình là anh em với nhau, tao không có gì quý giá để tặng mầy cả; ngoại trừ chiếc nghe cà dom nầy. Tao muốn tặng lại cho mầy để làm kế sinh nhai. Đời sống của dân thương hồ, gạo chợ nước sông cũng vui lắm! Sau mỗi mùa lúa, vợ chồng mầy xuống ghe, chuyên chở hàng hóa, trái cây đi xuống miệt Hậu Giang buôn bán kiếm lời, dành tiền lo cho con cái sau nầy.”

Tư Kê cảm động, hỏi:

-“Anh cho tui chiếc ghe nầy, còn anh ăn ở đâu, ngủ ở đâu?”

-“Mầy khờ quá,” Bền nói. “Chuyến lên núi Thất Sơn săn cọp dữ, có thể kéo dài đôi ba tháng chớ không nhanh chóng như mầy tưởng đâu. Khi tao trở lại đây, chờ cho qua mùa nước nổi. Tao sẽ đêm tro cốt của tía má tao về quê nhà, rãi xuống Đông Hồ. Sau đó, tao tìm về căn cứ địa của nghĩa quân PGHH ở cù lao Ông Chưởng, gặp tía Hai Rồng và mọi người ở đó.”

-“Anh Bền nè, tui nghe người ta nói trên dãy núi Thất Sơn thú dữ và quỷ ma nhiều lắm. Anh đi lên đó với bác Hai Bảnh lành ít dữ nhiều, đáng sợ lắm! Em có vật hộ mệnh nầy, muốn tặng lại cho anh, nhờ trời Phật che chở cho anh!” không đợi Bền trả lời, Tư Kê tháo sợi dây ngũ sắc đang đeo trên cổ, đưa cho bền, nói. “Đây là cái nanh heo rừng, có khắc tượng Phật hai mặt linh thiêng lắm!”

Bền cảm động, nhưng lắc đầu, nói:

-“Cám ơn Tư Kê, lòng tao quang minh chánh đại, không sợ ma quỷ hay tà thần. Mầy hãy giữ lấy vật hộ mệnh nầy mà đeo!”

Tư Kê bất ngờ hỏi:

-“Anh tin có ma quỉ không, anh Bền?”

-“Cách đây 7, 8 năm gì đó, tao sống với tía má trôi nổi theo chiếc ghe thương hồ. Tao còn nhớ, xế chiều hôm đó, sau khi tan chợ Cần Thơ, tía má tao chèo ghe băng qua sông Hậu Giang, vô rạch Cái Vồn, lên Phú Hữu để ra sông Tiền Giang cho gần. Khoảng nữa đêm hôm đó, khi chèo ghe qua khỏi địa phận quân Ba Càng, trời bỗng dưng mưa giông lớn lắm, mưa tối trời tối đất, tao lại bị lên cơn sốt cao mê man. Hai bên con rạch Cái Vồn là đồng không mông quạnh, chẳng có nhà ai để xin tá túc qua đêm. Bỗng tía má tao thấy một ánh đèn nhà ai cháy leo lét xa xa, tía tao mừng quá, chèo ghe riết tới để xin gia chủ cho ngủ nhờ một đêm,” Bền nói. “Nghe tía má nói lại, lúc chèo ghe đến nơi, thấy một ngôi chùa khang trang, có một vị hòa thượng với râu ba chồm, dóc dáng tiên phong đạo cốt, mời cả gia đình lên chùa uống nước trà cho ấm lòng. Vì mệt và lạnh nên mọi người ngủ thiếp cho đến bình minh. Lúc giựt mình thức dậy, cả nhà mới mới biết là đang nằm ngủ trên một bãi tha ma hoang vắng. Còn ngôi chùa đêm qua biến đi đâu mất tiêu.”

“Hỏi thiệt nghen,” Tư Kê hỏi. “Lúc đó, anh có sợ không?”

-“Tao có biết gì đâu mà sợ! Còn tía rất vui mừng vì thấy tao hết lên cơn sốt một cách kỳ lạ. Má tao nấu một mâm cơm chay, bày giữa trời tạ ơn trời Phật.” Bền nói tiếp. “Lần thứ hai, chính mắt tao thấy một “con tinh cái” mặt toàn bộ trắng toát chạy phất phới trên bờ sông, trong một đêm trăng sáng mới ghê chớ!”

-“Anh thấy con tinh cái ở đâu vậy, anh Bền?” Tư Kê hỏi.

Bền nói:

-“Sau khi xuống hàng và lên hàng xong tại chợ Cái Cui vào buổi chiều, má tao mua được một số tôm lóng để sáng ra chợ Cần Thơ bán kiếm lời. Khoảng 2 giờ sáng, gặp con nước lớn, tía má tao nhổ sào, chèo ghe ra chợ Cần Thơ. Lúc chèo ghe tới vàm Cái Đôi vào khoảng 4 gời sáng, má tao thấy một người đàn bà mặt toàn đồ trắng, đứng trên bờ, kêu giựt ngược: “Có tôm cá gì bán không? Tấp xuồng vô đây tôi mua hết!” Tía tao bèn quay mũi ghe, tấp vô bờ. Người đàn bà đó mua hết số tôm và trả tiền sòng phẳng.”

-“Người đàn bà đó mua tôm, trả tiền có gì là lạ đâu, anh Bền?”

-“Có tao mới nói chớ!” Bền kể tiếp. “Lúc đến chợ Cần Thơ, má tao mua được một số hàng bông, định chở đến chợ khác bán. Khi má tao móc túi lấy tiền trả cho người ta, chỉ thấy toàn là giấy vàng bạc, thế mới kinh!”

Tía tao ức lắm, tưởng bị gạt, bèn chèo ghe trở lại chỗ cũ tìm người đàn bà đó hỏi cho ra lẽ thì gặp một người thợ mộc của trại cưa, chuyên đóng ghe xuồng gần đó, hỏi tía tao:

-“Anh chị muốn tìm ai ở đây vậy?” tía tao chưa kịp trả lời, người đó nói ngay. “Có phải đến tìm người đàn bà mua tôm hồi tối hôm qua không?”

Tía tao ngạc nhiên, hỏi:

-“Sao mà anh biết hay vậy?”

-“Biết chớ sao không?” anh ta nói. “Hồi tờ mờ sáng nay, khi đi ngang qua gò mả gần bờ sông, tôi thấy toàn đầu tôm vất bừa bãi chung quanh đó.”

-“Mớ tôm nầy là của tôi bán cho người đàn bà đó khoảng 3, 4 giờ sáng,” má tao nói. “Người đàn bà đó trả tiền sòng phẳng lắm. Nhưng, sáng nay tại chợ Cần Thơ, tôi mới biết toàn là giấy vàng bạc, chớ không phải tiền thiệt.”

Anh ta nói:

-“Anh và chị gặp phải con tinh cái vàm Cái Đôi rồi!”

Tía ngạc ngiên, hỏi:

-“Con tinh cái xuất hiện ở vàm Cái Đôi từ hồi nào vậy?

-“Cách đây 3, 4 năm gì đó,” anh ta nói. “Lúc đó vào khoảng 6 giờ chiều, sau khi dọn dẹp đồ nghề, tôi xuống sông Hậu Giang tắm giặt; bất ngờ, thấy một thây ma đàn bà trôi tấp vào chưn cầu. Mấy anh em thợ mộc hoãng quá, vội kéo thây người đàn bà đó lên bờ, rồi đi báo cáo cho chánh quyền ở bên kia sông Cần Thơ. Nhưng qua đến chiều ngày hôm sau mà không thấy ai đến điều tra gì cả. Xác chết bắt đầu bốc mùi; vì vậy, sẵn có ván trong trại xuồng, chúng tôi đóng cho chị một cổ quan tài, rồi đi chôn tại bãi đất hoang gần vàm Cái Đôi làm phước.”

-“Người đàn bà nầy chắc chết oan, chết ức nhằm giờ linh không đi đầu thai được, nên vương vấn trần gian, hiện hình lên quậy phá người trần gian,” má tao nói. “Mấy anh làm ơn thì làm ơn cho trót đi, nên lập trai đàn, rước sư về tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người đàn nầy sớm siêu thoát.”

Người thợ mộc, nói:

-“Bà con trong xóm và mấy trại đóng ghe xuồng gần đây, cũng đã nghĩ đến vấn đế nầy rồi!”

-“Vậy thì tốt lắm!” má tao nói.

Bền nhìn Tư Kê hỏi lại:

-“Còn mầy có thấy ma, quỷ bao giờ chưa?”

Tư Kê nói:

-“Chẳng những tui gặp ma mà còn bị ma nó giấu, cho ăn đất sét đầy miệng nữa kìa!”

-“Thiệt vậy sao, Tư Kê?” Bền nói. “Tao không tin đâu! Ở xứ tao có người bị ma giấu, tâm trí đờ đẫn, khi thì tỉnh, khi thì điên, nói năng lảm nhảm, đâu có tỉnh queo như mầy vậy đâu!”

-“Thôi được, để tui kể anh nghe, anh tin hay không tùy anh,” Tư Kê nói. “Cách đây 4 năm, nhơn một chuyến về thăm quê ngoại ở Ấp Bình Lý, nằm trên con Rạch Sở Hạ vào mùa mưa dầm tháng 6. Gia đình cậu Sáu Nhiễu có hai người con trai là anh Tiền và Trung rủ tui đi soi ếch. Ở cái làng quê nầy, hễ vào mùa mưa dầm và mùa nước nỗi là thời điểm săn bắt cá, lươn, rắn, ếch…làm cái bến nước Rạch Sở Hạ chộn rộn hẵn lên. Mấy cậu lực điền ở tuổi anh và tui chuẩn bị cho mùa săn ếch, họ lặn lội thâu để soi ếch về làm món nhậu khoái khẩu lắm. Tui khoái nhứt là ếch xào lăng với lá cách, lá lốt, nước cốt dừa, đậu phọng làm món ăn nhậu miệt vườn đã lắm. Tui còn nhớ buổi chiều hôm đó, mưa bay lất phất, sương xuống khá lạnh. Mấy anh em vội vã ăn cơm chiều xong là lo chuẩn bị đồ nghề bỏ lên xuồng ba lá trước.”

Bền ngắt lời, hỏi:

-“Tao cũng là dân soi ếch có hạng ở Đông Hồ. Mầy nói thử coi, đồ nghề soi ếch gồm có những thứ gì? Mầy nói dóc, tao biết liền!”

Tư Kê nói tiếp:

-“Vào mùa mưa dầm hay mùa nước nổi, những cánh đồng ruộng bị ngập nước nên chuột cống nhum, rắn hổ đất không thể ở trong hang mà phải trèo lên cây hoặc các gò đất để làm hang, ổ. Khi đêm xuống, chúng rời hang trú ẩn bò ra ngoài săn mồi; vì vậy, nơi nào có ếch nhái là phải coi chừng, lẩn quẩn đâu đó có rắn hổ đang kiếm mồi. Dân săn ếch chuyên nghiệp miệt Rạch Sở Hạ thường phải mang theo cây chỉa ba có ngạnh dùng để săn chuột, hoặc rắn mới chắc ăn, và cây chỉa soi dùng để đâm ếch, một cây đèn bão, mỗi người mang theo khoảng chục bó đuốc bện bằng lá dừa nước và dây gai dùng để buộc hoặc xỏ xâu ếch.”

-“Ừ, mầy nói đúng đó! Tao tin, rồi sao nữa, kể tiếp đi bạn!”

-“Cánh đồng ruộng mênh mông nằm giữa Rạch Sở Hạ và Rạch Cái Cái có rất nhiều “gò” như: Gò Khao, Gò Gòn, Gò Chùa Nhỏ, Gò Tre, Gò Út Tâu…Tụi tui thường bơi xuồng ra gò gần nhà nhứt là Gò Khao, chỉ cần một đêm soi ếch tại Gò Khao là kiếm được trên dưới hai chục con ếch bự tổ chảng. Khi tụi tui chèo ghe đến Gò Khao thì trời tối mịt mưa vẫn còn bay lất phất, sương xuống dầy đặc, thời điểm nầy là mùa “ếch bắt cặp”, kêu rền trời nghe bắt ham. Tới Gò Khao, anh Tiền thắp cây đèn bão cho mọi người đốt đuốc, xong rồi ảnh móc cây đèn bão lên cây sào tre, cắm xuống đất sình bên cạnh chiếc xuồng ba lá, dặn tụi tui: “Khi nào tụi mầy muốn trở về, nhìn ánh đèn nầy để đánh hướng mà về!” Sau đó, mọi người tay cầm đuốc, tay cầm chĩa phân tán đi mỗi người mỗi ngã soi ếch.”

Bền hỏi:

-“Diện tích Gò Khao có rộng lớn lắm không?”

-“Trước đây chỉ là một mô đất nỗi lên giữa đồng ruộng, lâu ngày được phù sa bồi đấp sau mỗi mùa lũ lụt, mô đất đó trở thành gò cao hơn mặt đất ruộng khoảng dưới một thước, rộng cả trăm thước, xâm xấp nước nêm cỏ lát, lau sậy, chưn bầu…thi nhau mọc cao quá đầu người. Gò còn là tụ tập của chim trời như gà nước, le le, chuột, trăn rắn và đặc biệt là ếch; vì vậy, gò là còn kho thức ăn trời cho của dân làng,” Tư Kê nói. “Hễ nghe tiếng ếch kêu hướng nào là tui vạch cỏ lát, đi tới hướng đó, gặp ếch là cầm đuốc quơ qua, quơ lại trước mặt nó, mắt ếch rất bắt ánh đuốc, nó chỉ ngồi yên một chỗ, cứ phóng chĩa đâm, nếu đâm hụt, ếch sẽ phóng vào bụi hoặc nhảy bõm xuống nước. Chưa đầy một tiếng đồng hồ, tui soi được 4, 5 con ếch bà thiệt bự và cảm thấy lành lạnh nên muốn trở về xuồng, chờ mấy người anh. Vừa lúc ấy, tui thấy một ánh đuốc lúc ẩn lúc hiện phía xa xa, đinh ninh là của anh Tiền hoặc anh Trung nên tôi đi tới, rủ hai anh cùng về. Nhưng mà, tui càng đi tới thì ánh đuốc càng đi xa. Lúc đó, tui mới thực sự cảm thấy sờ sợ ma, bỗng tui nghe tiếng chưn ai đó lội xì xọp trong đám lau sậy, nhìn quanh thì không thấy ai, rồi tiếng chưn của nhiều người, rồi tiếng con nít khóc, tiếng đàn bà ru con lanh lãnh nghe lạnh cả xương sống.”

-“Chắc là mậy gặp ma thiệt rồi!” Bền nói.

-“Gặp ma thiệt rồi chớ còn gì nữa,” Tư Kê nói. “Lúc đó tui sợ quá té đái trong quần, quăng đuốc, cả xâu ếch, chạy thụt mạng về phía trước, nghe có tiếng chưn người chạy thình thịch rượt theo ở phía sau, tui cắm đầu, cắm cổ chạy bừa trong đám lau sậy cho đến khi ngã xuống vũng lầy, mệt xỉu.”

Bền ngắt lời, nóng ruột hỏi:

-“Rồi có ai cứu mầy không?”

Tư Kê nói:

-“Khi tui tỉnh dậy thì thấy mình đang chứng kiến một buỗi lễ hội gì đó, tưng bừng náo nhiệt lắm; hình như là đám cưới nhà ai đó thì phải, tui mừng quýnh lên tưỡng đã thoát nạn rồi. Bỗng có một người đàn bà bỏ tóc xỏa, gương mặt trắng bệt, cái nhìn của bà ta lạnh lẽo, xa xôi, trên tay bà bưng một dĩa xôi nếp. Tui còn nhìn thấy còn bốc lên nghi ngút. Bà ta nói: “Cậu ăn xong dĩa xôi nếp cho no lòng, tôi sẽ đưa cậu về nhà.”

Đang đói bụng mà gặp dĩa xôi, chẳng khác nào buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Ăn xong dĩa xôi, mí mắt nặng trĩu như đeo đá, tui ngã lưng xuống đất ngủ một giấc không còn biết trời trăng mây nước gì hết, tui mê mang cho đến khi nghe văng vẳng bên tai có tiếng chó sủa, mở mắt ra thì thấy tía, bác Sáu cùng hai anh và mấy người lối xóm đứng xung quanh. Tui mừng quá, muốn nói mà nói không được, miệng tui bị vật gì trám đầy miệng. Tui nghe chú Mười Út nói:

-“Anh Chín đở thằng Tư ngồi dậy, bồng nó xuống xuồng để tui chửa bịnh tà cho nó liền, không thôi sẽ bị chết vì ngộp thở đó.”

Tía bế xốc tui ngồi dậy, tui nhìn thấy lờ mờ cậu Mười Út lấy ngón tay vẽ bùa ngoằn ngoèo trên ván xuồng thì bao nhiêu đất sét trong miệng tui ọc ra hết một lượt, tui ú ớ hỏi:

-“Đây là đâu vậy, tía?”

Tui chỉ nghe loáng thoáng tiếng cậu Mười Út nói:

-“Thôi, tụi mình bơi xuồng đưa nó về nhà liền bây giờ để tui chửa bịnh tà cho nó, thằng Tư kê bị ma giấu rồi đó! May là mình cứu nó kịp lúc!”

Bền hỏi:

-“Sao bác Chín biết chỗ mầy bị ma giấu mà kiếm trúng phóc vậy, Tư Kê?”

-“Tui đâu có biết gì đâu!” Tư Kê nói. “Anh hỏi tía tui coi!”

Vừa lúc đó, chú Chín Dậu đẩy cánh cửa khoang qua một bên, mang mùng mền vô trong khoang ghe, nói:

-“Cô Thu Hương nhờ tao đem mùng mền xuống đây cho tụi bây ngủ.”

Bền hỏi:

-“Bác Chín đói bụng không? Có nồi cháo trắng, kho sặc nướng để con dọn ra cho chú ăn nghen!”

-“Ừ được đa, tao cũng đang đói bụng đây nè!”

Tư Kê nói:

-“Để con dọn thêm chén muỗng cho tía.”

Cả ba người ngồi quay quần bên nồi cháo trắng, vừa ăn vừa nói chuyện. Bền hỏi:

-“Thằng Tư Kê nói mấy năm về trước, nó bị ma giấu. Hiện tượng huyền bí bị ma giấu có thiệt không hả, bác Chín?”

Chín Dậu nói:

-“Người dân miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long, bản chất thiệt thà, đời sống giản dị lắm. Trong những lúc trà dư tửu hậu, họ thường kể cho nhau nghe những chuyện “ma cỏ miền quê” mà mức độ rùng rợn của câu chuyện tùy theo óc tưởng tượng phong phú của mỗi người. Miệt vườn về đêm, bóng tối âm u, vắng lặng trùm phủ lên tàng cây, ngọn cỏ. Bà con nông dân mình tin rằng đó là thời điểm sinh hoạt của người cõi âm ẩn hiện trên những con đường mòn băng qua mấy thửa ruộng, bãi tha ma hoang vắng, trên cây da cổ thụ, bụi rậm…và dĩ nhiên có người cả tin rằng có ma qủy, nhưng cũng có người quả quyết rằng, trên đời làm gì có ma quỷ, đó chỉ là chuyện mê tín huyễn hoặc, dùng để hù dọa những người nhẹ dạ mà thôi.”

Bền hỏi:

-“Còn bác Chín tin có ma hay không?”

Chín Dậu nói:

-“Theo bác, ma quỷ là chuyện hoàn toàn có thật, phần lớn những oan hồn uổng tử không được cúng kiến, hoặc chết bờ chết buị, chết trôi chết nổi. Những hiện tượng bị quỷ ám, hoặc hiện hình bắt cóc trẻcon đem giấu vào bụi rậm rồi cho ăn đất sét đầy miệng như thằng Tư Kê con của bác đây. Hồi còn trẻ, chính mắt tao thấy con quỷ đu đưa trên cái võng, ru con trên cây da sà ở Gò Khao.”

Tư Kê nói:

-“Trời đất! Sao tía không nói cho con biết, để con ở nhà cho chắc ăn.”

-“Tao tưởng chuyện nầy đã mấy chục năm qua rồi, linh hồn người chết đã đi đầu thai, không ngờ họ còn vương vấn trên cõi hồng trần nầy,” Chín Dậu hồi tưởng lại chuyện xảy ra mấy chục năm về trước, rồi kể. “Hồi đó, bác làm phu bốc vác ở Quận Hồng Ngự, đó là một cái quận nhỏ, không có sở Bưu Điện, nhà thương gì cả. Nhưng mà nhà cửa khá đông đúc, xây cất bằng vật liệu sơ sài, nghề buôn bán trên sông ở đây rất phát đạt, ghe thương hồ tụ tập về đây rất đông vui, vì đây là vàm hai con rạch lớn là rạch Sở Thượng và rạch Sở Hạ đem nước sông Cửu Long vào vùng đất trũng Đồng Tháp Mười ngay từ đầu mùa nước nỗi. Ở quận Hồng Ngự được một thời gian, bác để dành dụm được một số tiền, hùn hạp với vài người bạn chí thân mua một chiếc tàu đò chở khách từ Hồng Ngự đi Tân Châu. Quận Tân Châu ngành thương mãi rất phồn thịnh và phát đạt hơn quận Hồng Ngự nhiều. Có xe đò, xe ngựa từ Tân Châu đi lên tỉnh Châu Đốc suốt ngày. Tàu đò từ Hồng Ngự muốn đi Tân Châu đều phải ghé lại bến đò ở Ấp Long Bình, trên đầu cù lao Long Khánh để cho khách xuống và rước khách lên tàu đi qua Tân Châu. Một hôm, lúc tàu đò ghé cù lao Long Khánh, bác tình cờ gặp má thằng Tư Kê quê ở Ấp Bình Lý, rồi theo bả về rạch Sở Hạ chung sống với nhau.”

Bền hỏi:

-“Con muốn biết cây da sà có quỉ hiện hình ở đâu vậy, bác Chín?”

Chín Dậu nói:

-“Lúc bác mới lập gia đình với má thằng Tư Kê thì đã có cây da sà ở Gò Khao rồi. Bác nghe ông ngoại thằng Tư Kê kể lại rằng: Có một năm nào đó, hình như là năm Bính Thìn 1916ù thì phải, vùng nầy xảy ra một trận lụt lớn chưa từng thấy. Nước lũ từ Đồng Tháp Mười tràn về dâng ngập lụt miền đồng bằng sông Cửu Long, từ Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ đường xá, ruộng đồng đều ngập trong biển nước mênh mông. Riêng tại khu tam giác giới hạn bởi rạch Sở Hạ lên tới phum Damrei Slap (giáp ranh giới Việt – Miên) rồi xuống rạch Cái Cái, Tân Thạnh đều bị ngập lụt, nước dâng lên thấy chóng mặt, hơn cả thước một ngày. Có một gia đình đàng trai từ Sóc Sa Rai thuộc ấp Bình Phú chèo ghe băng đồng nước nổi, xuống Gò Út Tâu rước dâu. Trên đường trở về đến địa phận giữa Gò Gòn và Gò Chùa Nhỏ gặp phải con trốt xoáy, sóng đồng thành sóng biển nổi cao lên cở 2, 3 từng lầu nhận chìm hết đoàn ghe xuống nước, không còn một người nào sống sót.”

-“Tội nghiệp họ quá hả, bác Tư,” Bền chậc lưỡi, hỏi. “Sau trận lụt đó, có vớt được xác người nào không?”

Chín Dậu nói:

-“Chỉ có một xác gần thối rữa của người đàn bà bụng mang dạ chửa, nhờ cái áo của bà vướng phải bụi tre gai nên không trôi đi mất xác, dân trong làng mới đóng một cái áo quan chôn bà ta tại chỗ đó. Về sau, nơi nầy nỗi lên thành gò, chính là Gò Khao bây giờ.”

-“Còn cây da sà ở Gò Khao?” Bền hỏi.

-“Một thời gian sau, có một cây da mọc lên tự nhiên ở ngay tại Gò Khao vì có ai trồng cây da bao giờ đâu. Cây da lớn nhanh như thổi, cành lá sum xuê che phủ cả một vùng nên dân trong vùng gọi là “cây da sà”. Nghe người ta đồn rằng, vào những đêm trăng thanh, gió mát, có bóng quỷ hiện hình, đưa võng kẻo kẹt, ru con lanh lãnh trên cây da sà. Từ đó, không một ai dám bén mãng đến cây da sà ban ngày lẫn ban đêm, có người còn thấy một bóng quỷ hiện hình đi loanh quanh dưới gốc cây da sà nữa. Cho tới một ngày, có một người chăn vịt đồng xa, lùa vịt bầy cả trăm con từ vùng khác tới cánh đồng nầy để cho vịt ăn lúa sót sau mùa gặt. Ban đêm, anh ta cho lùa bầy vịt ngủ chung quanh gốc da sà.”

Tư Kê nóng ruột, ngắt lời tía, hỏi:

-“Người chăn vịt đồng xa, có bị con quỷ trên cây da sà vật hay không vậy, tía?”

-“Nếu không có bà vợ của anh ta tới vùng nầy kiếm chồng, chắc không một ai hay biết gì cả.” Chín Dậu nói. “Người vợ thuật lại rằng, cách đây 3, 4 đêm gì đó, bà nằm chiêm bao thấy chồng báo mộng, cho biết: anh ta đã có vợ khác ở Gò Khao và người đàn bà nầy có sanh cho anh một đứa con gái nữa. Vì thế, cả làng sinh nghi đưa bà đến chỗ cây sà ở Gò Khao tìm chồng.”

-“Bà vợ có gặp được chồng không vậy, tía?” Tư Kê hỏi.

Chín Dậu nói:

-“Khi tới cây da sà, mọi người chạy đi tìm, sục sạo búa sua mà không thấy anh ta đâu cả. Cuối cùng, tao ngước mắt nhìn lên, thấy xác chết anh ta bị rễ phụ cây dây sà quấn mấy vòng chung quanh cổ, treo tòng ten cách mặt đất ít nhứt 4 thước, mắt trợn trừng, lưỡi thè dài thườn thượt thấy mà ghê! Một câu hỏi đặt ra, anh ta tự tử hay bị ai đó treo cổ? Đây là hiện tượng kỳ bí không thể giải thích được, làm thế nào anh ta tự treo cổ tử cách mặt đất trên 4 thước? Vậy thì ai giết anh ta? Gò Khao là một vùng đất bị quỉ ám, chẳng ai dám léo hánh tới đó mà giết anh ta. Cũng giống hiện tượng một đứa trẻ mới lên mười mà bị ma giấu trên tuốt ngọn dừa cao 9, 10 thước, người ta phải leo lên cây dừa lấy dây buộc ngang eo ếch thả nó xuống. Cái chết của người chăn vịt đồng xa là một trong những hiện tượng huyền bí miệt vườn, không ai có thể giải thích được.”

-“Ai đốn cây da sà vậy, tía?” Tư Kê hỏi.

-“Thiên lôi mới dám đốn cây da sà, chớ ai dám vô đó đốn. Có mấy tay lực điền không tin dị đoan, tình nguyện đem búa rìu vô đốn, đều bị trào máu họng hết!” Chín Dậu nói. “Thế rồi một đêm, trời mưa giông thiệt lớn, sấm sét nổi dậy đùng đùng, một lằn sét dài sáng rực từ trên trời giáng xuống cây da sà, một tiếng nổ kinh thiên động địa liền làm rung chuyển hai bên bờ rạch Sở Hạ. Sáng hôm sau, người ta thấy cây da sà bị sét đánh tét làm đôi, nhựa cây có màu đỏ như máu. Dân trong làng mới dám đem búa rìu ra triệt hạ nó, đào xới bật gốc vì sợ nó đâm chồi sống lại.”

Bền hỏi:

-“Làm sao bác biết Tư Kê bị ma giấu ở đó mà tìm trúng phóc vậy, bác Chín?”

-“Chuyện là như vầy,” Chín Dậu nói. “Thằng Tiền và Trung chờ hoài không thấy thằng Tư Kê trở về, biết xảy ra chuyện chẳng lành, tụi nó tức tốc bơi xuồng về nhà báo động cho mọi người biết. Cả nhà mới tá hỏa, báo động cho bà con lối xóm, chống xuồng đổ xô ra Gò Khao tìm kiếm, cậu Mười Ut dẫn theo mấy con có mực. Bà con miệt vườn thiệt có lòng, họ đốt đuốc bằng lá dừa, đèn bão. Tới Gò Khao là họ nhảy xuống ruộng nước ngang lưng, dàn hàng ngang lên bờ, lùng sục khắp lùm bụi nhưng không thấy, mọi người chán nản, hồi hộp lẫn lo âu. Bất thình lình nghe tiếng cậu Mười Út mừng rỡ la lên: “Thằng Tư Kê nó ngồi trong bụi nầy đây nè tụi bây ơi!” Chỗ thằng Tư Kê bị ma giấu là chỗ đất trũng, dấu vết của gốc cây da sà bị bứng gốc hồi xưa kia. Tụi bây thấy có ghê không?”

Bền thắc mắc, hỏi:

-“Cậu Mười Út vẽ bùa gì làm cho Tư Kệ ói hết đất sét trong miệng của nó ra vậy, bác Chín?”

-“Nói ra, sợ tụi bây cũng không tin,” Chín Dậu nói. “Bùa hốc xương!”

Tư Kê hỏi:

-“Ai dạy cậu Mười Út lá bùa độc chiêu nầy vậy, tía?”

Chín Kê nói:

-“Sự phụ của cậu Mười Út, em họ của má mầy, là con “chim gõ kiến” đó!”

Bền nghe Chín Dậu nói, ôm bụng cười bò lăn, nói:

-“Chuyện hi hữu à nghen, bác Chín! Lần đầu tiên con chim gõ kiến biết vẽ bùa đó!”

-“Tao biết, nói ra tụi bây cũng không tin. Nhưng, sự thiệt là nó như vậy!” Chín Dậu mới kể. “Hồi còn trẻ, cậu Mười Út nghe người ta nói là chim gõ kiến có bùa. Cậu không tin, nhưng quyết chí phải tìm ra sự thiệt. Cậu Mười Út kiên nhẫn lặn lội từ khu vườn nầy tới khu vườn khác, hễ cứ tiếng chim gõ vào bộng cây nào là cậu đi tới. Cuối cùng, cậu tìm thấy cái ổ của một con chim gõ kiến, khoét trong một cái bộng cây dừa cao nghều nghệu. Chờ lúc cho con chim gõ kiến rời tổ, bay đi kiếm mồi. Cậu bèn leo lên cây dừa, dùng một khúc gỗ bịt kín miệng ổ lại rồi tuột xuống đất, kiếm một bụi rậm nào gần đó, ngồi rình. Quả thiệt như vậy, khi con chim gõ kiến bay về, nó thấy cái ổ bị đóng kín cửa, liền bay sà xuống đất, dùng chưn vẽ bùa dưới gốc cây dừa, xong là nó xóa liền lập tức, chính mắt cậu Mười Út thấy khúc gỗ trên thân cây dừa văng bắn ra ngoài, rơi xuống đất.”

Bền hỏi:

-“Bây giờ thì con tin! Nhưng, làm sao câu Mười Út lấy được lá bùa của con chim gõ kiến chớ?”

-“Ngày hôm sau cậu trở lại cũng làm y như vậy, rồi dùng đất sét nhão, đấp chung quanh gốc cây dừa. Chờ cho con chim gõ kiến dùng chưn vẽ bùa trên lớp đất sét nhão vừa xong, nó chưa kịp xóa là cậu từ trong bụi nhào ra, đuổi nó bay đi. Chờ cho lớp đất vừa khô, cậu cắt lấy miếng đất sét có lá bùa chim gõ kiến đem về nhà nghiên cứu thành công. Từ đó về sau, cậu Mười Út dùng lá bùa nầy cứu rất nhiều người bị hóc xương gà, xương cá….” Chín Dậu kể tiếp. “Liên tiếp mấy ngày sau đó, thằng Tư Kê ngơ ngơ, ngẫn ngẫn như người mất hồn, nói năng lảm nhảm, tâm trí đờ đẫn, càng ngày càng mê muội, rõ ràng nó mắc bịnh tà ma. Nó làm những chuyện kỳ dị mà người bình thường không làm được như nó, nhứt là vào ban đêm nó vặn vẹo tay chưn nhiều kiểu rất khác thường, nói chuyện thì thầm với một ai đó trong lúc ngủ mê. Cậu Mười Út thấy vậy, mới đeo vào cổ nó một cái nanh heo rừng, có khắc tượng Phật hai mặt do một người Miên tặng, để đền ơn cậu Mười Út đã cứu cháu của ông ta bị hóc xương gà tưởng chết. Thiệt là linh nghiệm, ngay ngày hôm sau, Tư Kê trở lại con người bình thường, ma quỷ lánh xa nó. Sau khi cậu Mười Út qua đời, bùa chim gõ kiến trị “hóc xương” cũng thất truyền!”

Chín Dậu nói:

-“Thôi, tao đi lên trên nhà anh Tư Long nghen, kẻo các anh em chờ tao trên đó! Tụi con ngủ ngon!”

Thấy Tư Kê ngáp dài muốn trẹo xương hàm, Bền nói:

-“Để tao dọn dẹp chén đũa ra đằng sau lái, mai rửa. Mầy lo giăng mùng ngủ sớm, khuya còn đi tuần tiểu với tao nữa đó!”

Quá nữa đêm về sáng. Chiếc ghe cà dom uể oải lắc lư vì con rạch Long Khốt cựa mình bởi những cơn sóng dạt và những cơn gió thổi ào ạt, lay xào xạt từng tàu lá chuối, tàu dừa xác xơ. Bỗng tiếng sấm động lưng trời làm Bền thức giấc. Bền chống cái phên cửa lên, gió thổi tạt vào trong khoang ghe lạnh ngắt làm Tư Kê nằm cuộn tròn trong cái mền, co ro ở một góc khoang. Những tia chớp vẽ những ngoằn ngoèo sáng rực trên bầu đen sẫm và rồi cơn mưa đầu mùa tuôn nước mưa xối xả, những giọt mưa nặng hột, rơi rào rào trên mui ghe như có ai đó ném những hòn sỏi lên đó. Bền lay Tư Kê thức dậy, nói:

-“Dậy đi Tư Kê, mưa đầu mùa mau tạnh lắm, chuẩn bị đi tuần với tao!”

Tư Kê lấy tay dụi mắt, nói láp dáp:

-“Mưa thiệt rồi sao, anh Bền?”

-“Mưa thiệt chớ sao không thiệt!”

Tư Kê gãi đầu, gãi tai, nói:

-“Như vậy, ngày mai tui phải đi dỡ chà dưới mé rạch, đãi bác Tư Long một chầu cá nướng rồi!”

-“Chuyện nhỏ, tao phụ với mầy đi dỡ chà,” nai nịt thanh đoản kiếm trên lưng vừa xong, cơn mưa rào cũng tạnh dần, chỉ còn bay lất phất, Bền hối. “Dậy đi rửa mặt lẹ lên, rồi xuống xuồng đi tuần với tao.”

Cả hai anh em băng mình qua căn nhà sàn của Tư Long, xuống một chiếc xuồng ba lá, âm thầm bơi về hướng cái lạch nước, rồi bơi rẽ vô. Tư Kê hì hục chống xuồng, lướt ào ào trong đêm tối. Bền ngồi trước mũi xuồng quan sát, nghe ngóng động tỉnh. Bỗng Bền khoát tay ra hiệu cho Tư Kê dừng tay lại. Tư Kê ngạc nhiên, hỏi:

-“Chuyện gì vậy, anh Bền!”

-“Hình như có tiếng người lội băng cánh đồng, hướng về phía tụi mình thì phải?”

Tư Kê bỏ cây sào xuống, rồi lắng tai nghe, rồi mặt biến sắc, ú ớ nói:

-“Đúng rồi, có tiếng chưn người lội băng đồng, nhiều người lắm chớ không phải một, hai người đâu! Làm sao bây giờ đây anh Bền?”

Bền bình tỉnh, nói:

-“Mầy chống xuồng về nhà ngay bây giờ, càng nhanh càng tốt! Báo cho bác Tư Long và chú Sáu Trí biết là Thạch Sum và bộ hạ đang trên đường tiến về kinh Cái Cơ. Yêu cầu khẩn cấp báo động cho toàn thể dân làng biết để chuẩn bị nghinh chiến.”

-“Còn anh thì sao?” Tư Kê hỏi.

-“Đừng có lo cho tao!” Bền giục. “Thôi, chống xuồng trở về lẹ đi, tao tự lo liệu được mà.”

-“Thôi được, anh ráng bảo trọng nghe! Tui đi đây!”

Tư Kê dùng hết sức lực, chống xuồng lướt ào ào trên cái lạch nước, hướng về kinh Cái Cơ nhanh như gió cuốn. Xuồng vừa tấp vào căn nhà sàn, Tư Kê vội vã phóng lên nhà trên, gặp ngay Tư Long và Sáu Trí vừa thở hào hễn, vừa nói:

-“Thạch Sum và đồng bọn đang trên đường tiến về đây, định làm cỏ làng mình.”

-“Chúng có bao nhiêu người?” Sáu Trí hỏi. “Còn thằng Bền đâu?”

-“Dạ, con không biết chính xác, nhưng chắc đông lắm. Còn anh Bền ở lại đánh chận đầu chúng nó.”

Tư Long nghe nói, liền xô ghế đứng dậy, ra ngoài sàn nước lấy dùi, đánh vào cái mõ bằng gỗ treo tòn ten dưới mái nhà. Do sáng kiến của Sáu Trí, toàn vùng kinh Cái Cơ tổ chức được mạn lưới phòng thủ làng mạc bằng tiếng mõ báo động khẩn cấp, chống giặc cướp từ bên kia biên giới tràn sang. Sau hồi mõ của Tư Long gióng lên, được dân làng đáp ứng ngay lập tức, cả xóm rồi cả làng khua mõ dậy trời, các anh lực điền nghe tiếng mõ đều chạy ra vị trí chiến đấu chờ bọn cướp…còn cậu Hai Bảnh, Mười Dân cầm súng mousqueton chạy ra ụ đất trên bờ kinh, đạn đã lên nòng chờ đợi bọn cướp xuất hiện…

—> Chương 16

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , , . Bookmark the permalink.