TUỔI ẤU THƠ (MX Nguyễn Minh Châu)

Tuổi Ấu Thơ
(Trích Hồi ký: Cuộc Đời Đổi Thay )

minhchua_thoauTôi đã hân hạnh được đọc nhiều quyển sách hồi ký trong nhiều năm qua, có quý vị cựu chiến hữu đã viết rất nhiều về cuộc đời chiến sĩ gian khổ, hào hùng và oanh liệt qua rất nhiều trận đánh trong những năm chinh chiến. Nhiều vị cựu tù cải tạo cũng đã kể lại cuộc sống lao tù CS thật đau đớn, nhục nhã ê chề trong các trại tập trung từ Bắc chí Nam sau 30 tháng 4 năm 1975. Có những vị đã viết hồi ký kể lại đời sống lưu vong chẳng mấy vui, vì với tuổi đời mòn mõi sau những năm lao tù Cộng sản mà phải bắt đầu lại cuộc sống mới nơi xứ lạ quê người và lòng luôn ray rức nhớ về quê hương vì:

Mang thân mất nước lưu vong
Lạc loài xứ lạ kiếm tìm tự do
Nước ta xứ bé nhỏ nghèo
Nhưng không đâu sánh cho bằng Việt Nam

( Trích bài thơ Bơ Vơ của Tuyết Nga )

Ngoài ra tôi còn có đọc một vài cuốn hồi ký mà tác giả đã viết kể lại cuộc đời mình từ tuổi ấu thơ của một cậu ấm với cuộc sống tràn đầy hạnh phúc trong gia đình giàu có, rồi lớn lên có quyền chức cao sang, dưới tay có binh hùng tướng mạnh của một đời binh nghiệp thật huy hoàng.

Trong khi đó có biết bao thanh niên cùng thế hệ đã sống trong kiếp nghèo khó, khi lớn lên đã theo tiếng gọi của đất nước tình nguyện vào quân đội với cấp bực Binh nhì hoặc Hạ sĩ quan, để chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do. Họ đã trải qua cuộc đời binh nghiệp rất gian khổ, và họ là những chiến sĩ luôn luôn ở tuyến đầu trước lằn tên mũi đạn của quân thù. Qúy vị cũng thừa hiểu trong mỗi trận chiến số thương vong của hàng Binh luôn là tỷ lệ cao hơn cấp chỉ huy nhiều lắm. Trong binh thơ có câu: NHỨT TƯỚNG CÔNG THÀNH VẠN CỐT KHÔ. Nhưng rồi vận nước đổi thay, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 những chiến sĩ đó và những thương phế binh là những người bị bỏ lại chịu sự kỳ thị bạo tàn của bọn Cộng sản cầm quyền, chỉ vì họ:

Yêu thương đất nước Việt Nam
Âm thầm hiến trọn đời trai sa trường
Bước chân trên khắp mọi miền
Hiểm nguy không ngại chí trai phỉ nguyền
Nào hay lại có tháng Tư
Xé tan đời lính vạn người khổ đau…

( Bài thơ Tưởng Niệm Người Chiến Sĩ QLVNCH của Tuyết Nga )

Trong bài viết nầy tôi xin nói về cuộc đời niên thiếu nghèo khổ của một người lính QLVNCH cũng như của biết bao những chiến sĩ đã từng lớn lên trong thời chiến tranh khói lửa. Tôi xin nói về cuộc sống đáng thương tâm của những đứa trẻ nghèo sanh ra trong thập niên 30 và 40. Có những sự thật phũ phàng mà ít ai nói ra trong hồi ký về cuộc sống “ rất thật “của những đứa trẻ bất hạnh ấy.

Tôi muốn viết bài này giúp con cháu chúng ta thấy được cái khốn khổ nơi quê hương Việt Nam nghèo nàn, để biết được giá trị của cuộc sống mà cha ông đã trải qua trong thời thơ ấu đã phải nhẫn nại, hy sinh phấn đấu để đến bây giờ chúng mới có được cuộc sống như ngày nay.

Vợ tôi được may mắn có cuộc sống hạnh phúc trong gia đình khá giả nhưng rất thông hiểu hoàn cảnh lận đận của tôi, suốt đời hy sinh cho chồng con và luôn bên tôi để đỡ đần và an-ủi tôi trong những lúc thăng trầm. Nhưng, đến tuổi xế chiều tôi còn mắc phải một cái nạn quá nặng nên vợ tôi luôn cầu ngưyện Ơn Trên giúp tôi qua khỏi nỗi khó khăn hiện tại và cầu xin đây là một tai nạn cuối cùng.

Tiếng Chuông Chùa

Tiếng chuông ai đánh ngân vang
Trên chùa triền núi Hawaii đảo hiền
Nhàn du ghé tạt viếng chùa
Thong dong rão bước qua cầu bắt ngang
Tháp chuông bên trái đi vào
Ao hồ cá lội bao quanh sân chùa
Mặt sau núi đá thật xanh
Đỉnh cao đỉnh thấp may mù phủ quanh
Từ từ đi đến dây chuông
Giựt lần thứ nhứt nguyện cầu mẹ cha
Thoát cơn bệnh tật tai qua
Giựt thêm lần nữa nguyện cầu các con
Thương nhau, yêu mẹ, kính cha
Sống vui hạnh phúc, cháu ngoan học hành
Giựt thêm tiếng cuối cho chồng
Mau mau hồi phục an lành đứng đi
Ba lần chuông đổ ngân nga
Vang rền rừng núi, mong vang tận trời !
Thấu cho tâm nguyện khấn cầu
Cứu cho thoát khỏi, xế chiều thảnh thơi .

Tuyết Nga (Làm tại Hawaii, May/2002)

Tôi xin ghi hai câu thơ để tỏ lòng cám ơn người vợ đã suốt đời hy sinh cho chồng con và đã chịu nhiều đắng cay với đời binh nghiệp của tôi.

Kiếp người lắm cảnh thăng trầm
Dù đời thay đổi ta còn bên nhau

Minh Châu

Những ngày thơ ấu với nỗi buồn mất Mẹ .

Hàng năm dến ngày giỗ Mẹ
Lòng tôi xao xuyến bồi hồi tiếc thương
Tiếc cho mẹ đã đi rồi
Tôi thèm tôi khác cái tình mẹ con…

(Bài thơ Mất Mẹ – Tuyết Nga)

Ông bà ta thường nói : Mùng năm, mười bốn, hăm ba. Đi buôn thì lỗ, ra đường thì xui.

Có nghĩa là những ngày nầy thường mang đến cho ta những điềm xấu, mà thật vậy, đối với tôi những ngày nầy xãy ra cho tôi hai biến cố không may. Một Biến cố đầu đời là ngày Mẹ tôi mất lúc tôi chưa lên năm tuổi và một Biến cố vào tuổi xế chiều cũng vào ngày mùng 5 tháng 5 năm 2000 âm lịch tôi bị lâm bịnh nặng (stroke).

Tôi sanh ra trong một gia đình trung lưu vào giữa thập niên 30, tại Vĩnh Long, một tỉnh của vùng đồng bằng sông Củu Long , xứ nước ngọt và người dân hiền hòa. Cha tôi là công chức cho Pháp và mẹ có cơ sở thương mại, cuộc sống lúc ấy tương đối sung túc. Tôi vừa lên năm, nhưng tôi có trí nhớ rất tốt, tôi nghĩ có lẽ vì đã trải qua những biến cố đau đớn làm tôi không thể quên. Tôi còn nhớ cha tôi có mua một xe hơi màu đỏ sậm, sau nầy được biết là xe Peugeot 203, thời đó nhà có xe hơi rất hiếm. Mỗi lần về quê Nội ở Cao Lãnh hay quê Ngoại ở Trà Vinh, tất cả gia đình ngồi chen chúc chật ních. Khi xe của chúng tôi về gần đến làng, bà con, lối xóm ùa ra đường lộ đất vui mừng đón tiếp chúng tôi và không ngớt lời khen xe hơi sao đẹp quá!. Ông bà cô bác rất thương và quí mến chúng tôi.

Nhưng cuộc sống hạnh phúc của tôi chẳng được bao lâu. Mẹ tôi mất sớm khi sanh đứa em thứ mười bị băng huyết, để lại 9 người con, lớn nhứt là 2 chị song thai mới lên 15 tuổi.

Vào thời đó ngành Y khoa còn rất kém. Tôi còn nhớ vào khoảng 5 giờ chiều, ba anh em chúng tôi đang nô đùa trước sân ở từng dưới nhà, hai chị cả hơ hãi chạy xuống bảo Ba chúng tôi đi tiểu gấp rút vào một cái tô cho Mẹ tôi uống, vì Mẹ đang sanh và bi bịnh nặng. Sau nầy mới biết là Mẹ chúng tôi bị bể tử cung mà bác sĩ đỡ đẻ cho Mẹ tôi không thể cầm máu được, nên bà con lối xóm cho uống nước tiểu để hi vọng cứu chữa được. Sau đó khoảng nữa giờ, Mẹ chúng tôi bị kiệt sức và tắt thở, em út tôi vừa mới chào đời, vì ngộp thở nên cũng theo Mẹ tôi sau đó chẳng bao lâu. Mấy chị tôi chạy xuống khóc thảm thiết nói là má đã chết rồi, mấy em lên gặp má. Cảm giác của tôi lúc ấy không biết xúc động mạnh vì chưa hiểu Mẹ chết là thế nào?, nhưng thấy mấy anh chị khóc thảm thiết là òa khóc theo. Ngày sau đó khi Mẹ tôi được liệm vào quan tài, tôi mới biết Mẹ chết là không bao giờ gặp lại Mẹ, còn hai thằng em út còn nhỏ dại quá chưa biết gì, nên ai hỏi Má đâu thì trả lời là Má ngủ.

Gia đình bị phá sản.

Một năm sau, chúng tôi có bà kế mẫu, bà chẳng làm gì chỉ ăn xài tiêu phá, nên sự nghiệp, tài sản, tiền tài đều tiêu tan sau cái chết của Mẹ chúng tôi. Cuộc sống thật là thê thảm như chúng tôi bị rơi từ trên cao xuống vực thẩm. Gánh gia đình quá nặng, đồng lương công chức không đủ nuôi sống lúc nầy, nên Cha tôi bàn ý định với mấy anh chị rằng chúng tôi phải chia ra làm hai gánh, một nửa theo Cha và bà mẹ ghẻ về Bạc Liêu để lập cơ sở làm ăn mới, còn một nửa gồm chị cả và ba đứa em út chúng tôi về sống nhờ với ông bà Ngoại và Cậu Mơ tại Trà Vinh. Tin buồn nầy làm mấy anh chị tôi khóc lên thảm thiết như ngày nào Mẹ tôi vừa mới mất.

Hồn Mẹ Hiện Về và Chuyện Nhập Hồn.

Một tháng sau khi Mẹ tôi mất, đứa em út tôi mới hai tuổi thường đêm hay la khóc: không muốn ngủ với Má, không muốn ngủ với Má, làm cả nhà ai cũng giật mình thức dậy và nghĩ chắc Mẹ chúng tôi hiện hồn về. Bây giờ tôi cũng còn nhớ là có một hai lần, vào giữa đêm khuya thật yên tỉnh, trong giấc ngủ chập chờn, tôi thấy một bóng đen nhỏ nhắn giống dáng người của Mẹ tôi đứng nơi chân giường, lúc ấy tôi rất mừng và sợ. Mừng vì nhớ Mẹ và muốn gặp lại Mẹ, nhưng lại sợ ma nên bèn nhắm đôi mắt lại rồi ngủ quên đi. Lúc ấy, mấy anh chị nói chắc Mẹ hiện hồn về thăm, vì chúng tôi còn quá nhỏ nên hiện về thăm con trong đêm khuya canh vắng. Từ đấy về sau, mỗi đêm tôi cứ sợ thấy lại cái bóng đen đó.

Một ngày nọ sau buổi cơm chiều, ba anh em út chúng tôi đang chơi đùa ở tầng lầu dưới, chị cả tôi vội vã chạy xuống lầu gọi: Má về thăm, các em lên đây gặp Má. Chúng tôi chạy lên lầu thì chẳng thấy Mẹ đâu mà thấy bà dì ghẻ mặt xanh xao, đôi mắt thiêm thiếp, đang nằm trên giường trước bàn thờ của Mẹ chúng tôi. Với giọng u ớ tương tợ như tiếng Mẹ tôi, bà nói rằng: ” Châu, Đang và Hoàng đó hả?, hãy lại gần Má, Má nhớ tụi con quá. Hôm nay, Má về thăm tất cả tụi con. “

Ba đứa tôi mừng rỡ nhưng sợ quá không dám tới gần, chuyện đối đáp giữa Mẹ tôi và các anh chị kéo dài khoảng một thời gian ngắn, và tôi còn nhớ mang máng là Mẹ tôi dặn dò các anh chị hãy thương và đùm bọc các em nhỏ. Sau đó bà dì ghẻ tỉnh lại với sắc mặt bơ phờ và rất mệt mỏi, Cha tôi hỏi từ nãy giờ có hiểu thấy gì không? bà ấy trả lời là tự nhiên cảm thấy người choáng váng rồi bất tỉnh không biết gì nữa. Sau khi lớn khôn, tôi có nghe về chuyện Nhập Hồn hay Đồng Bóng, nhưng bà dì ghẻ đâu có biết gì nghề nầy và chưa bao giờ bị trường hợp lạ lùng như vậy, sự việc ấy chỉ xảy ra có một lần thôi. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ rõ ràng chuyện đã xảy ra ngày xưa ấy, nhưng tin hay không tùy lòng tín ngưỡng của mỗi người, chính tôi bây giờ cũng còn hoang mang. Một số người tin ĐỒNG BÓNG cho rằng đó là sự NHẬP HỒN từ người chết qua người sống của những người bị chết oan.

Về Quê Ngoại.

Khoảng hơn một năm sau khi Mẹ tôi mất, Cha chúng tôi chở hết gia đình về nhà cậu mợ. Mợ tôi là chủ tiệm vàng trước tòa hành chánh tỉnh Trà Vinh, cậu tôi làm xã trưởng của một xã trong tỉnh lỵ. Chị cả đưa ba anh em út chúng tôi lên lầu và bảo chúng tôi phải ngủ trưa vì đi xe đường xa mệt mỏi. Tôi có linh tính là có chuyện gì gia đình muốn lừa gạt ba anh em chúng tôi. Nhưng vì mệt, tôi ngủ quên đi lúc nào không hay biết. Đến lúc tỉnh dậy, chúng tôi thấy chị cả đang ngồi trên bộ ván gỏ, cạnh chúng tôi, khóc sụt sùi. Biết ngay là bị gạt, tôi liền hỏi: “Chị Hai, Ba và mấy anh chị kia đâu rồi?”. Cầm lòng không đặng, chị tôi càng khóc nức nỡ và trả lời: “Ba và mấy anh chị về Bạc Liêu rồi”. Lòng buồn rũ rượi, tôi và hai thằng em khóc òa lên.

Những ngày tháng đầu tiên trong đời còn quá thơ ấu với nỗi buồn vừa mới mất Mẹ, chồng chất với nỗi buồn xa Cha, nhớ anh thương chị làm tôi cảm thấy thật là cô đơn, nên ba anh em chúng tôi, thằng em kế 5 tuổi và thằng út mới lên 3, rất thương nhau và rụt rè nhút nhát, luôn luôn quay quần bên người chị cả như một đàn gà con lúc nào cũng theo bên chân gà mẹ. Nỗi buồn mới mất Mẹ làm cho nước mắt chị tôi cứ tuôn trào gần như suốt ngày, và có khi ba thằng em nhỏ cũng khóc theo, đến ông bà và cậu mợ cũng phát quạu. Một hôm người Mợ chúng tôi có rầy la: “chúng mầy khóc hoài, Mẹ bây đã chết bây giờ bây muốn trù ẽo cho Cha bây chết luôn hả?”. Chị tôi ruột đau như cắt, khóc và than thỏ thẻ: “Mẹ ơi! Mẹ ra đi bỏ chúng con ở lại khổ quá!”.

Bấy giờ, chúng tôi là những kẻ ăn nhờ ở đậu, vì nghèo, những anh em con của cậu mợ và dì dượng ít khi gần gũi theo chơi đùa với chúng tôi như trước kia, mỗi lần chúng tôi được cha mẹ chở xe hơi về thăm quê Ngoại hoặc quê Nội. Chúng tôi gần như bị cô lập, chị tôi càng đau lòng thương xót và an ủi chúng tôi: “Các em cứ chơi với chúng nó đi, chị Hai sẽ bênh vực mấy em nếu có ai hiếp đáp”.

Về Quê Nội.

Sống bên Ngoại được hai năm, chị cả lên Sài Gòn học ngành Y tá, ba anh em chúng tôi lại được Cha tôi gởi về sống với ông bà Nội ở làng Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa đéc. Tôi yêu quê tôi có :

Con sông nhỏ Hòa-An, Cao-Lãnh
Mấy mươi năm vẫn chảy êm-đềm
Bắc ngang sông có cây cầu ván
Ngọn dừa, cau dọi bóng trăng khuya.

(Bài thơ Mất Mẹ – Tuyết Nga)

Lúc nầy, tôi chỉ hơn tám tuổi nhưng tôi cũng biết nhận thức được cảnh đẹp êm đềm của làng quê. Nhà Nội tôi là một căn nhà ngói xưa ba gian hai chái, trước mặt là con sông nhỏ với cây cầu ván gập-ghềnh bắc ngang. Mỗi lần có việc cần, Nội tôi sai bảo qua bên kia làng với chị Hồ, người giúp việc cho ông bà Nội tôi, chân tôi bước đi run rẩy sợ té xuống sông vì không biết lội. Hai bên bờ sông là hai con lộ đất với những hàng dừa lá xanh mướt, trông rất thơ mộng dưới những đêm trăng, xen lẫn với những cây mận đào trái sum sê đỏ óng ánh với ánh nắng êm dịu của miền Tây. Những chùm mận làm nặng chĩu những cành cây xà xuống gần tận mặt nước, ngồi trên thuyền con, người ta cũng có thể hái ăn được. Quê tôi nổi tiếng có nhiều thiếu nữ đẹp, hiền, và người dân nơi đây rất thật thà chất phác.

Trước sân nhà Nội là hàng rào bông bụp đỏ lá xanh mượt mà.Trong sân trước có hàng chậu kiểng với vài cây lựu, mỗi sáng vài con chim sâu nhỏ nhắn nhảy nhót tung tăng trên cành lựu trông thật nên thơ. Bên hè nhà là một ao nước nhỏ có đường thông thương ra sông nên nhìn thấy cá lội quanh năm. Sau mùa nước, ông bà Nội mướn người đến tát ao để bắt cá đủ loại, chúng tôi vui thích lắm. Nơi nầy chị Hồ thường xuống tắm lội, ba anh em chúng tôi thấy chị lội mà bây gọi là kiểu lội chó, nghĩa là hai tay bơi và hai chân đạp như con chó. Chúng tôi vỗ tay khen chị làm sao mà lội được hay quá !. Chị Hồ nói rằng mấy em bắt chuồn chuồn cho cắn rún thì mấy em sẽ biết lội. Nhưng chúng tôi đã khờ dại cho chuồn chuồn cắn đau điếng mà khi nhảy xuống bờ ao bị chìm lĩm có lội được gì đâu ?

Sau nhà là vườn xoài mát mẻ với một hàng cây bưởi là nguồn lợi chính của Nội tôi, và cũng là nơi ba anh em chúng tôi chơi bóng đá bằng những trái bưởi non rụng sớm, được quấn bằng những cọng lá chuối khô để đá cho êm chân.

Nói đến đây tôi nhớ mãi chiếc xe đạp ba bánh cũ kỷ treo ngoài mái hiên sau nhà Nội, ở dưới là hai cái hòm đỏ lói trong rất ghê sợ. Chiếc xe đạp nầy được Cha Mẹ mua cho chúng tôi lúc Mẹ còn sống, nó đã bị đứt dây chaine, nên không còn đạp được nữa. Tôi đã rất khổ sở vì rất thèm thuồng muốn cưỡi đạp mỗi khi nhìn thấy nó, tôi cứ nằm mơ thấy đạp chiếc xe nầy mãi, thỉnh thoảng muốn cưỡi đạp quá, chúng tôi nhờ chị Hồ lấy xuống để anh em thay phiên nhau đứa ngồi đứa đẩy cho đỡ ghiền.

Đến mùa mức thủy triều lên cao đến thềm nhà, chúng tôi tha hồ xem cá lội tung tăng rất thích thú. Tôi còn nhớ mãi cảnh trời mưa ở vườn quê, nhứt là về đêm tiếng mưa rơi xạc xào trên lá và những giọt mưa từ mái nhà rơi tí tách bên thềm gạch đỏ, hòa với những tiếng kêu của ếch nhái và ểnh ương, tạo thành một thứ âm thanh hỗn hợp nghe não nề, buồn thật buồn!.

Trời khuya trăn trở một mình
Ngoài hiên tí tách tiếng mưa nhịp nhàng
Mưa rơi chẳng biết bao lâu
Đêm dài buồn tủi tiếng mưa não nề
Tiếng mưa như tiếng nhạc buồn
Tiếng trong tiếng đục đều đều canh khuya…

( Bài thơ Mưa Đêm – Tuyết Nga.)

Vì còn quá nhỏ, sợ ma, nên ba anh em chúng tôi đêm đêm hay khóc sụt sùi nho nhỏ trên bộ ván gõ vì sợ Bà thức giấc rầy la, lúc nầy tôi cảm thấy thật cô đơn, bơ vơ, chới với. Thật đau đớn thay, vì:

Mẹ ra đi thuở con còn năm tuổi
Tuổi dại khờ mà phải chịu bơ vơ
Thiếu mẹ để cho con luồng hơi ấm
Thiếu mẹ dỗ dành con lúc tủi hờn.
Thiếu mẹ đắp chăn khi đêm về sáng
Canh trường thức giấc tiếng muổi vo ve
Thèm tiếng mẹ ru đêm khuya gió trở….

(Bài thơ Mất Mẹ – Tuyết Nga)

Tôi vào trường học chữ quá trễ, vì cuộc sống cứ rày đây mai đó nên chị tôi dạy học sách vần tại nhà. Năm đó tôi đã hơn tám tuổi mà mới bắt đầu vào trường học lớp Năm Tiểu Học (bây giờ là lớp Một). Ngày đầu vào trường học thật hồi hợp, lo sợ, e dè nhút nhát vì chưa thấy mặt ông thầy giáo bao giờ và nghe nói học trò lười biếng hay bị thầy đánh đòn bằng cây thước bảng đau lắm! Nhìn chung quanh là những đứa trẻ lạ mặt không quen, mà ai cũng có mẹ hoặc có anh chị đưa đến trường.

Người đưa tôi đến trường học đầu đời không phải là mẹ hay anh chị như bao nhiêu đứa trẻ khác, nên tôi càng cảm thấy cô đơn lạc lỏng chẳng khác nào một đứa trẻ bị bỏ lạc lỏng giữa chợ đời. Tôi không bao giờ có được cái hình ảnh: ” Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương Thu và gió lạnh, Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi, dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp…”. Nhưng người đưa tôi đến trường lại là chị Hồ, người giúp việc cho Nội tôi. Thật buồn thay:

Tuổi ấu thơ ngày đầu trong lớp học
Thiếu mẹ nhìn an ủi dỗ dành con
Tủi thân phận lệ trào rưng khóe mắt
Khép nép mình một góc chẳng người thân…

Tuyết Nga

Chèo Xuồng Con Ði Khám Bịnh.

Có một lần ba anh em tôi đều bị bịnh ban cua, vào thời buổi đó đi khám bác sĩ là chuyện hiếm có. Chúng tôi đã bỏ ăn uống nhiều ngày nên kiệt sức vì thiếu sự chăm sóc. Bà nội tôi sai bảo chị Hồ dẫn ba anh em tôi đi gặp thầy thuốc Nam để chữa bịnh. Từ nhà ra quận lỵ đường đi cách xa, chúng tôi không thể lội bộ nổi, nên bà sai bảo chị Hồ chở chúng tôi đi bằng xuồng ba lá, loại xuồng nhỏ rất thông dụng ở miền Hậu Giang, vì mỗi năm tới mùa thủy triều lên cao các con đường làng đều bị ngập lụt. Ở dưới quê chỉ có xuồng là phương tiện duy nhứt để di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác. Từ nhà ra quận Cao Lãnh, chị Hồ phải chèo xuồng từ nhà nội theo con sông nhỏ gọi là rạch Cái Sâu, rồi băng qua con sông lớn mới tới nhà thầy thuốc ngoài quận. Ngồi trên thuyền con bị sóng to, chiếc thuyền lắc lư thật mạnh theo dòng nước bập bềnh làm ba anh em tôi càng xây xẩm mặt mài và nôn mửa. Lúc ấy tôi rất hồi hộp vì sợ chìm xuồng là chỉ bị chết đuối, chẳng ai cứu vớt kịp, tôi đã nghĩ rằng chắc lần nầy phải vĩnh biệt Cha tôi và mấy anh chị em trong cái chết lạnh lẽo cô đơn giữa lòng sông nầy. Đấy là lần đầu tiên tôi được đi xuồng, không phải vui thú như tôi đã nghĩ, và đã từng ao ướt muốn đi du ngoạn bằng xuồng của Nội thường đậu nơi bờ rạch trước nhà.

Từ Quê Nội Lên Sài Gòn Rồi Trở Về Quê Ngoại.

Năm 1944 là năm gần kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến, phi cơ của lực lượng Đồng Minh bay đến Saigon ném bom ngày đêm vào các vị trí đóng quân và căn cứ tiếp liệu của quân Nhựt Bản. Lúc nầy tôi đang học tại trường Tiểu học công lập Thị Nghè, thỉnh thoảng có tiếng còi hụ vang lên là các thầy cô dẫn học trò xuống hầm để tránh bom, lúc đó gọi là tranchées.

Việc mua bán trì trệ, trường học thì bữa đóng bữa mở, cuộc sống quá nguy hiểm lại làm ăn khó khăn, nên Cha tôi đưa ba đứa anh em út chúng tôi về miếng đất gần nơi ngôi mộ của Mẹ ở làng Cây Dầu Lớn, ngoại ô tỉnh Trà Vinh, cất một ngôi nhà lá nho nhỏ để ở. Lòng tôi cảm thấy được ấm cúng như được gần Mẹ mặc dù Mẹ đã nằm sâu dưới đáy mồ.

Tỉnh Trà Vinh lúc xưa là vùng đất của người Miên, nên có rất nhiều người Miên sinh sống nơi đây và đa số sống bằng nghề nông. Làng tôi ở cách làng của người Miên một cây số, người Việt mình thường gọi là Sóc Miên. Chúng tôi thường vào chùa xem họ tổ chức những lễ cổ truyền của dân tộc, xem múa hát vào những ngày lễ và ngày Tết của họ, tiếng Miên gọi là ngày lễ Ót vv…Các thiếu nữ Miên có nước da sậm nhưng trông rất mặn mà và duyên dáng với các bộ lễ phục, nhứt là những cô gái Miên lai Triều Châu mà người mình gọi là đầu gà đít vịt với nước da mơn mởn, mũi cao không khác nào các thiếu nữ đầm lai thật là đẹp.

Sống với bà mẹ ghẻ chúng tôi thiếu tình thương lẫn vật chất, và Cha lại bị bịnh lao phổi nặng. Mỗi khi buồn tủi vì quá vất vả, tôi hay đến mộ cầu nguyện xin Mẹ cứu cho chúng tơi bớt khổ. Thật đúng như lời ca dao truyền khẩu:

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng.
——
Con không cha ăn cơm với cá
Con không mẹ lót lá mà nằm.

Một Nắm Xôi Buổi Sáng.

Anh em chúng tơi ăn uống rất cực khổ, bữa đói bữa no, nhưng phải làm việc nhà nặng nhọc, sánh với những đứa trẻ cùng lứa tuổi của tôi. Tôi thật cảm thấy thấm thía khi nghe hai câu ca trong bài hát “ Nó ”nói về cuộc sống của đứa bé nghèo nàn.

“ Mẹ nó qua đời khi còn tắm nhỏ
Một chén cơm chiều nên lòng chưa no ”

Mỗi buổi sáng, bà mẹ ghẻ phát cho ba anh em chúng tôi mỗi đứa một gói xôi hoặc một củ khoai lang. Một hôm tôi mang gói xôi cho thằng em út đi học trước, đi học đường xa, đang sức lớn và lao động nhiều thì một gói xôi nhỏ đâu đủ no. Xôi nước dừa gói trong miếng lá chuối thơm ngon làm tôi phát thèm, trong cơn đói chịu không nỗi, tôi cứ từ từ rút từng miếng nhỏ bỏ vào miệng, lần hồi khi gần đến trường tôi chợt nhớ đến em mình đang chờ gói xôi ăn sáng thì gói xôi đã teo lai còn một chút xíu, muốn lọt ra ngoài miếng lá chuối. Nhớ thầy cô có dạy rằng: “ANH EM NHƯ THỂ TAY CHÂN : ta phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau khi đau ốm hay đói khổ “, lòng tôi cảm thấy xót xa, ruột đau như cắt, nhưng biết làm sao cho gói xôi đầy lại? ?? Tôi thật là nhục nhã và hối hận vì không dằn được cơn đói.

Màn Trời Chiếu Ðất.

Lúc nầy cuộc sống rất kham khỗ, chúng tôi ăn không no mặc cũng không ấm. Tôi nghĩ nếu còn mẹ, dù cho có nghèo đói trong cảnh cơ bần mẹ mình đâu nở lòng nào để con mình sống vất vả như thế nầy. Giường ngủ của chúng tôi là một cái sạp gỗ, trước khi leo lên ngủ ba anh em chúng tôi đập hai bàn chân vào nhau phủi sạch bụi đất, chẳng mùng màn và chăn gối, chỉ kéo một manh chiếu phủ lên ba thằng tôi, vì mệt mỏi rồi ngủ say chìm trong giấc mộng cho tới sáng tha hồ cho muỗi mòng đốt cũng chẳng hay.

Tỉnh Trà-Vinh có rất nhiều bưng biền và nổi tiếng là muổi rất to như hạt cơm, và vào thời đó đâu có thuốc DDT để diệt trừ muổi nên người dân thôn quê bị bịnh rét rất nhiều. Tôi còn nhớ cứ mỗi hai ngày tôi bị làm cử một lần, lạnh buốt từ trong xương lạnh ra chịu không thấu, nhưng sau cơn lạnh là cơn sốt hoành hành nhứt đầu kinh khủng dường như bị sức nặng ngàn cân đè lên trên. Lúc ấy da mặt tôi xanh xao tái mét và trên mặt lúc nào cũng có lốm đốm những dấu chích của muổi mòng. Vào lớp học, trông mặt mài mình chẳng giống ai cũng mắc cở lắm chứ vì lúc ấy tôi được gần 15 tuổi đã lớn xộn rồi. Trong văn, thơ và nhạc, các văn, thi và nhạc sĩ thường hay nói tuổi nầy là tuổi bắt đầu biết yêu đương, là tuổi mộng mơ của thuở học trò. Nhưng các học trò nghèo chúng tôi ngoài giờ học ở trường còn phải về nhà làm việc nặng nhọc giúp gia đình, có đâu những thì giờ nhàn rỗi để có bạn gái và dám nghĩ đến chuyện yêu đương. Mấy tháng nghỉ hè học sinh nghèo phải ở nhà lao động giúp cha mẹ để kiếm sống qua ngày nên đâu có được những kỷ niệm ái ân, êm đềm và lưu luyến như ý nghĩa hay đẹp trong những lời ca của bài hát “Nỗi Buồn Hoa Phượng”.

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…
Chín mưoi ngày qua chứa chan tình thương…
——–
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu?
Những chiều hẹn nhau lúc đầu
Giờ như nước trôi qua cầu…

Đêm Giáng Sinh Thật Buồn.

Tôi không bao giờ quên đêm Giáng sinh năm 1946. Theo tục lệ của Pháp, chiều ngày đó người Thiên Chúa giáo không được ăn nhiều, và dọn mình cho trong sạch đặng rước MÌNH THÁNH CHÚA. Đa số nhà Thiên Chúa giáo đều nhộn nhịp trang trí nhà cửa, làm máng cỏ, treo đèn lồng ngôi sao trước nhà và chuẩn bị bữa tiệc để tổ chức ăn mừng ngày Chúa ra đời sau khi đi lễ đêm lúc 12 giờ khuya, gọi là ăn Réveillon. Khi ba anh em chúng tôi đi lễ về, cũng ao ước có một bữa ăn Réveillon như mọi gia đình. Nhưng bà dì ghẻ không có cho bữa tiệc đó, đi lễ về khuya cảm thấy đói, ba anh em tôi xuống nhà bếp ăn một bữa Réveillon với cơm nguội và một ít đồ ăn dư của bữa cơm trưa, nhưng cũng đỡ đói lòng. Chúng tôi ngồi ăn dưới ánh đèn dầu leo lét, giữa đêm khuya hiu hắt nơi mái hiên nhà sau, lòng buồn tê tái muốn ứa nước mắt, vì trong đêm Giáng sinh nhớ anh chị em bởi cuộc sống nên kẻ đi làm, người đi học xa đã phải chia ly mỗi người một ngả.

Ăn Tết nghèo.

Mỗi năm trước ngày Tết, bà dì ghẻ sắm cho ba anh em tôi mỗi đứa một áo chemise sọc ngắn tay, một quần cụt đen và một đôi guốc để mang đi rong chơi trong ba ngày Xuân. Chúng tôi được nghỉ làm việc nhà, đi thăm bà con trong ba ngày Tết và rất mong có được thêm một ít tiền lì xì, thấy cũng vui vui trong những ngày đầu năm. Tôi cũng không quên đến ngôi mộ mừng tuổi Mẹ ngày đầu năm và cầu nguyện Mẹ phù hộ cho cuộc sống được tốt đẹp hơn. Niềm sung sướng nhứt của chúng tôi là được chút ít tiền lì-xì dùng đủ ăn hủ tiếu và hàng bánh trong ba ngày Tết, vì suốt tháng năm chẳng bao giờ được ăn những tô hủ tiếu thật ngon lành nầy.

Câu chuyện cái nón rơm.

Tôi xin kể lại một câu chuyện bây giờ nhớ lại nghĩ cũng vui vui mà cũng có khi muốn cười ra nước mắt. Hồi thời đó, học trò nghèo đi học hay đội nón rơm che sức nắng cháy da của mùa hè và cho đỡ bị nhức đầu. Một hôm, cha chúng tôi mua một hộp sơn dầu màu trắng phết lên ba cái nón rơm của chúng tôi mục đích giữ cho bền lâu, không bị mục vì mưa nắng. Mỗi lần ba thằng chúng tôi đi học đội ba cái nón rơm vành to và trên chóp bóp nhọn lại giống như cái nón của tài tử đóng vai hanh hùng tên Zorro. Chúng tôi đi bộ hàng dọc bên lề đường và nón màu trắng toát dễ gây sự chú ý nên ai cũng dòm chăm chú. Có người nói rằng : coi ba thằng nhỏ đội nón giống Zorro quá ! ( lúc bấy giờ phim Zorro nỗi tiếng như loai phim Bonanza sau nầy ) làm cho chúng tôi mắc cở vô cùng . Vào trường bị bạn học cùng lớp hay chọc phá lấy nón đội chay lung tung và đặt cho tôi cái biệt danh là Zorro Châu. Tôi lại càng thẹn thùng.

Vì những lý do trên mà ba anh em chúng tôi rất ngại ngùng khi đội ba cái nón rơm nầy đi học, mà không đội thì bị đòn, nên khi ra khỏi nhà một quảng đường là ba anh em chúng tôi lấy nón căp vào bên hông đi đến ttường để tránh sự chú ý của mọi người. Một hôm, cha chúng tôi chạy xe đạp về nhà bắt gặp chúng tôi không chịu đội nón. Về tới nhà ông đánh cho một trận đòn đau điếng nhưng rồi ông giận lẫy và lấy ba cái nón Zorro vứt đi. Thật là chúng tôi mừng hết lớn ! Có nhiều đêm nhớ tới sáng mai phải đội cái nón ác ôn nầy đi học mà rầu ngủ không được.

Sau nầy con cái của chúng mình được sanh ra trong thập niên 60 trở về sau không bị chịu cái lề lối giáo dục cổ xưa cũng có điều hay, những tôi nhận thấy có nhiều điều quá khắc khe của người cha làm cho tình cha con không được gần gủi như bây giờ.

Qua xứ nầy, lối giáo dục từ gia đình đến học đường rất cởi mở nên đứa trẻ không có tánh rụt rè và nhút nhát như chúng mình hồi thuở xưa nên sự thông minh của đứa trẻ được phát triển sớm và nhanh hơn chúng ta lúc còn tuổi thanh xuân. Nhưng, cũng có điều rất nguy hại là nếu chúng ta không khéo lèo lái chúng nó sẽ dễ dàng bị hư hỏng và ảnh hưởng sẽ có thể rất tai hại..

Sự cách biệt giữa kẻ nghèo và người giàu.

Tại một xứ lạc hậu như quê hương Việt Nam chúng ta, sự giàu và nghèo có quá nhiều cách biệt, nên người nghèo hay bị coi rẻ, bị khinh khi. Nhưng tôi lấy câu răn dạy của ông bà, cha mẹ cũng như thầy cô đã dạy ở trường rằng : NGHÈO CHO SẠCH, RÁCH CHO THƠM, tôi tự thấy an ủi, tôi không thấy gì là nhục nhã hay xấu xa.

Lúc còn ở trường trung học Pétrus Ký tôi đã học về Đại văn hào Victor Hugo và phải đọc cuốn sách ” LES MISÉRABLES “ nói về cuộc đời khốn khổ của một nhân vật do tác giả dựng ra, tên là Jean Valjean, nhưng tôi nghĩ tại xứ Việt Nam nghèo đói của chúng ta có hàng hà vô số Misérables thật. Dưới chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay, một trong bảy nước nghèo nhứt thế giới, những đứa trẻ mồ côi nghèo khó còn cơ cực gấp trăm lần.

Cuộc sống tuổi trẻ hết sức là lầm than, nhưng theo tháng năm dài của thời gian chúng tôi cũng khôn lớn. Lúc nầy tôi được mười lăm tuổi, tôi nghĩ lúc nầy tôi cũng bắt đầu hiểu biết nhiều hơn, và hoàn cảnh của cuộc sống gian nan vất vả giúp tôi học được cái khôn cái khó làm hành trang trên đường đời.

Sau lớn lên tôi được trưởng thành từ quân đội và tôi đã rất hãnh diện được làm một Chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Chiến hữu Nguyễn Minh Châu
TÐ 3 Sói Biển và cựu QT Dĩ An, Biên Hòa

(nguồn: http://minhchausoibien.tripod.com/tranghoiky/)

—> Tâm Tình Cuủ Một Thế Hệ

This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, MX Nguyễn Minh Châu. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s