TÂM TÌNH CỦA MỘT THẾ HỆ (MX Nguyễn Minh Châu)

Tâm Tình Của Một Thế Hệ
(Trích Hồi ký: Cuộc Đời Đổi Thay )

Chiến hữu Nguyễn Minh Châu

Chiến hữu Nguyễn Minh Châu

“ Kiếp sống là một chuỗi dài sầu tủi.
Vui là bao chỉ luống những ưu phiền “

Vài lời mở đầu :

Những người được sanh ra trong thập niên 30 và 40 dưới thời Pháp thuộc đều bị ảnh hưởng của ba cuộc chiến.

Trong những năm gần kết thúc đệ nhị Thế chiến, quân Nhựt Bản đã mang quân qua chiếm đóng toàn cõi Đông Dương Việt, Miên và Lào. Quân đội Đồng Minh dùng Không lực dội bom vào các căn cứ quân sự của Nhựt đã gây nhiều thiệt hại cho dân chúng và đồng bào Việt Nam phải sống trong sự nguy hiểm, lo âu. Những trận không chến hãi hùng giữa đôi bên làm cho dân chúng rất khiếp sợ. Quân Nhựt làm kinh tế nước nhà bị băng hoại gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm hàng triệu đồng bào ruột thịt miền Bằc đã chết thảm thương vì đói.

Rồi sau khi quân Nhựt đầu hàng năm 1945, bọn Cộng sản Hồ Chí Minh và bè lũ lợi dụng thời cơ cướp cướp chánh quyền. Quân đội Anh giúp quân Pháp trở lại Việt Nam và trận giặc Việt Minh lại bắt đầu kéo dài đến khi Hiệp định Génève được ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 chia cắt quê hương Việt Nam ra hai miền theo vĩ tuyến 17, lấy cầu Hiền Lương làm ranh giới Nam Bắc, miền Nam tự do, miền Bắc Cộng sản độc tài. Trên một triệu đồng bào miền Bắc Vĩ tuyến phải rời bỏ nơi chôn nhao cắt rún, bỏ ruộng vườn , tài sản và người thân để chạy trốn loài quỷ đỏ.

Kế đến là chiến tranh chống giặc Cộng sản miền Bắc, càng ngày càng khóc liệt. Kết cuộc đưa đến thảm trạng ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì một Đồng minh mà thế giới cho là một thành trì chống Cộng vững mạnh đã bỏ rơi một Quân đội miền Nam can cường phải chống đỡ sự đè ép của cả một khối Cộng sản Quốc tế. Hàng triệu chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị thương vong trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn nầy.

Hậu quả sau khi miền Nam sụp đổ là hàng triệu quân, cán, chính của chánh quyền miền Nam bị tập trung vào các trại tù lao động khổ sai mà bọn Cộng sản gọi là đi cải tạo. Người dân bị đánh tư sản để bọn Việt cộng vơ vét tài sản của họ. Hàng triệu người không sống nổi dưới chế độ do bọn đầu xỏ Cộng sản ngu dốt cai trị phải trốn quê hương đi tìm vùng đất mới. Đồng bào ta đã đánh liều mạng sống để đổi lấy hai chữ Tự do, nhưng họ cũng đã mất mác quá nhiều. Hằng vạn người không bao giờ thấy được hai chữ Tự do vì họ đã phải bỏ mình dưới biển sâu hoặc giữa rừng thiêng nước độc.

Tôi nghĩ rằng những vết thương lòng nầy rất khó được phai nhoà và dân tộc Việt Nam , nhứt là những cựu chiến sĩ của QLVNCH vẫn còn đang thở than và rên siết như một thương binh bị bỏ quên mà vết thương hiện còn đang rỉ máu.

Xã hội thời Pháp thuộc.

Sự nghèo đói và xã hội bất công hồi thời Pháp thuộc là động cơ thúc đẩy học sinh nghèo dễ nghe lời tuyên truyền của bọn Việt Minh. Sau khi quân Nhựt đầu hàng năm 1945 tôi được 12 tuổi. Hồ Chí Minh và đồng bọn nắm thời cơ cướp chánh quyền. Quân đội Anh giúp quân Pháp trở lại Việt Nam. Lực lượng Cộng sản rút hết vào bưng biền bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhà tôi ở ngoại ô tỉnh Trà Vinh vùng mất an ninh, đêm đêm bọn du kích Việt Minh thường di chuyển sột sạt bên hè nhà. Đồn của lính Maroc đóng cách làng tôi ở khoảng gần một cây số. Lâu lâu chúng thấy điều gì nghi ngờ thì dùng trung liên bắn xối xả vào làng cho nên nhà nào cũng có hầm ẩn núp, cuộc sống hết sức là nguy hiểm. Người dân đa số rất nghèo vì sau đệ nhị thế chiến nền kinh tế khó khăn, những nhu cầu như gạo, đường, sữa, bột mì, vải, dầu hỏa vv… thỉnh thoảng được chánh phủ cấp phiếu để bán rẻ cho dân nghèo, nhưng các con buôn tiêu lòn bán cho dân giàu với giá cao hơn. Dân nghèo thì nghèo thêm vì sống với vật giá đắc đỏ.

Lúc mẹ tôi còn sống có mua vài mẫu ruộng xa tận trong bưng, lúc nầy tình hình mất an ninh chẳng ai dám vào thu lúa. Năm 1946, lợi dụng hoàn cảnh túng thiếu của cha tôi, một tên cán bộ Việt Minh trước là tá điền tên Đẩu đến móc nối cha tôi tiếp tế lương thực và thuốc men cho chúng, hắn hứa sẽ thâu tiền lúa ruộng cho cha tôi. Nếu từ chối thì sợ chúng buộc tôi cha tôi là Việt gian vì tên Đẩu biết lúc trước cha tôi có làm việc cho Tây, bằng không thì phải dọn nhà ra tỉnh lỵ mà ở. Nhưng ra tỉnh nhà đâu ở và làm gì để sinh sống. Cha tôi đành phải nhận công tác nầy vì ít nhứt cũng có thêm được chút ít tiền để sống qua ngày. Lúc nầy tôi được 13 tuổi, bọn Việt Minh tuyên truyền chính nghĩa của chúng là giành độc lập cho nước nhà, cứu đói dân nghèo và sẽ không còn bất công xã hội. Có một số bạn học lớp tôi đã theo bọn chúng vào bưng biền. Những lời tuyên truyền nầy lần hồi thấm nhuần vào tư tưởng tôi và tôi không ngại hiểm nguy lãnh trách nhiệm cha tôi giao phó.

Nền Giáo Dục Thời Pháp Thuộc.

Nền giáo dục thời ấy quá khắc khe, một số ít thầy giáo rất gắt gỏng, học sinh nghèo ít được thầy cô giúp đỡ bằng học sinh con nhà giàu có, hoặc cha mẹ có địa vị trong chánh quyền thời Pháp. Lúc thời đó học mỗi ngày 2 buổi, giờ nghỉ trưa từ 11:30 đến 2 giờ chiều. Sống với bà kế mẫu, gia đình nghèo nên 3 anh em chúng tôi phải vừa làm bài ở trường vừa làm việc nhà như cưa cây, chẻ củi, đào ao nuôi gà vịt, cho gia súc ăn để sống qua ngày. Không lúc nào chúng tôi có thì giờ nghỉ ngơi hoặc tắm rửa trước khi trở lại trường học buổi chiều. Tôi học lớp Nhứt ở trường Tiểu học Trà Vinh, một hôm thầy giáo gọi tôi lên trên bục trả bài. Ông ngửi mùi hôi hám do mồ hôi nhễ nhại thắm với bụi đường vì đi học xa giữa nắng hè. Ông đưa tay véo trái tai tôi kéo thật mạnh làm tôi xiểng niểng và đau điếng rơm rớm nước mắt, nhưng ông cũng chưa tha còn sỉ nhục tôi: “mấy ngày rồi mầy không tắm rửa, mầy hôi quá mặt mầy vằn vện trông giống như mặt ‘Uất Trì’ ” . (Ý nói Uất Trì Cung, một nhân vật trong Thuyết Đường.) Cả lớp cười ồ lên làm tôi nhục nhã, lòng căm hờn sôi sục nhưng chẳng dám trách than! Tôi liền nghĩ ra ý tưởng của tuổi trẻ là chắc tôi phải bỏ học để theo lực lượng Việt Minh chống lại chế độ ngược đãi dân nghèo như thế nầy. Nhưng tôi cố gắng chịu đựng để lấy bằng tiểu học xong để thi vào trung học cho có một ít học vấn vì tôi mới được 14 tuổi, nhưng sánh với tuổi học thì tôi đã quá tuổi của cấp lớp. May mắn tôi đã đậu kỳ thi tuyển vào Petrus Ký và lên Saigon học. Sau cha tôi thấy việc làm nầy nguy hiểm quá và bịnh lao nặng phải cần lên Saigon chữa trị. Từ đấy gia đình tôi không còn liên lạc với bọn Việt Minh nữa và cuộc đời tuổi ấu thơ bắt đầu thay đổi từ đây.

Tôi nghĩ rằng có rất nhiều người sanh ra hồi thập niên 30 sống trong kiếp nghèo thường bị ảnh hưởng tinh thần có thể gọi là áp lực bởi ba nơi. Ở nhà thì bị áp lực của gia đình với sự giáo dục quá khắc khe của thời bấy giờ. Kinh nghiệm bản thân tôi, gia đình nghèo vì mẹ mất sớm lại sống với mẹ kế, cha lại bị binh lao nặng nên rất gắt gỏng hay đánh đập chúng tôi, chúng tôi sợ cha lắm và dường như thiếu sự trìu mến của cha trong khi mất tình mẹ. Vào trường thì gặp ông thầy cũng gắt gỏng cọc cằn đánh học trò tàn bạo, vào lớp thầy gọi lên trả bài là mặt mài tái mét. Ngoài xã hội thì bị khinh khi vì nghèo, bà con xa lánh.

Đa số thanh niên của thế hệ chúng ta đều trưởng thành từ quân đội.

Tôi đã ra trung học năm 1953 trong lúc chiến trường đang gay go ở Điện Biên Phủ, những học sinh nghèo không có khả năng để lên đại học. Lúc ấy tôi chưa nghĩ đến vấn đề tòng quân, thời đó tôi chẳng biết gì là chủ nghĩa Cộng sản và Quốc gia vì ở trường chỉ có chương trình học mà thôi. Lúc ấy vấn đề tuyên truyền chống chủ nghĩa Cộng sản không được phổ biến rộng rãi nơi học đường cũng như ngoài quần chúng, sau nầy tôi nhận xét đây là vấn đề thiếu sót rất trầm trọng.

Trong khi đầu óc đang quanh quẩn vấn đề tìm nghề học để có cuộc sống tự túc vì đang sống với người chị. Tháng Tư năm 1954, tôi nhận được lệnh trình diện nhập ngũ tại Đệ nhứt Quân khu để học khóa 5 tại trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trong lòng vừa lo nhưng vừa mừng là mình sẽ không phải lo lắng cho vấn đề mưu sinh nữa. Rồi đây tôi sẽ như các bạn học cùng lớp đã tình nguyện vào quân ngũ trước tôi đã ra trường khóa 9 hoặc khóa 10 Võ Bị Đà Lạt. Tôi sẽ là một sĩ quan mang cấp bậc Thiếu úy với một gạch vàng chói trên đôi vai, lúc ấy người dân hay gọi là Quan Một. Tôi sẽ có được một cuộc sống thoải mái với tiền lương của sĩ quan Quân đội Quốc gia Việt Nam, tôi sẽ không còn là một học sinh nghèo nữa. Nhưng rồi đây cuộc sống của mình sẽ ra sao? Chắc chắn là sẽ gian nan nguy hiểm nơi chiến trường không biết sống chết ngày nào. Sự nghĩ ngợi nầy làm tôi nhớ đến một anh cùng xóm lớn tuổi hơn tôi. Vào năm 1951, anh ấy đã mang hai gạch vàng trên vai, bị tử trận tại miên Tây. Sự việc nầy làm cho tôi cảm thấy lo sợ, thôi phó mặc cho số mạng. Nhưng trước mắt tôi sắp có được một cái nghề để sinh sống.

Những kỷ niệm của đời sinh viên sĩ quan.

Quân phục của quân đội Pháp. Tôi không bao giờ quên bộ đồ treillis của quân đội Pháp vải thật dầy cộm để tập trận, thường hay có những con rận nằm trong đáy quần cắn da ngứa ngáy rất khó chịu làm nổi ghẻ lác; thỉnh thoảng có sự gây gổ giữa 2 người, kẻ nằm giường từng trên và người nằm từng dưới khó tánh nổi quạu, vì anh ở trên bị rận cắn gãi háng sột sạt làm cái giường cứ lắc lư hoài anh ở dưới không ngủ được. Khổ nỗi là khi trình diện sĩ quan cán bộ phải đứng nghiêm, mà lúc đó những con rận bò cắn vào da ngứa quá cũng phải rán chịu không dám nhúc nhích. Tôi cũng không quên đôi giầy bottes de saut da sần sùi rất cứng đế có gai, mới mang là bị phòng chân, đau nhói hai gót chân trên mỗi bước đi, nhưng cũng cố nghiến răng chịu đau và đi đều bước cho có vẻ oai vệ với bộ đồ nhà binh mới toanh.

Lần đầu tiên trong đời mặc bộ quân phục tuy rộng phùng phình và rất nặng nề, nhưng tôi cũng như các bạn lính mới tò te khác nhìn vào tấm gương thấy mình có dáng oai hùng khoái chí lắm. Tôi nghhĩ rằng cô nữ sinh Gia Long mà tôi thầm để ý sẽ thấy cái vẻ oai phong của viên sĩ quan tương lai với một gạch vàng sáng chói tren đôi vai. ( Galon của thời Pháp lúc bấy giờ ). Lúc ấy tôi nghĩ rằng chắc mấy bạn kia cũng cùng một cảm giác bồi hồi và xúc động như tôi vì sự thay đổi cuộc đời từ một học sinh giờ đây trở thành một người lính sống trong khuôn khổ kỷ luật, vì ở trường Thủ Đức có nửa ngày mà tôi đã thấy cái kỷ luật cứng như thép của nhà binh rồi. Mỗi lần sĩ quan cán bộ đi ngang qua hoặc dừng lại, một khóa sinh đại diện đứng nghiêm chỉnh hô “Fixe”. Sau này cơ bản thao diễn gọi là “phắc”, tất cả brigade đều nhanh nhẹn đứng nghiêm phăng phắc, tôi thấy ông Thiếu úy nầy thật là oai vệ.

Buổi chiều chúng tôi được một Thiếu úy dẫn đến một lớp học trình diện ông Đại úy người Pháp, ông nầy cho phép chúng tôi ngồi xuống xong ông tự giới thiệu ông là Đại úy tên …”(tôi không còn nhớ) đặc trách về Chiến Tranh Tâm Lý, lúc ấy gọi là Guerre Psychologique. Viên Đại úy mở lời đón chào chúng tôi và nói: “Tôi rất hãnh diện và hy vọng rằng các anh sẽ là những sĩ quan ưu tú của Quân Đôi Quốc Gia Việt Nam”.

Ông vào đề ngay giải thích về chủ nghĩa Cộng sản và chế độ Quốc gia tự do là thế nào. Tôi không bao giờ quên câu ông nói rằng: “Lối chào của Cộng sản và của người Quốc gia bộc lộ tâm ý khác nhau của mỗi cách: bọn Cộng Sản chào với bàn tay nắm lại biểu lộ sự giấu giếm bí ẩn, người Quốc Gia chúng ta chào với bàn tay mở rộng chứng tỏ con người của chúng ta thẳng thắn không hiểm độc. Các anh nhớ lại lịch sử đã cho thấy sau khi CS lật đổ chế độ Nga Hoàng, chúng cho rằng đường lối của Cộng Sản là công bằng xã hội. Nhưng ngược lại người dân phải sống lầm than khổ sở mất cả tự do dân chủ. Mấy anh là những người sẽ chỉ huy binh lính đánh bọn Việt Minh để bảo vệ nước Việt Nam của mấy anh sống trong tự do no ấm.” Từ đây tôi bắt đầu suy nghĩ: À thì ra chúng ta cần phải có một quân đội hùng mạnh để bảo vệ cuộc sống ấm no hạnh phúc cho người dân, như vậy mình có được một cái nghề rất là vinh hạnh: một Chiến Sĩ bảo vệ đất nước Việt Nam khỏi ách độc tài Cộng Sản.

Món ăn cá tra làm chuẩn.

Cá tra là loại cá rất rẻ tiền mà ở Mỹ cấm không cho nhập cảng từ Việt Nam vì không hạp vệ sinh. Nhà thầu cho ăn cá tra kho và canh chua cá tra gần như hằng ngày. Loại cá này hôi lắm, những sinh viên có tiền thì lên câu lạc bộ, còn đám nghèo chúng tôi cũng phải ráng ăn để lấy sức tập. Nhưng một hai tuần sau mình cũng quen cái mùi khó chịu ấy đi và ăn cũng ngon lành lắm vì sau khi tập trận về đói quá !

Nét đẹp thiên nhiên của núi rừng Đà Lạt.

Trước khi mãn khóa học, 2 đai đội bộ binh và 1 đại đội vũ khí nặng được thực tập chiến thuật ở vùng rừng núi gần thị trấn Dran Đà Lạt, khóa nầy không được ra Đồ Sơn Bắc Việt như các khóa đàn anh. Đây cũng là dịp chúng tôi được biết cảnh đẹp thiên nhiên của núi rừng Đà Lạt khí hậu mát mẻ, mấy anh chàng sinh viên sĩ quan trẻ rất phấn khởi vì nghe nói ở Đà Lạt các cô gái rất xinh má đỏ môi hồng. Nhưng những sinh viên nghèo đâu có tiền ra phố Đà Lạt để du ngoạn cảnh thơ mộng và được nhìn những thiếu nữ duyên dáng mỹ miều, nhưng cũng được thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên của núi rừng rất đẹp và thơ mộng.

Một buổi trưa nọ, tổ chúng tôi ba đứa trách nhiệm phiên gác ven lộ đất đỏ cách các lều trại thực tập một cây số, đây là vùng rừng núi hẻo lánh. Bỗng xa xa có một phụ nữ mang gùi sau lưng từ từ đi tới, chúng tôi nghĩ chắc là đồng bào Thượng. Đến khi người ấy đến gần chúng tôi nhận ra là một cô gái Thượng khoảng 16, mặc xà-rong bằng vải thô, phần ngực trông rất đầy đặn không có một miếng vải che. Tôi và anh bạn sinh viên tên Cảnh nhìn chầm chập ngớ ngẩn vì từ nhỏ tới giờ chưa từng thấy cái nầy, chỉ thấy trên hình vẽ của các họa sĩ vẽ chân dung mà thôi có thấy thật bao giờ đâu, lúc đó nó và tôi chưa đầy 21 tuổi còn độc thân. Nhưng cô ấy vẫn thản nhiên mỉm cười và nói mấy câu gì chúng tôi không hiểu, có lẽ là cô chào hỏi chúng tôi. Anh Kim Châm, người Việt gốc Miên đã có vợ ba con là Trung sĩ được đơn vị cho học khóa sĩ quan, trước có đóng quân ở Lâm Đồng nên rất rành lối ăn mặc của người Thượng. Anh cười nói rằng: “ Bộ tụi mầy lạ lắm hả? với họ tốt thì khoe, xấu thì che”, tao đố tụi mầy thấy được một bà già thượng nào không bận áo nơi xứ nầy?”.

Ra trường về đơn vị.

Chúng tôi mãn khóa học đầu năm 1955 sau Hiệp định Genève được ký vào giữa năm 1954, đất nước bị chia đôi từ vĩ tuyến 17, miền Bắc là Cộng sản, miền nam Tự do. Các tân sĩ quan được bổ nhiệm ra các đơn vị chiến đấu hoặc văn phòng hay về Trung Tâm Huấn Luyện. Tôi được sự vụ lệnh về Trung Tâm Huấn Luyện Quán Tre nơi huấn luyện tân binh, nhưng không làm huấn luyện viên, được làm đại đội phó ĐĐ-1 của Tiểu đoàn Sắt đặc trách an ninh toàn khu vực. Tiểu Đoàn nầy gồm có các hạ sĩ quan và binh sĩ của các đơn vị Commandos của Pháp di tản vô Nam. Sau đó vài tháng đơn vị của tôi được lệnh hành quân tảo trừ lực lượng Bình Xuyên tại cầu chữ Y Chợ Lớn, cầu Tân Thuận, Khánh Hội và ở núi Thị Vải giữa Long Thành và Bà Rịa. Mới ra sĩ quan còn quá trẻ, mấy ông Thượng sĩ già chê các sĩ quan mới ra trường là Thiếu úy sữa. Lần đầu tiên trong đời lính đụng trận tại cầu chữ Y rất hồi hộp và sợ hãi vì thấy lính bị thương máu me lênh láng, người kêu trời kẻ rên siết. Lúc nầy tôi mới bắt đầu thấy cái chết rất dễ dàng làm tinh thần tôi giao động mạnh. Tôi bi thương rất nhẹ do mảnh súng cối 60 ly ở mang tai phải.

Du học tại Fort Benning Hoa Kỳ.

Tháng 4 năm 1956 có khoảng 100 sĩ quan được Quân đội cho đi du học khóa thứ nhì tại Fort Benning Hoa Kỳ. Lúc nầy ít có ai biết tiếng Anh, có cựu Trung úy Mã Sanh Nhơn và vài sĩ quan phụ trách thông dịch.

Toán chúng tôi khoảng vài chục người đi bằng hàng không dân sự Pan Of America Airlines đến Phillipines rồi bay tiếp nghỉ 2 đêm tại Hawaii. Lần đầu tiên trong đời được đi du lịch, máy bay hạ cánh xuống phi trường nằm cạnh bờ biển của thành phố Honululu, Hawaii. Cảnh thật là đẹp, khí hậu mát mẻ, biển rất xanh với hàng dừa tươi mát trên bờ cát trắng ngà. Vừa xuống khỏi phi cơ một sĩ quan Mỹ đã đứng sẵn ở cầu thang đón chào chúng tôi với cung cách rất lịch sự với sĩ quan đồng minh Việt Nam, mỗi câu nói là Yes Sir.

Ông đưa chúng tôi về khách sạn Waikiki sang trọng làm mình hơi khớp, vì trong đời chưa bao giờ bước chân vào chỗ sang trọng như thế nầỵ Chúng tôi tha hồ du ngoạn cảnh thần tiên thơ mộng, xem các thiếu nữ Hạ Uy Di với nụ cười duyên dáng mặc củn lá dừa múa hát dịu dàng theo nhạc điệu dương cầm Hạ Uy Dị Lúc ấy Hawaii còn rất vắng vẻ thanh bình không ồn ào náo nhiệt như bây giờ.

Đến San Francisco toán chúng tôi di chuyển bằng xe lửa đến tiểu bang Georgia là nơi của căn cứ Fort Benning. Những ngày trên tàu hỏa vấn đề ăn uống thật là phiền phức vì trong toán chẳng có ai biết tiếng Anh để gọi thức ăn. Mỗi lần đến toa nhà hàng 4 thằng bạn ngồi chung bàn cứ nhìn quanh quẩn thấy bàn nào có mấy món ăn có vẻ hấp dẫn thì chỉ ông bồi bàn “same same here”, ông bồi mỉm cười và mang ra y chang các món ăn giống bàn đó, nếu may gặp món ăn được còn không hạp khẩu cũng ráng nuốt cho qua cơn đói.

Tôi xin kể ra vài sự việc khôi hài khó quên trong thời gian huấn luyện ở Fort Benning. Dân Việt Nam mình quen ăn cơm độn, thường mỗi buổi cơm phải xơi ít nhứt bốn hay năm chén mới no bụng, buổi ăn tại câu lạc bộ đa số các sĩ quan trẻ Việt Nam lấy một sắp sandwiches ít nhứt 10 miếng mới đủ dằn bụng. Cho nên mấy anh sĩ quan đồng minh lúc đầu hay nhìn chúng mình với sự lạ lùng vì họ chỉ cần một hai miếng là đủ, còn dân Việt Nam nhỏ con sao lại ăn nhiều thế? Bên xứ mình lúc xưa dùng toàn loại cầu ngồi xổm, ở đây là căn trại nhà binh nên nơi tiểu tiện công cộng không được ngăn che riêng rẽ và kín đáo, vài người còn mới không quen loại cầu nầy nên đi không được, cứ ngồi đại chồm hổm trên bồn cầu đeo lủng lẳng khẩu Colt 12 làm nhiều người nhìn thấy phải bật cười.

Mặc cảm khi được về binh chủng thiện chiến/Thủy Quân Lục chiến.

Từ Đại đội Bộ binh tác chiến, sau về quân trường rồi đến Tiểu Đoàn 3/ TQLC tôi hơi khớp vì mặc cảm sợ anh em đơn vị thiện chiến chê mình là lính quân trường không biết đánh giặc, nhưng may mắn gặp ông xếp Tiểu đoàn là cố Đại tá Nguyễn Thế Lương dáng người ốm nhưng rất nhanh nhẹn và rất kỷ lưỡng trong các cuộc hành quân, là bạn cùng khóa V Thủ Đức, nên cũng đỡ bỡ ngỡ. Tôi thành thật cám ơn Ông và cựu Trung tá Nguyễn Hữu Nhơn Tiểu Đoàn Phó cho tôi học lại cách điều quân của một đơn vị thiện chiến. Hai ông nầy lúc ấy còn là Đại úy và đã có nhiều kinh nghiệm ở các cuộc hành quân bình định và hành quân tiêu diệt địch khắp miền Nam từ Cà Mau đến Bến Hải. Từ sĩ quan và hạ sĩ quan cán bộ đến binh sĩ Tiểu Đoàn 3 đều có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường chiến đấu rất gan dạ. Vị Đại Đội trưởng luôn luôn sát cánh bên tôi trong các trận mạc lúc tôi làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 là cựu Trung tá Lê Bá Bình, lúc đó là Trung úy Đại Đội Trưởng Đại Đội 2. Sau khi tôi rời Binh chủng ông ấy lên chức vụ Tiểu Đoàn Phó rồi đến Tiểu Đoàn Trưởng và được biết trong các trận đánh ở cầu Đông Hà đơn vị của ông đã tiêu diệt rất nhiều chiến xa T54 của địch.

Tôi vẫn còn nhớ và thương tiếc hai vị sĩ quan rất gần gũi tôi đã hy sinh lúc còn quá trẻ là cựu Trung úy Long, Trung đội trưởng Đại Đội 4 đã tử trận ở Ba Dừa Bến Tre năm 1964, ông bị trúng một viên đạn AK 47 ngay má trái xuyên qua ót và ngã quỵ trên người tôi, khi tôi bế ông. Trung úy Long còn trân trối nhìn tôi một cách tức tưởi; và cựu Đại úy Vũ Mạnh Hùng, Đại đội trưởng đã anh dũng hy sinh ở cầu Bình Lợi trong trận tấn công một Tiểu Đoàn Việt Cộng kỳ Mậu Thân đợt hai. Ông bị một viên đạn oan nghiệt kết liễu đời ông một cách đột ngột không một lời trăn trối.

Tôi cũng thương nhớ một số các hạ sĩ quan và binh sĩ của Tiểu Đoàn 3 chiến đấu rất gan dạ đã anh dũng hy sinh nơi trận mạc khắp bốn vùng chiến thuật. Tôi rất bùi ngùi thương tiếc Hạ sĩ nhứt Liễng sau lên Trung sĩ đã tử trận ở miền Trung. Ông là người đã theo chăm nuôi săn sóc lúc tôi nằm mê man trên giường bịnh ở quân y viện Đồn Mang Cá Huế, không có một người thân bên cạnh vì lúc ấy vợ tôi sắp gần ngày sanh cháu gái út kông thể bay ra thăm tôi được.

Có phải Đức Tin thắng Số?

Sợi dây thẻ bài và cái túi vải lúc nào cũng được đeo vào người tôi, trong túi có tượng Đức Mẹ Maria của chị tôi thỉnh nơi nhà thờ Fatima, tượng Phật do vợ tôi thỉnh ở chùa và một nanh heo rừng rất quí của Thượng sĩ Dương Khuol tặng tôi. Thượng sĩ Khuol sau lên Trung úy, chiến đấu rất gan dạ, ông đã đụng nhiều trận sanh tử mà chưa bao giờ bị thương. Điều nầy làm cho tôi có sự tự tin nên tôi xem túi vải nầy như vật bất ly thân.

Tôi thường nghe nói khi một người gần chết sẽ cảm thấy lạnh từ đôi chân lên tới trên rồi sẽ đi. Tôi nói thầm : Em và các con ơi ! chắc anh chết mất .

Vì bị thương quá nặng máu ra lênh láng đôi chân tôi bắt đầu lạnh, trong khi Bác Sĩ Chẩn đang băng bó tôi chợt nhớ sợi dây thẻ bài để đầu nằm, liền nhờ ông lấy mang vào người tôi và cùng lúc ấy tôi cầu nguyện mẹ tôi cứu độ tôi qua cơn nguy biến.

Sau khi dây thẻ bài được mang vào người và với vài câu khấn vái tự nhiên tôi thấy toàn thân ấm trở lại. Có phải những điều nầy giúp tôi có đức tin vượt qua cơn khó khăn chăng?

Tôi xin cám ơn Bác Sĩ Chẩn đã cứu sống tôi, tôi nghe nói anh đã qua Mỹ rồi mà tôi tìm mãi đến nay vẫn chưa được tin tức gì về anh. Nếu anh có đọc được bài viết nầy xin cho biết tin tức về anh và gia đình. Tôi rất mong tin anh.

Những bước chân Thủy Quân Lục Chiến trên khắp các nẻo đường quê hương.

Quê hương Việt Nam nghèo nhưng cảnh rất đẹp. Là đơn vị tổng trừ bị nên TQLC hành quân khắp bốn vùng chiến thuật, ở đâu có chủ lực quân địch xuất hiện là TQLC sẽ tới đó để tiêu diệt. Mặc dù đời lính chiến rất nhọc nhằn vất vả đầy hiểm nguy nhưng chúng tôi được dịp đi qua nhiều vùng và được nhìn thấy nhiều cảnh rất đẹp của quê hương, phải viết cả một quyển sách mới có thể tả hết được, đây tôi chỉ nói qua những địa danh đặc biệt đã in dấu chân của TQLC/VN.

Miền Nam có nhiều ruộng đồng và vườn cây ăn trái xanh bát ngát, có nhiều sông ngòi, đặc biệt dòng Cửu Long giang nước chảy mênh mông. Di chuyển trên tàu đổ bộ hành quân trở về từ vùng hẻo lánh của tỉnh lỵ Mỹ Tho và Bến Tre, ngắm nhìn từ những mái nhà tranh nằm san sát dưới những hàng dừa cao dọc theo những con sông nhỏ tỏa những cụm khói xám bay nhẹ nhàng trong ánh nắng chiều vàng rất đẹp; hay những buổi sáng có ghe thuyền tấp nập buôn bán nhộn nhịp trong cảnh thanh bình giả tạo, vì người dân ở đây có thấy đâu những trận đánh đẫm máu giữa đơn vị ta và địch quần thảo nhau trong vùng bưng biền hẻo lánh.

Miền Trung như Bồng Sơn có con sông Lại chảy dài bên cạnh thị trấn nho nhỏ rất dễ thương có chiếc cầu xinh xinh. Tam Quan có ngôi làng xinh xắn của dân chài lưới nằm ẩn dưới những rừng dừa cao chạy dài theo bãi cát trắng. Quảng Ngãi có sông Trà Khúc khá rộng lớn nước rất trong, với những xa nước trông rất thơ mộng, có núi Thiên Ấn vì đỉnh núi bằng phẳng ở xa nhìn giống như ấn trời. Quảng Nam có Hòn Non Nước, trong hang động có thạch nhũ, ngoài có loại đá nhiều màu sắc các nhà điêu khắc làm các thứ hình tượng bán cho du khách. Các vùng vừa kể trên có rất nhiều đồi núi nhưng ít sông ngòi và có tục danh là “non bất cao thủy bất thâm….” Mùa hè chúng ta có thể lội bộ ngang qua những con sông rộng lớn. Nơi những địa danh nầy các Tiểu Đoàn TQLC đã làm cho Sư Đoàn 3 Sao vàng Bắc Việt phải kinh sợ và biết đến danh Thủy Quân Lục Chiến VN.

Đặc biệt những vùng nầy có rất nhiều đồi sim trái ngọt dịu và hoa sim màu tím rất đẹp, nên khi đóng quân nơi đây binh sĩ có máu văn nghệ hay hát bài “Những Đồi Hoa Sim” làm anh em chiến sĩ cũng tạm quên đi nỗi nhọc nhằn, vất vả của chiến trường. Mỗi lần hành quân qua những đồi sim tôi thường hay ngắt những cánh hoa dim tím ép vào bản đồ hành quân để về tặng vợ tôi. Có khi tôi nhìn những cánh hoa sim ép khô mà nghĩ không biết những đóa hoa sim nầy có về đến tay vợ mình không? Hay là cũng trở về “trong hòm gỗ trên phủ lá quốc kỳ?” Chắc các bạn cũng có lúc có những ý nghĩ nầy.

Tôi cũng còn nhớ và tội nghiệp cho một Đại uý TQLC Mỹ OJT ( On the job of training) đã tử thương vì mảnh đạn súng 82 ly của CS trúng ngay đầu, nón sắt của ông bị bể tung và ông chết ngay bên cạnh tôi.

Mấy lần đơn vị được nghỉ quân ở Huế các bạn được dịp thưởng thức cảnh đẹp của dòng sông Hương nước chảy lờ đờ qua bến đò Vỹ Dạ, qua Thành Nội, qua cầu Trường Tiền có từng đoàn nữ sinh áo dài trắng với nón lá bài thơ dập dìu sau giờ tan học. Sông Hương còn nằm giữa 2 thắng cảnh đẹp bên kia là núi Ngự Bình, bên nây bờ sông có chùa Thiên Mụ xinh xắn và cổ kính.

Quảng Trị có sông Thạch Hãn hai bên bờ có hàng cây xanh mát. Năm 1972, cũng đã từng chứng kiến những trận đánh kinh hoàng giữa ta và địch. Trên đường ra Đông Hà Gio Linh chúng ta được dịp viếng nhà thờ La Vang điêu tàn nơi Đức Mẹ đã hiện ra. Một lần chúng tôi lái xe Jeep đến gần cầu Hiền Lương để quan sát, tôi có cảm nghĩ chiếc cầu nầy có cái tên rất là hiền hậu, nhưng nhìn qua bên kia vĩ tuyến có cái cảm giác hãi hùng của cuộc sống dưới chế độ độc tài khát máu của bọn CS. Thật là trái ngược với mỹ ý của người đặt tên cho chiếc cầu nầy.

Luyến tiếc khi phải rời Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến.

Tháng 9 năm 1966, TĐ3 thuộc chiến đoàn B/TQLC hành quân vùng Ashau, căn cứ của Sư Đoàn 10 Bắc Việt mới xâm nhập là vùng núi non hiểm trở, dưới sự chỉ huy của cựu Đại Tá Hoàng Tích Thông là cấp chỉ huy nhiều kinh nghiệm và trầm tĩnh nơi chiến trường. Tôi là Tiểu Đoàn Phó cho cựu Đại tá Nguyễn Năng Bảo, vị Tiểu Đoàn Trưởng đã có nhiều chiến công, rất hiền cười nhiều hơn nói. Sau hai tuần quần thảo với địch, Chiến đoàn chấm dứt hành quân và rút về đóng quân gần quận Cam Lộ, tôi bị thương vì đạn pháo làm liệt bán thân phải. Đây là lần thứ hai tôi bị thương ở binh chủng TQLC.

Bắt đầu từ đây, tôi không còn được hân hạnh tiếp tục chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ của đơn vị mà tôi yêu mến, đã cùng nhau chia sẻ những nỗi vui buồn, đã từng vào sanh ra tử ở khắp bốn vùng chiến thuật.

Những chiến sĩ âm thầm ngày đêm bảo vệ xã ấp:
Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Viên chức xã ấp và Cán bộ XDNT.

Sau một năm dưỡng bịnh tôi được bổ nhiệm làm Quận Trưởng Dĩ An. Về đây tôi vẫn tiếp tục chiến đấu nhưng với cuộc chiến nhỏ bé bên cạnh các chiến sĩ ĐPQ và NQ. Họ là những chiến sĩ âm thầm cùng các Viên chức xã ấp và Cán bộ XDNT, ngày đêm có nhiệm vụ bảo vệ an ninh và phát triển cuộc sống cho người dân trong thôn xóm. Họ không được trang bị đầy đủ vũ khí, quân trang, quân dụng tối tân như những chiến sĩ đàn anh thiện chiến, và cũng ít được báo chí hay truyền thanh truyền hình nhắc tới, nhưng họ cũng là những chiến sĩ rất can cường trong những trận chạm trán với lực lượng Việt Cộng địa phương và trong những cuộc hành quân triệt hạ hạ từng cơ sở của chúng.

Cuộc sống của họ rất nghèo, vất vả với đồng lương ít oi, con cái của họ ăn không no mặc không ấm nhưng họ vẫn vui vẻ hăng say làm tròn nhiệm vụ bảo vệ cuộc sống ấm no cho dân làng. Nhà của họ là những gầm cầu hay những connex trong đồn bót nơi mà họ phải canh gác ngày đêm. Mạng sống vợ con họ cũng rất nguy hiểm vì địch luôn rình rập tấn công họ bất cứ lúc nào. Tại đây tôi cũng bị thương một lần rất nặng, hiên nay viên đạn còn trong phổi. Đây là lần thứ tư tôi bị thương trong đời binh nghiệp.

Đến năm 1970, tất cả hạ từng cơ sở và lực lượng địa phương Việt Cộng đều bị tiêu diệt, dân chúng sống vui vẻ thanh bình và làm ăn phát đạt. Các sĩ quan, hạ sĩ quan , binh sĩ Địa Phương Quân và các Nghĩa Quân viên được tưởng thưởng rất nhiều Anh dũng bội tinh. Các sĩ quan và hạ sĩ quan Bộ Chỉ Huy Chi Khu đều phục vụ tích cực, Đại úy Hậu,Trưởng ban 2, rất giỏi về tình báo đã từ trần trong trại cải tạo miền Bắc. Đại úy Võ và Đại úy Liểng Trưởng Ban 3 trước và sau, cũng đã giúp tôi rất nhiều trong vấn đề thảo kế hoạch hành quân, hiện nay 2 ông đã qua Mỹ theo diện HO sau khi bị đày ở miền Bắc.

Đầu năm 1974, tôi được chuyển về quận Đức Hòa cũng chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, làm việc với vị chỉ huy cũ ở Thủy Quân Lục Chiến là cựu Đại tá Tôn Thất Soạn đã về làm Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa. Tiểu Đoàn Địa Phương Quân lập nhiều công trạng ở Quận Đức Hòa là Tiểu Đoàn 337/ĐPQ được chỉ huy bởi cựu Thiếu tá Phúc, sau nầy là Thiếu Tá Tôn Thất Trân về từ Binh chủng TQLC. Chiến đấu rất dũng cảm và lập rất nhiều chiến công, gây nhiều tổn thất nặng nề cho các Tiểu Đoàn Việt Cộng xâm nhập từ phía bên kia sông Vàm Cỏ Đông.

Giữa năm 1974, 1 Trung Đội Việt Cộng và 1 Trung đội đặc công của chúng định đánh úp 1 Đại Đội của Tiểu Đoàn 337/ ĐPQ có nhiệm vụ giữ cầu An Hạ giữa quận Đức Hòa và Bến Lức, Long An, nhưng bị thảm bại rất là năng nề, nhiều xác địch và vũ khí đã bị bọn chúng bỏ lại rải rác quanh đồn. Tôi được biết Thiếu Tá Trân và Thiếu Tá Phúc Tiểu Đoàn Trưởng tiền nhiệm sau đã về Tiểu Đoàn khác, đã tử trận vào những ngày cuối cùng. Thiếu Tá Trân đã anh hùng kháng cự bọn bộ đội Cộng Sản BV nên bị chúng giết và thủ tiêu mất xác. Tôi kính cẩn nghiêng mình chào 2 vị sĩ quan nầy, đã anh dũng bỏ mình vào giờ phút cuối cùng trước ngày Miền Nam bị thất thủ. Tôi cũng rất thương tiếc các chiến sĩ Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và viên chức từng cộng tác với tôi đã bỏ mình vì nghĩa vụ.

Một sự trả thù dã man :
bị đày từ Long Giao đến Suối Máu rồi ra Yên Bái.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tất cả là một sự đổi đời bi thảm, thành phần nòng cốt của chánh quyền miền Nam đều bị tập trung gọi là đi cải tạo. Xin ghi vài giòng thơ đơn giản nói lên lòng căm thù của các bà vợ khi chồng bị lừa vào các trại tù khổ sai.

Căm Thù

Anh thì cõi Bắc phường lao lý
Em chốn quê nhà quá khổ đau
Con thơ than thở thương ba lắm
Biết đến bao giờ mới gặp nhau
Căm lũ Cộng gian ngoa xảo trá
Gạt mọi người nhưng chẳng có ta
Mưu gian trá bây đừng có gạt
Thả mọi người đúng tháng đi qua
Hôm nay đã mấy trăng tròn lẻ
Thả đâu ra mà đã lưu đày
Cộng sản ơi! bây quân lừa đảo
Để anh hùng vào rọ thế kia
Những tưởng bây cũng người quân tử
Chứ đâu ngờ một lũ súc sanh
Trách anh sao chẳng nghe phân giải
Để hôm nay Cộng sản phỉnh lừa
Làm sao cứu anh ra chốn ấy
Để khỏi đau lòng xót dạ đây.
TN

Trước tiên bọn Cộng Sản đưa chúng tôi về Long Giao rồi Suối Máu để thanh lọc trước khi đày ra miền Bắc. Những dãy nhà chúng tôi ở đa số là cấp Trung Tá cách khu các Đại Tá khoảng 300 thước. Sự việc đầu tiên làm tôi vô cùng xúc động là thấy cựu Đại Tá Soạn, vị chỉ huy mà tôi hằng quí mến mới đây ông là một Đại Tá tỉnh trưởng Hậu Nghĩa uy nghi và đã từng là chiến đoàn trưởng Thủy Quân Lục Chiến của tôi nay thật là anh hùng lỡ vận. Nhìn thấy ông mặc bộ kaki ngắn rách lao động vác củi tôi không khỏi bùi ngùi thương cảm. Cùng chung cấp bực với ông còn có các cựu Đại tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn TQLC, niên trưởng Nguyễn Thế Lương và Nguyễn Năng Bảo là 2 vị cựu Tiểu Đoàn Trưởng của tôi trước kia, và cả niên trưởng Thông.

Những sĩ quan giữ chức vụ quan trọng bị đày ra Bắc, cấp Đại tá và Tướng lãnh đi bằng máy bay nhưng đều bị còng tay. Chúng tôi bị bọn bộ đội CS đưa xuống tàu hải quân nhốt chen chúc đến ngộp thở dưới hầm chở ra bến tàu phía Bắc vĩ tuyến 17 rồi từ đó lại bị nhét chật ních vào các toa chở hàng hóa bằng sắt trên xe lửa đến Yên Bái. Một số anh em bị chết ngạt trên đường di chuyển vì không chịu nổi sức nóng như đun của các toa sắt giữa nắng hè miền Bắc, Trung tá Nhiều trưởng phòng 4 Sư Đoàn TQLC đã uống thuốc tự sát trên tàu thủy trên đường đến Hải Phòng.

Trên đường ra Yên Bái ngồi chen chúc mấy ngày đêm trong toa sắt, các anh em thay phiên nhau đến ngồi gần song cửa nhỏ để lấy không khí thở, mặc dù khốn khổ cũng tò mò nhìn xem cảnh sống của dân miền Bắc như thế nào và cảnh vật của quê hương mình ra sao từ phía bên kia vĩ tuyến 17. Các anh quê ở miền Bắc có chỉ cho chúng tôi biết vài địa danh với cảnh đẹp nhìn thấy được lúc ban ngày. Qua đèo Ngang cảnh ngoạn mục làm tôi nhớ câu thơ “Bước đến Đèo Ngang bóng xế tà, cỏ cây chen đá lá chen hoa….”; đến Vinh chiếc tàu hỏa vượt qua chiếc cầu sắt xinh xinh giữa 2 ngọn núi xanh. Khi vào thành phố Hà Nội, đoàn tàu hỏa vượt qua cầu Long Biên bắt ngang con sông Hồng nước đỏ, rộng mênh mông trông rất hùng vĩ. Đoàn tàu hỏa dừng lại ở ga Hàng Cỏ, chúng tôi được dịp nhìn cảnh thành phố Hà Nội trông rất cổ kính nhưng cũ kỹ và dơ bẩn. Lúc ấy tôi nghĩ rằng miền Bắc cảnh cũng rất đẹp mà mấy mươi năm nay bị bọn Cộng sản cai trị thật là uổng công tạo hóa đã cho quê hương ta nhiều cảnh đẹp thiên nhiên.

Hình ảnh của những thiếu nữ tha thướt với những chiếc áo dài hoặc áo đầm không có gì là lạ với tầm mắt của mọi người trước 30/4/75. Nhưng trong lúc xe ngừng tại ga Hàng Cỏ, chúng tôi ngồi chen chúc trong toa sắt, mình trần nổi đầy ghẻ vì gần 8 ngày không tắm rửa, mồ hôi nhễ nhại thắm ướt cả quần đùi. Trong cảnh tù đày bỗng thấy một phụ nữ người da trắng mặc chiếc áo đầm sang trọng bước ngang đường sắt xe lửa, ai cũng nhào tới nhìn, lòng tôi cảm thấy tủi nhục vì mình như đang bị đày ải dưới địa ngục còn nàng da trắng kia như là một tiên nữ giáng trần, lòng càng buồn tủi và càng căm thù bọn CS mang rợ thêm nữa.

Chúng tôi đến trại tù Yên Bái tháng 6 năm 1976, đây là vùng rừng sâu nước độc trước kia bọn Cộng Sản đã từng giam giữ tù binh Pháp. Trại tù của chúng tôi là những dãy nhà tranh vách bằng tre đan do tù tự xây cất để ở, nằm trên 2 ngọn đồi thoai thoải, chung quanh núi non trùng trùng điệp điệp, cảnh rất buồn làm tâm trạng của tù càng buồn thêm, vì xa vợ con, vì bị lưu đày quá khổ sở, lao động khổ sai nhọc nhằn mà bụng thì đói triền miên. Tôi không bao giờ quên cảnh trăng rằm tháng Bảy và trời mưa đầu tiên ở Yên Bái, buồn thật buồn! Mưa tháng Bảy thường gọi là mưa Ngâu làm tôi nhớ đến chuyện huyền thoại Ngưu Lang và Chức Nữ, rồi nghĩ đến ngày về thật là thời gian dài vô tận….. Cảnh rất đẹp vào những đêm trăng sáng nhưng sao quá buồn. Dưới chân đồi của trại tù có con suối nhỏ nước chảy róc rách quanh năm, nước phản chiếu ánh trăng lốm đốm như những con cá bạc tự do lội tung tăng theo dòng suối trông thật là đẹp. Tôi nghĩ rằng vợ con tôi nơi quê nhà cũng đang ngắm ánh trăng nầy và lòng cũng buồn não nề như chúng tôi.

Ngắm Trăng Nhớ Về Yên Bái

Hôm nay tháng Bảy ngày rằm
Chim ô bắt nhịp, Chức Ngưu trùng phùng
Trên trời lấp lánh trăng sao
Như muôn ngọn nến chúc câu tao phùng
Riêng ta sao vẫn một mình
Nhìn trăng ta ngắm, nhìn sao ta buồn
Buồn cho vận nước đảo điên
Để cho lũ Cộng đọa đày thế gian
Buồn cho anh ở lao tù
Tấm thân bi đọa, cơm thì thiếu ăn
Trăng ơi trăng hởi là trăng
Xin dừng nơi đó, để ta ngắm nàng
Ngắm nàng ta cũng giải khuây…
Nhìn nàng ta cũng vơi lòng nhớ nhung
Trăng soi rọi sáng khắp nơi
Rọi dùm chốn ấy chồng ta đỡ buồn .
TN -1976

Chứng kiến cảnh đau lòng tại con suối nhỏ.

Nhưng cũng nơi suối nầy tôi đã chứng kiến một cảnh rất đau lòng là một buổi sáng trời mùa đông lạnh buốt với mưa phùn ướt át, hai Trung Tá trước phục vụ tai trường Bộ binh Thủ Đức (xin tạm giấu tên), gánh một thúng phân để tưới rau trên đồi bên kia dòng suối. Khi qua đến giữa cầu khỉ bị trơn trợt té xuống suối phân văng tung tóe, hai ông vội vã chạy ngược dòng suối để tẩy sạch phân lấm đầy người mình rung vì lạnh, tôi nhìn thấy thật là tội nghiệp đến rưng nước mắt.

Tôi chỉ biết than thầm cảnh lao tù CS của chúng ta sao mà khổ thế! Và cũng tại nơi suối nầy vào một buổi trưa tôi được ông Thiếu tá Q.., người có trách nhiệm nuôi heo cho bộ đội, cho tôi nửa chén cháo heo. Tôi và ông ngồi ăn lén bọn bộ đội bên bờ suối vắng vẻ, cháo gạo lức trộn với cám mùi thơm ngon nóng hổi, đang cơn đói triền miên ăn vào cảm thấy thật ngon. Một ngày nọ con heo mẹ sanh ra 8 con heo con nhưng vì trời mùa Đông tiết lạnh nên bầy heo con chết hết. Ông Q… báo cáo cho tên trưởng trại, sáng hôm sau tên nầy ra lệnh cho nấu hết bầy heo con chết cho heo mẹ ăn, ông chỉ mổ bụng lấy ruột ném đi rồi bỏ hết vào chảo nấu cho nhừ thịt. Chảo cháo thịt bay mùi thơm phức làm bao tử mình càng thấy đói thêm, nhưng mấy heo con đã sình rồi tôi không dám xin ăn. Ông ấy đã ăn lén lúc nào tôi không biết, nhưng ông có khoe với tôi là ông đã xơi một chén cháo thịt heo đã quá. Ngày hôm sau ông bị đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy trầm trọng tưởng ông phải chết vì bị trúng độc mà không dám nói ra là ông đã ăn cháo heo.

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Rừng đêm âm u nơi trại tù Yên Bái mà ánh trăng rằm sáng hiện lên giống như cái đèn lồng treo lơ lửng trên đỉnh núi thật là ngoạn mục, nhưng lòng thì buồn tê tái! nên có câu thơ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh quá đẹp và nên thơ nên tôi có nói với một anh bạn tù rằng cảnh trăng ở đây đẹp quá, anh ấy nổi cáu và trả lời: mầy thấy đẹp thì mầy ở đây luôn đi. Nghe anh ấy bảo mầy ở đây luôn đi làm tôi ớn xương sống vì sợ lời nói xui xẻo nầy khiến mình ở lại luôn là đời tàn. Nhưng tôi không giận anh ấy vì tôi hiểu anh cũng như tôi đang nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con cũng đang đau khổ ở miền Nam không biết chừng nào chồng cha sẽ trở về sum họp với gia đình.

Lúc ấy tôi nghĩ rằng ánh trăng nầy đang soi sáng các trại tù miền Bắc, trại tù miền Nam và cũng soi sáng cả vùng trời tự do Âu Mỹ, nơi ấy những người di tản chắc cũng buồn vì xa xứ nhưng họ hạnh phúc hơn chúng tôi là hưởng được cái không khí tự do và nhân quyền của con người, trong khi chúng tôi đang trong cảnh lao tù, thật là: Nhứt nhựt tại tù bằng thiên thu tại ngoại, nhưng tôi lại nghĩ: Một ngày tù với cộng sản bằng trăm cái thiên thu.

Dã tâm của bọn Cộng sản.

Sau 3 năm ở ngoài Bắc, bọn CS thả những người tù già yếu bệnh tật trong đó có tôi mà bọn chúng nghĩ có về thì cũng chết thôi. Về nhà mừng vui được sum hợp gia ìh nhưng không khí rất là ngộp thở vì những tên công an khu vực tới nhà xét bất cứ lúc nào. Sau 2 tháng bọn Việt Cộng địa phương đến bắt tôi lại, chúng nó cho tôi vài phút chuẩn bị đồ đạc, nhìn mặt chúng lộ vẻ đằng đằng sát khí nên tôi nghĩ chúng sẽ giết tôi để trả thù, tôi quyết định dùng thuốc tự sát thà chết tại nhà với vợ con hơn là bị bọn chúng vùi xác nơi nào đó mà vợ con không hề biết được. Trước sự giằng co dữ dội của vợ con tôi cùng sự chứng kiến của người xung quanh, vợ con tôi quyết định liều đem tôi ra xe chở đi bệnh viện. Trước sự phẫn nộ của vợ con tôi mà chúng đành đóng kịch trước dân chúng và theo đuổi vợ con tôi sau đó. Sau 4 ngày đêm tôi tỉnh lại, trốn khỏi nhà thương Nguyễn Văn Học và sống ẩn náu trong sự khủng hoảng hơn một năm trời mới vượt biên được. Tôi được biết một số sĩ quan về cùng lúc với tôi cũng bị bọn CS bắt lại, không biết số phận ra sao?

Thuyền nhân tỵ nạn.

Lần thứ nhì vào cuối năm 1979, tôi qua Mỹ với tư cách là thuyền nhân tỵ nạn từ Thái Lan đi bằng máy bay Charter, họ cho ăn đồ fast food chớ đâu được ăn uống sang trọng như hồi thuở đi du học bằng máy bay du lịch. Khi chiếc charter đáp xuống phi trường Oakland tất cả người tỵ nạn phải được khám sức khỏe trước khi cho về nhà của bảo trợ. Một cô y tá Mỹ nhìn hồ sơ của tôi và thấy tôi chống gậy cô ấy lắc đầu làm tôi nghĩ chắc cô nầy thấy tôi bị tàn phế nên thương hại, cô hỏi tôi: “ông có đi làm được không?” Tôi biết ngay là chắc mụ đầm nầy nghĩ mình qua đây rồi sẽ ăn bám mới hỏi câu nầy. Tôi nổi cáu trả lời: “Ở Việt Nam tôi còn đánh giặc được, qua đây làm cái gì mà chẳng được!” Cô ấy trả lời: “I do believe you”. Gia đình Mỹ bảo trợ tôi ở tại thành phố Monterey. Rất may mắn sau 2 tuần cơ quan tiếp giúp tôi định cư chịu mướn tôi làm Resettlement counselor.

Thật ra 2 năm sau cùng ở trung học, lúc đó còn chương trình Pháp mỗi tuần chỉ có 1 giờ Anh ngữ thì vốn liếng Anh văn có là bao nhiêu, mặc dù lúc làm việc trong quân đội với cố vấn Mỹ mình nói ít họ cũng ráng hiểu thôi. Qua tới đây mới thấy Anh ngữ của mình quá kém, phát âm bậy bạ chẳng đúng giọng, nói chuyện họ cứ what? và what? Nhận thực được hiện tình, tôi hết sức cố gắng trao dồi thêm như đọc sách báo, nghe truyền hình và nhờ làm việc tiếp xúc với người Mỹ nên vốn Anh ngữ ngày càng khá hơn.

Lúc tuổi trẻ chống giặc Cộng Sản đến tuổi già phải chống lại bệnh tật.

Lúc còn đi làm mỗi ngày đưa vợ tôi đến bệnh viện làm việc rồi mới tới sở làm của tôi. Ngày ngày tôi đều nhìn thấy những người ngồi xe lăn chạy quanh bệnh viện thật là tội nghiệp. Có khi tôi nghĩ rằng nếu mình lâm vào cảnh sống như thế nầy thì khổ lắm. Tôi tuy chống gậy vẫn còn hơn họ nhiều.

Tưởng rằng sau khi về hưu tôi sẽ hưởng được an nhàn với tuổi chiều xế bóng, sống đời thảnh thơi, nào ngờ lại bị stroke tuy không nặng lắm, nhưng làm ảnh hưởng vết thương cũ nơi xương sống nên đã hơn năm năm nay vẫn phải ngồi xe lăn. Lắm lúc cũng buồn và chán nản, nhưng ngoài sự thương yêu lo lắng của vợ con còn có các Niên trưởng, các Chiến hữu và bạn bè thường xuyên thăm hỏi và an ủi. Có lần bà cựu Tư Lệnh cũng không ngại đường xa lên thăm và an ủi làm chúng tôi tưởng nhớ và thương tiếc Cánh chim đầu đàn mà chúng tôi luôn kính mến đã sớm bay đi về miền miên viễn. Tôi xin thành thật cám ơn quý vị đã cho tôi những an ủi tinh thần rất quý báu giúp cho tôi chóng lành bệnh. Tình huynh đệ chi binh trong Binh chủng thật là quý hóa.

Kết cuộc tôi nhận thấy lúc còn trai trẻ chúng ta lo chống giặc Cộng Sản, không bao giờ vui hưởng được cuộc sống an bình, hơn nữa chúng ta là lính chiến trường thì mấy khi hưởng được cái hạnh phúc sum hợp êm ấm bên vợ con. Bây giờ đến tuổi già phải chống lại bệnh tật xảy đến cho chúng mình.

Viết bài nầy lòng tôi cảm thấy xao xuyến và thương tiếc những chiến sĩ cùng đơn vị đã hy sinh cho tổ quốc thân yêu và cũng luyến nhớ nhiều kỷ niệm khó quên trong đời lính cùng chung trong một đơn vị chiến đấu, hoặc làm việc chung trong một cơ quan.

Xin thân mến chúc các niên trưởng và chiến hữu sức khỏe tốt để hưởng tuổi về hưu thật an nhàn hạnh phúc. Dưới đây là những dòng thơ than thở của vợ tôi muốn nói lên một ước mơ được trở về thăm quê hương trong cảnh thanh bình và thật sự được tự do, dân hủ.

Trả Ta Sông Núi

Sông sâu nước chảy muôn đời
Tuổi người Trời đã đinh rồi thời gian
Từ khi non nước điêu tàn
Mang thân lưu xứ lòng man mác buồn
Thu, Đông cây lá thay màu
Lòng sầu non nước muôn đời không phai
Gẫm đi gẫm lạị tháng ngày
Trông mong chim én mang về mùa Xuân
Buồn thay tuổi đã xế chiều
Chẳng ai đòi lại Núi Sông cho mình
Bây giờ vẫn đợi vẫn trông
Trả ta Sông Núi ước mơ cuối đời.

TN

Chiến hữu Nguyễn Minh Châu
TÐ 3 Sói Biển và cựu QT Dĩ An, Biên Hòa

(nguồn: http://minhchausoibien.tripod.com/tranghoiky/)

—>Tấm Thẻ Bài

This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, MX Nguyễn Minh Châu, Người Lính VNCH. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s