CUỐI CHÂN TRỜI (Nguyễn Ninh Thuận)

CUỐI CHÂN TRỜI

Để tưởng nhớ một H.O vừa nằm xuống
(Mọi sự trùng hợp ngoài ý muốn tác giả )

Mấy hôm nay, Đạt rất buồn khi được Quân gọi điện thoại báo tin:

-Anh Đạt! Anh có nghe tin anh Lê mất tích không?

Không để bạn nói thêm, Đạt nhanh nhẩu trả lời:

-Tôi có nghe tin đồn anh Lê mất tích không được bao lâu, đứa con gái của anh có chồng nước ngoài gọi điện thoại thăm hỏi sức khỏe gia đình tôi. Tiện thể, tôi có hỏi thăm về trường hợp của ba nó. Cháu ấy trả lời:

-Cám ơn chú có lời thăm hỏi, ba cháu vẫn khỏe. Nghe đâu ba cháu phải lòng một người đàn bà trẻ đẹp nào đó. Ba cháu đã vội vàng đưa người đàn bà ấy xuyên bang xây tổ ấm rồi chú à!

Vừa được bạn bè cho biết tin anh Lê mất tích. Nay lại nghe chính miệng con gái của anh ấy cho biết, ba nó có đào nhí. Họ đã dẫn nhau đi xuyên bang rồi. Đạt chủ quan tin lời người trong nhà hơn nghe người ngoài bàn tán. Chàng mỉm cười tự nghĩ:

-Ông già sáu mươi tám tuổi, gần đất xa trời rồi cũng còn duyên quá nhỉ!

Chuyện bạn bè bàn tán to nhỏ về việc mất tích của anh Lê, nghe rồi cũng bỏ ngoài tai. Sự sống ở đây, ai cũng phải vắt giò lên cổ mới đủ chi phí hàng tháng. Đạt cũng là một trong những người quanh năm suốt tháng, chạy lo cái ăn cái mặc cho gia đình muốn hụt hơi rồi. Đạt ít quan tâm tới chuyện thiên hạ. Nhiều đồng đạo cao niên, thường xuyên đến Thánh Thất cúng. Họ hay tụm năm, tụm ba bàn tán về sự vắng mặt của anh Lê. Anh ấy là một tín đồ ngoan đạo, mấy tháng nay không đến Thánh Thất tham dự lễ cúng rằm, ngày vía như thường lệ. Sự việc đột ngột bặt tích của anh Lê cũng quên lãng dần trong lòng những đồng đạo thương mến anh theo thời gian lặng lẽ trôi qua.

Một buổi chiều cuối tháng mười một dương lịch năm 2005, Quân hớt hải bước vô nhà Đạt nghẹn ngào nói:

-Trái với nguồn tin có ác ý. Mấy tháng nay, tin đồn về việc anh Lê mất là sự thật anh Đạt à. Cảnh sát phát giác một thi thể người chết đã rữa thịt, chỉ còn trơ xương. Nhờ có giấy tờ tùy thân trong túi quần xác chết, cảnh sát đã biết ngay danh tánh và địa chỉ kẻ xấu số. Sau khi cảnh sát tiến hành thủ tục giảo nghiệm điều tra xong, vợ con anh Lê đã được nhận xác về lo mai táng.

Quân lau vội nước mắt ràn rụa trên đôi má. Trước khi ra về, Quân hẹn Đạt:

-Chúng mình cùng đến nhà quàn Peak Family tham dự đám tang anh Lê nhé?

Đạt đáp lời:

-Không biết thì thôi, khi biết gia đình tổ chức ngày tang lễ anh ấy. Là chỗ bạn bè thân tình, chúng mình phải đến giúp một tay vào tang lễ. Để chúng ta cùng xót thương một đại úy pháo binh bị bắt buộc phải bại trận ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó, anh ta phải chịu nhục nhã tám năm tù khổ sai trong trại cải tạo tận miền Bắc Việt Nam. Mình đến đó để chia sẻ nỗi đau bất hạnh của một H.O, mà người gây ra chính là vợ con của anh ấy. Bản thân anh đã cưu mang họ từ Việt Nam Cộng Sản sang đất Hoa Kỳ văn minh giàu có nầy. Họ không nhớ cái giá họ được phây phây sống hiện nay trên xứ Mỹ là công lao của anh ấy đã đỗ ra trên chiến trường binh lửa, cùng những năm tháng dài bị Cộng Sản đày đọa trong tù! Hay tự nhiên, chính phủ Mỹ đặc ân bốc mẹ con họ qua Mỹ? Vùng đất họ được cơm no áo ấm. Nay họ được giàu sang, lắm tiền lắm bạc, tiêu xài như nước và vung tiền qua cửa sổ. Họ hãnh diện về thăm quê hương rửa mặt mũi bằng đô la. Họ đối xử rộng rãi với người xa kẻ lạ để được lời tâng bốc khen tặng Việt kiều thơm thảo. Trong khi họ đành lòng xua đuổi thẳng tay người ơn lớn của họ. Người cha già đã cưu mang họ qua đây, ra khỏi căn nhà chẳng một chút xót thương!

Vài lời báo tin ngắn ngủi của Quân, người bạn đồng khóa, Đạt thở dài lắc đầu ngao ngán cho nhân tình thế thái, chàng lẩm bẩm:

– Nhẫn tâm đến thế là cùng?

Cả khúc phim dĩ vãng cuộc đời anh Lê, Đạt được nghe chính miệng anh ấy tâm sự từ lâu lắm, nay nó như hiện rõ mồm một trong trí nhớ của Đạt. Văng vẳng tiếng hát của một ca sĩ phát ra từ chiếc radio bên nhà hàng xóm: Anh không chết đâu em, anh chỉ về với mẹ đêm qua , bản nhạc mà anh Lê ưa thích nhất trong những bản nhạc hay. Nó được ăn sâu trong lòng người dân, người lính Miền Nam Việt Nam.

*

Một buổi sáng nắng ấm, Trên bầu trời trong xanh, vài dãi mây trắng lưa thưa hờ hững trôi lơ đãng. Những tia nắng vàng nhảy múa trên cành cây ngọn cỏ. Tiếng ríu rít của đàn chim nhỏ hòa lẫn với các chú quạ đậu trên những sợi dây điện như chào đón một ngày mới bắt đầu. Đạt cầm trên tay tờ nhật báo Người Việt từ cửa tiệm bán báo hấp tấp bước ra. Đạt dừng lại cạnh thùng rác lớn của khu thương mãi. Chàng đưa tay bá vào vai một người đàn ông đang lom khom, chăm chú bươi móc trong thùng rác. Đạt lên tiếng:

-Chào anh Lê! Lâu quá mới có dịp gặp anh. Dạo nầy anh chị và mấy cháu vẫn khỏe chứ?

Một người đàn ông cao nghệu, gầy ốm đang cúi mặt

Anh ta dùng hai cây nhặt những lon nhôm, lượm giấy cát tông trong thùng rác lớn của khu thương mãi. Nghe tiếng người chào hỏi quen giọng. Người đàn ông ngẩng đầu lên nhìn. Trong ánh mắt ông ta như bừng lên một nỗi vui mừng hớn hở. Nhưng không dấu được nét u buồn ẩn chứa trong lòng một thân hình gầy ốm khắc khổ ấy. Người đàn ông chậm rãi trả lời:

-Thật quý hóa! Gặp tôi đang lượm lon mót bọc như vầy, mà anh vẫn đứng lại chào hỏi thân thiện như thế nầy, làm cho tôi cảm thấy lòng mình ấm áp lắm rồi.

Chợt Lê thở dài buồn bã nói:

-Đạt chỉ là một người bạn đồng hương, có liên hệ với thằng em vợ tôi. Anh nhìn thấy tôi làm cái nghề thấp hèn, bần tiện nầy, vẫn đứng lại ân cần thăm hỏi. Anh vẫn tay bắt mặt mừng, không tỏ một chút cử chỉ nào nghê tởm và khinh khi. Một lần nữa tôi cám ơn Đạt đã làm cho tôi thật xúc động. Trong khi vợ và mấy đứa con của tôi, thấy tôi đi làm cái nghề bần tiện nầy, họ ra mặt khinh bỉ và ghét bỏ. Họ còn buông những lời đuổi tôi ra khỏi nhà:

-Nếu không từ bỏ cái nghề lượm lon mót bọc, làm xấu hổ gia phong. Anh hãy tìm nơi khác mà ở. Anh đừng ở trong căn nhà nầy làm xấu mặt xấu mày vợ con.

Bên cạnh đó, còn có gia đình thằng em trai út của vợ tôi. Con của nó là bác sĩ nầy, bác sĩ nọ. Phải công nhận con cái nó giỏi thật. Đứa nào cũng thành đạt trên bước đường học vấn ở xứ Mỹ nầy. Gia đình nó có tiền nhiều, có học vị cao. Nó là mạnh thường quân của hội đoàn nầy, hội đoàn nọ. Nó được báo chí, truyền thanh nhắc nhở đến tên tuổi. Lại được chụp hình quay phim lên truyền hình, đăng trên báo chí và được nhiều người ca tụng ngợi khen công đức từ thiện của họ. Thật xứng đáng với đồng tiền họ đã bỏ ra. Có tiền rồi mua danh mấy chốc. Kẻ mạt rệp như tôi, vướng vào chỉ phiền toái thêm thôi. Với tôi, họ cố tránh gặp mặt. Những khi đến Thánh Thất cúng, nếu có lỡ gặp nhau, họ cũng làm ngơ như người xa kẻ lạ. Hoặc miễn cưỡng lắm khi phải đối diện nhau, họ chỉ chào hỏi lấy lệ. Câu chào hỏi nghe thật khô khan lợt lạt:

-Chào anh!

Lời chào miễn cưỡng thốt ra rồi vội bước nhanh, họ sợ đứng lại hôi mùi mót bọc làm nhơ danh đến họ chăng? Lê ngỏ ý nhờ Đạt chuyển lời lại với thằng em vợ của mình:

-Thằng em vợ của tôi là cháu rể của Đạt. Tôi tha thiết nhờ Đạt chuyển lời giùm. Tôi đã lớn tuổi rồi, không biết sống được bao lâu nữa sẽ nhắm mắt. Tôi chỉ muốn vợ chồng nó mỗi khi có dịp gặp tôi ở Thánh Thất hay nơi nào đó. Xin đừng ra mặt khinh khi tôi như vậy nữa. Tôi chỉ là thằng lượm lon, mót bọc. Tôi không phải là tên đầu trộm đuôi cướp, đâm thuê chém mướn. Dầu gì tôi cũng là anh rể của nó. Xin họ cho tôi một nụ cười, một lời nói vui vẻ khi có dịp gặp nhau. Nơi xứ lạ quê người, tôi ao ước chỉ có thế thôi! Ngoài ra, tôi không mơ ước gì hơn nữa cả. Điều ao ước của tôi có quá lắm không hở Đạt?

Nghe Lê trách móc thằng em vợ đối xử quá thậm tệ, Đạt thấy lòng ái ngại không ít vì nó cũng là cháu rể của Đạt. Lúc mới từ Việt Nam qua Mỹ, Đạt cũng hay lui tới với gia đình Huỳnh, thằng em vợ của anh Lê. Nhưng Đạt không dám nhận lời ủy thác của anh ấy. Đạt đưa hai tay ôm chầm lấy anh Lê với lời an ủi:

-Lâu nay, tôi biết thằng Huỳnh rất khó tánh. Chỗ anh em, xin nói thật, tôi không dám nhận lời ủy thác đó của anh đâu. Tôi sợ nó chẳng những không nghe mà còn chưởi cha tôi nữa. Xin anh thông cảm đừng buồn tôi. Anh Lê à! Trên cùng một bàn tay còn có ngón dài ngón ngắn. Không có ngón nào giống ngón nào cả. Trong xã hội, con người cũng vậy thôi anh à. Có ai giống ai đâu? Hơi sức nào mà buồn ai làm chi cho tổn hại sức khỏe. Mình sống cho mình. Miễn lương tâm mình không lên án mình là kẻ lường gạt, xảo trá, ăn cắp, ăn trộm, phản đạo và phản thầy là được. Mình không tham phú phụ bần, ton hót nịnh bợ là được rồi. Trong xã hội, chỉ có người hèn, chứ không có nghề hèn. Mình đem công sức, mồ hôi nước mắt đổi lấy đồng tiền, bát gạo trong liêm chính. Mình đâu có lười biếng ngồi không ngửa tay xin của bố thí. Anh buồn rầu cho thiệt thân vô ích.

Lịch sử nước Mỹ, có những nhà triệu phú và những tai to mặt lớn, trước kia họ cũng làm những nghề thấp hèn như chạy bàn, rửa chén. Lịch sử Việt Nam cũng có một Đinh Bộ Lĩnh, từ một đứa bé chăn trâu đã làm nên nghiệp lớn. Tỉnh Tây Ninh mình cũng có ông Tô Văn, chủ tiệm vàng lớn ở chợ quận Gò Dầu Hạ. Thuở nhỏ mồ côi cha mẹ sớm, vừa đi học, vừa gánh nước mướn ơ û Sài Gòn. Lớn lên có nghề nghiệp vững vàng. Sau ngày chiếm trọn Miền Nam, Việt Cộng đã tịch thu của ông ta hơn một ngàn lượng vàng.

Xúc động trước lời an ủi của bạn đồng hương, Lê tâm sự tiếp:

-Sở dĩ tôi nai lưng ra lượm lon mót bọc như thế nầy là để kiếm thêm ít tiền. Tôi muốn gởi về giúp cho bạn bè, bà con còn quá nghèo khổ bên Việt Nam. Tôi còn dành dụm chút ít đóng góp cúng chùa cúng miễu. Thân tôi hay ốm đau, tôi không thể làm việc được như những người khỏe mạnh để có tiền giúp đỡ người thân. Hai đứa con gái lớn của tôi làm nghề Nail cũng có khá tiền. Nhưng chúng đã có chồng có con, chúng phải lo gánh vác chuyện gia đình của chúng. Tôi không thể hỏi xin tiền bạc của chúng để giúp thân nhân và bè bạn bên Việt Nam được. Thế mà vợ con tôi nỡ lên tiếng cấm đoán không cho tôi đi lượm lon mót bọc vì sợ xấu hổ với bạn bè và với sui gia. Vợ con tôi đã từ bỏ tôi. Buộc lòng tôi phải theo tá túc với thằng em ruột của mình. Tôi rất ngại với em dâu và các cháu, nhưng không biết tính sao trước hoàn cảnh chẳng đặng đừng nầy?

Lấy tay quẹt hai hàng nước mắt lăng dài trên má, Lê buồn bã tâm sự tiếp:

-Qua Mỹ, tôi có quen biết một người tên Hiếu. Anh ấy gốc gác ở tỉnh Kiến Hòa ( Bến Tre ). Anh ấy là phế binh cụt mất bàn tay phải trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 ở tỉnh Bình Long. Gia đình anh Hiếu vượt biên sang Mỹ rất sớm. Anh có hai thằng con trai còn nhỏ. Vì cụt mất một bàn tay, anh Hiếu không biết làm nghề gì để sinh sống. Vợ anh không biết may, lãnh cắt chỉ quá ít tiền không đủ sống. Chúng tôi đi làm hãng cũng không xong vì tiếng xứ người không biết. Trước nhu cầu đòi hỏi của gia đình. Nhứt là muốn đầu tư cho tương lai hai thằng con nhỏ. Sau mấy ngày đêm bàn tính, vợ chồng anh Hiếu quyết định mượn đỡ bạn bè số tiền mua một chiếc xe Truck nhỏ, cũ, để làm phương tiện mưu sinh.

Ngày ngày, hai vợ chồng anh Hiếu đưa nhau đi lượm giấy cát-tông và nhặt lon mót bọc. Nhờ chịu khó, chịu khổ với công việc nhiều người chê bai là bần tiện thấp hèn nầy, nhưng nhờ nó, gia đình anh Hiếu sống rất vững vàng và hạnh phúc trên đất Mỹ. Anh chị ấy còn có khả năng thỉnh thoảng biếu xén quà cáp cho thân nhân ở bên Việt Nam.

Năm tháng trôi qua, Trời đã đãi ngộ cho người có lòng nhiệt tâm với cuộc sống. Thằng con lớn của anh chị Hiếu ra trường với mảnh bằng Kỹ Sư Computer loại giỏi. Nó xin việc làm dễ dàng, đồng lương rất hậu hĩ. Vài năm sau, thằng con út của anh ấy ra trường Nha Sĩ. Gia đình anh Hiếu vô cùng hạnh phúc. Con dâu lớn là kỹ sư, con dâu út là Dược Sĩ. Một người lượm lon mót bọc như vợ chồng anh Hiếu có đáng cho người đời chê bai khinh miệt hay phải ngả mũ chào tôn vinh?

Thông cảm trước những lời tâm sự của anh Lê, Đạt lên tiếng an ủi:

-Anh đừng buồn nữa, có dịp gặp Bé Hai con gái của anh. Tôi sẽ lựa lời nói phải quấy cho nó nghe. Hy vọng mấy đứa con anh sẽ nghĩ lại thương anh mà đón rước anh về chung sống trong gia đình cho vui nhà vui cửa.

Nói xong, Đạt từ giã anh Lê đi về chuẩn bị cho giờ đi làm ca ba. Nhìn theo Đạt ung dung lái xe đi. Lê buồn vô hạn. Chàng nhớ về dĩ vãng của cuộc đời mình.

..Thuở ấy, Lê sinh ra trong một gia đình khá giả. Lê chỉ có ba anh em, hai trai một gái. Lê là anh cả. Chàng bước vào ngưỡng cửa đại học được hai năm. Có lệnh tổng động viên. Lê đành gác bút nghiên theo nghiệp binh đao cũng như hàng ngàn thanh niên trai tráng trong thời buổi đó. Chiến tranh cuốn hút Lê vào bổn phận trai thời chiến. Ra trường Bộ Binh Thủ Đức, Lê chọn ngành pháo binh để phục vụ. Cũng như luật sinh tồn của loài người, lớn lên phải có yêu đương, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường.

Lê theo đuổi Huỳnh Thương, một nữ sinh con nhà giàu nổi tiếng trong tỉnh. Chàng đã bao ngày Anh theo đường về, anh theo ngõ về . Khi đó, Lê cũng con nhà giàu có hạng trong tỉnh. Một chuẩn úy mới ra trường, bảnh trai, dễ gây cảm tình với bao cô gái trẻ đẹp. Vừa đẹp trai, vừa chai mặt nên Lê đã nhanh chóng chiếm được trọn vẹn cảm tình của Huỳnh Thương, con gái cưng của một doanh gia lớn trong tỉnh.

Tình yêu của họ đẹp như một bài thơ, êm xuôi không một cản trở của gia đình. Họ hẹn hò, đưa đón. Như bao cặp tình nhân khác trên đời, được sự đồng ý của cha mẹ hai bên. Một đám cưới linh đình được tổ chức làm rỡ ràng hai họ Lê Huỳnh.

Là tiểu thơ con nhà giàu , Huỳnh Thương về làm vợ Lê. Nàng không hề ra đời bươn chải làm ăn kiếm sống phụ chồng. Nàng chỉ ở nhà lo việc tề gia nội trợ.

Nàng lần lượt làm mẹ của bốn đứa con. Huỳnh Thương chỉ trông cậy vào đồng lương hàng tháng của Lê. Hạnh phúc gia đình êm đềm theo năm tháng.

Nhưng rồi, ngày 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra, Lê phải trình diện cải tạo như bao nhiêu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khác. Vợ con chàng nhờ vào mức sống căn bản vững vàng của gia đình cha mẹ hai bên. Nàng không đến nỗi nào phải bươn chải chật vật lắm. Các con nàng đã được nội ngoại hai bên phụ nuôi. Huỳnh Thương chỉ phụ giúp chút ít trong cơ sở kinh doanh của cha mẹ ruột. Cuộc sống cũng khá ưu đãi quãng đời của Huỳnh Thương.

Cũng như đa số sĩ quan khác, Lê bị khổ sai trong trại tập trung cải tạo hơn tám năm mới được tha về. Một sự lường gạt trắng trợn của kẻ chiến thắng đang cầm quyền. Thông cáo chỉ mười ngày học tập mà kéo dài đến hơn tám năm khổ sai, Lê mới được tạm tha về. Biết bao uất hận chất chứa trong lòng. Lê chỉ mong có ngày phục hận.

Được về với gia đình trong thân tàn ma dại. Khi nhanh chóng được phục hồi sức khỏe, Lê vờ đi bán vé số, trước kiếm chút ít tiền lời phụ vợ nuôi con. Sau là chàng có cơ hội đi đây đi đó, nhờ bình phong bán vé số dạo che mắt công an theo dõi. Lê muốn tìm gặp những người bạn còn có tấm lòng yêu quê hương đất nước.

Chương trình H. O ra đời, Chính Phủ Mỹ mở lòng nhân đạo. Họ muốn cứu vớt Quân Cán Chính Việt Nam Công Hòa cùng gia đình còn sống sót sau những đòn thù thâm độc và dã man của kẻ chiến thắng muốn tận diệt đối phương. Lê cưu mang được hết tất cả vợ con qua Mỹ năm 1991. Cuộc sống xứ người khó khăn trước mắt. Nhưng một thanh niên đầy nghị lực, đã từng chịu đựng gian khổ trong đời lính. Lê đã từng đón nhận bao nỗi gian khổ nhục nhã trong trại tù khổ sai của Cộng Sản. Chàng vất vả ngược xuôi khi được thả về với gia đình. Nên khi qua Mỹ, tuy có khó khăn nhưng chàng không chùn bước. Tuy sức khỏe yếu kém, Lê cũng cố gắng hết sức mình. Ngày đêm chàng lái xe đi lượm lon mót bọc khắp các thành phố xung quanh khu Little Sài Gòn.

Việc làm của Lê kéo dài được gần một năm, vợ và bốn đứa con của Lê kịch liệt phản đối. Họ nhẫn tâm đuổi Lê ra khỏi nhà lần thứ nhứt. Nhân khi Hoàng -thằng con trai lớn của Lê bị cô bạn gái nó bỏ rơi. Hoàng đổ thừa do ba nó mà ra cớ sự, nó đã lớn tiếng nạt nộ Lê:

-Bạn gái của con đã xa lánh con cũng vì ba đó thôi. Ba đi làm cái nghề xấu hổ đó làm sao con cái của ba có vợ có chồng cho được. Ba hãy đi ra khỏi cái nhà nầy đi!

Lê khóc vùi khi tất cả các con và vợ quyết lòng xua đuổi chàng ra khỏi nhà. Không biết nương tựa vào đâu, Lê đành phải đến tá túc với thằng em ruột ở thành phố gần đó.

Xứ lạ quê người, hai anh em Lê thương nhau vô kể. Biết rằng có thêm người ở trong nhà cũng là điều làm cho vợ con mình không thoải mái lắm. Nhưng anh ruột mình đang gặp cảnh đau lòng quá sức tưởng tượng, Hớn dang tay đón Lê về sống chung trong nhà cho ấm tình ruột thịt.

Giữa năm 1995, gia đình Đạt cũng được đến Mỹ theo diện H.O, sau gia đình anh Lê khoảng bốn năm. Bé Hai, con gái của anh Lê, là bạn với con gái của Đạt. Được tin, Bé Hai đến thăm và chúc mừng gia đình Đạt được đến Mỹ.

Hơn một giờ hai đứa trẻ thăm hỏi nhau chuyện nầy chuyện nọ. Đạt lên tiếng xen vào hỏi Bé Hai:

-Lúc nầy ba cháu có khỏe không, làm gì?

Con gái anh Lê bĩu môi, ranh mãnh trả lời:

-Cám ơn lời thăm hỏi của chú. Ba cháu vẫn khỏe. Nhưng từ ngày qua Mỹ đến nay, ba cháu chỉ đi làm cái nghề bêu xấu danh dự gia đình mà thôi. Tụi cháu cảm thấy nhục nhã lắm khi anh cháu bị bạn gái bỏ rơi. Bởi chị ấy cảm thấy xấu hổ với cái nghề của ba cháu. Mấy anh chị em cháu đồng lòng lên tiếng với ba cháu:

– Nếu ba muốn ở chung với tụi con, ba phải bỏ nghề lượm lon mót bọc tức khắc. Bằng không, ba phải rời khỏi căn nhà nầy ngay!

Con bé vừa nói dứt lời, máu nóng trong người Đạt như dâng cao. Không kềm chế được. Đạt đăm đăm nhìn vào mắt con bé. Chàng như muốn ăn tươi nuốt sống một đứa con quá ngỗ nghịch và bất hiếu không thể tha thứ được. Tự nhiên, những giọt lệ thương hoàn cảnh anh Lê rơi trên đôi má của chàng. Con gái Đạt nhìn thấy, nó hốt hoảng hỏi:

-Sao ba lại khóc?

Đạt ngậm ngùi trả lời con:

-Hôm nay, anh Lê bị đám con của anh cư xử như vậy! Chẳng biết đến khi nào đám con của ba cũng cư xử với ba như thế? Danh dự ! Danh dự ! Bạn của con cư xử với cha nó tán tận lương tâm như vậy chỉ vì chút danh dự hảo không phải chỗ. Nó không phải đạo làm người và chẳng phải đạo làm con! Như vậy, nó có đáng cho con kết bạn nữa không?

Con gái Đạt đưa đôi mắt tròn xoe nhìn chòng chọc vào bạn gái nó một hồi. Rồi nó chạy lại ôm chầm lấy Đạt mạnh dạn nói:

-Không bao giờ! Con không bao giờ có thể tàn nhẫn cư xử với ba như vậy được. Dầu gì con cũng là con người. Con có mặt trên đời nầy cũng do cha mẹ tạo ra. Con không phải là kẻ ở dưới đất nẻ chui lên. Con cũng không phải là loài thú dã man mà có thể can đảm cư xử với người cha mình như thế được. Dầu thế nào cũng là cha đẻ của mình. Hơn nữa con được đến đất Hoa Kỳ nầy cũng nhờ Ba đã can cường chiến đấu và sự đánh đổi sau sáu năm tù khổ sai tủi nhục của ba mới có được!

Đạt sung sướng ôm con vào lòng.

-Ba rất ấm lòng khi nghe con của ba nói được những lời tốt đẹp đó.

Quay qua Bé Hai, Đạt trầm buồn nói:

-Có lẽ sau khi ở tù Việt Công về, ba cháu không kể lại cho anh em cháu nghe những tủi nhục đau thương của người thua cuộc. Họ bị kẻ chiến thắng đày đọa dã man như thế nào trong suốt thời gian ở trại tập trung Cải tạo phải không cháu?

Bé Hai cúi đầu, nhỏ nhẹ trả lời:

-Dạ! Ba cháu chẳng bao giờ nói điều gì cả.

Đạt tiếp lời:

-Có lẽ ba cháu không muốn làm vẩn đục tâm hồn non nớt ngây thơ của những đứa con mình. Nhưng theo chú, đó là một sai lầm vô cùng lớn lao của ba cháu. Lẽ ra, ba cháu nên kể cho con cái biết những nỗi khổ đau của những người thua trận, họ bị kẻ chiến thắng trả thù hết sức dã man. Như một trung đội Nghĩa Quân, một Cuộc Cảnh Sát Xã hơn hai mươi nhân viên ở xã Trung Lập đã bị giết tập thể ngay trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đại úy Phân Chi Khu Trưởng Trần Thắng Toàn bị lẻo da lóc thịt cho đến chết . Xã Trưởng Nguyễn Trọng Huệ bị chặt làm ba khúc ngay sau khi bị bắt trong ngày Miền Nam thất thủ. Sau 30 tháng 4, trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa có biết bao nhiêu trường hợp đã xảy ra như xã Trung Lập, quận Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa? Ủy Ban Quân Quản của kẻ chiến thắng ra thông cáo, kêu gọi Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa phải đi trình diện. Họ phải mang theo ba mươi ngày ăn hoặc mười ngày ăn tùy theo cấp bậc, chức vụ và đợt trình diện. Họ tiếp tục bị hành hạ, bị làm nhục và bị giết chết trong tù. Tụi chú ăn uống đói khát như thế nào phải nói cho con cháu nó biết. Để chúng nó ý thức được trách nhiệm của mình đối với quê hương, dân tộc. Nhứt là bổn phận đối với cha của chúng. Nếu ba cháu chịu nói sự thật cho các cháu biết. Chú tin chắc rằng ba cháu sẽ không bị các cháu cư xử bạc đãi đến như thế nầy đâu! Tiện đây, chú kể sơ vài chuyện chính chú là nạn nhân,hay những bạn tù của chú là người trong cuộc.

Cố nén xúc động trong lòng, ngừng một hồi Đạt nói tiếp:

-Cháu có biết Thiếu Úy Nguyễn Kim Tiên không?

Bé Hai ngập ngừng trả lời:

-Cháu không biết, nhưng có nghe nói đến tên Thiếu Úy Nguyễn Kim Tiên

-Cháu có biết vì sao vợ con của thiếu úy Tiên không được đi Mỹ không?

-Dạ cháu có nghe nói!

Đạt gằn giọng:

-Nếu cháu đã biết trường hợp vợ con của thiếu úy Tiên không được Mỹ chấp thuận cho đi diện H. O, chỉ vì thiếu úy Tiên đã chết mấy ngày trước khi được phỏng vấn. Mặc nhiên cháu đã hiểu rằng, nếu không có ba cháu thì chắc chắn mẹ con cháu sẽ không bao giờ được đặt chân lên xứ sở nầy. Thế mà mẹ con cháu lại đành lòng cư xử tệ với ba cháu như vậy? Nếu không còn quý trọng tình vợ chồng, nghĩa cha con. Ít ra cũng phải nhớ tới cái ơn ba cháu đã cưu mang từ ngục tù Cộng Sản tăm tối đói nghèo, sang xứ sở tự do văn minh giàu có này mới phải đạo làm người chứ. Lẽ nào lại nhẫn tâm cư xử tàn tệ ba cháu đến như thế sao hả cháu?

Đạt nhìn thấy bé Hai đã thấm thía trước những lời tâm tình của mình. Nó rơi nước mắt. Chàng hớp một hớp nước thắm giọng:

-Cháu có biết, tiếng học tập cải tạo chỉ là mỹ từ để che đậy cái xấu xa đáng ghê tởm của một trại tù khổ sai không? Tù nhân bị đày đọa tột cùng mà không biết ngày tháng nào mình được mãn án. Nơi đó, người học viên bị đọa đày khổ không biết đâu mà nói. Suốt ngày lao động cực nhọc, họ chỉ được ăn hai chén cơm hay ba chén khoai mì hoặc khoai lang xắc lát phơi khô được hấp lại cộng với hai muỗng nước muối tanh tanh mà thôi. Trong những năm 1977, 1978, người dân cả nước lâm vào tình trạng đói khát trầm trọng vì chính sách vơ vét tài sản của nhân dân. Anh em trong tù cải tạo không biết đến hột cơm là gì. Chỉ toàn bo bo hoặc bắp mà thôi. Nhiều anh em không chịu đựng nỗi đã vĩnh viễn ra đi.

Anh em nào bị chúng chê chay lười lao động, là chiều hôm đó không được tắm. Ốm đau không có thuốc men điều trị (thuốc tây). Anh em trong tù mắc phải bệnh gì cũng chỉ được bố thí vài viên thân dược Xuyên tâm liên mà thôi. Biết bao anh em phải bỏ xác trong tù do bệnh hoạn không có thuốc men chữa trị. Thậm chí có người chỉ mắc bệnh tiêu chảy, bị cảm sốt cũng đành lìa trần . Ở xã Phước Lưu, có trung sĩ cảnh sát Đặng Văn Tây. Trảng Bàng có trung úy pháo binh tên Quang đã chết vì cảm không có thuốc uống. Nếu biết trước bọn họ đối xử thậm tệ như thế, chắc chắn chẳng có một ai phải ngoan ngoãn cuốn quần cuốn áo trình diện đâu. Có nhiều anh em, vì không chịu đựng nổi sự tủi nhục, đã tìm cách trốn trại hoặc tự vận chết.

Hình ảnh anh kỹ sư Hùng, nhà đối diện với rạp chiếu bóng Văn Hoa Đa Kao Tân Định ngày trước, luôn luôn in sâu trong đầu chú:

-Cả toán hơn mười người, thấy anh Hùng ốm yếu nhất, tất cả anh em trong toán đồng ý để anh tưới rau. Số còn lại đi gánh nước từ xa đem lại. Trong lúc anh Hùng đang cầm khúc cây quậy phân – sản phẩm của người tù cải tạo – trong thùng nước. Thiếu úy bộ đội Cộng Sản tên An, chỉ tay vào mặt anh Hùng quát lớn:

-Thằng tù kia, mạng sống của mầy còn chẳng ra gì mà còn sợ hôi sợ thúi hả? Mầy hãy vứt khúc cây kia xuống đất, lấy tay thò vào thùng nước mà quậy. Vừa quậy, vừa bóp phân cho mau loãng vào nước mà tưới. Mầy quậy bằng khúc cây biết đến bao giờ mới tưới được. Mầy lao động chay lười đến thế kia à?

Chú liếc nhìn thấy anh Hùng buộc lòng phải vứt khúc cây xuống đất. Anh ấy nhanh nhẩu đưa hai tay vào thùng nước đầy phân người vừa quậy vừa bóp nát theo lệnh dã man của viên sĩ quan quản giáo ấy.

Khi thấy anh Hùng râm rấp tuân theo lệnh. Nó mỉm cười đắc thắng đứng nhìn anh Hùng quậy nước phân. Nước mắt anh Hùng trào ra. Lòng chú se thắt lại để chia sớt nỗi nhục nhã của kẻ bại trận. Bọn chú im lặng làm nhiệm vụ thằng tù không bản án.

Còn nữa nói ra không hết chuyện. Một buổi trưa nọ, sau khi đi làm tạp dịch cho doanh trại Bộ Đội. Trên đường trở về láng trại, tụi chú được anh vệ binh dẫn đi ngang qua chuồng heo. Thấy trong máng heo có mấy miếng cơm cháy -các con heo đã no không thèm ăn nữa. Vì đói, tụi chú nhìn miếng cơm cháy thèm chảy nước miếng. Nhưng con heo nào có biết được tình trạng đói khát của tù nhân mà san sẻ bớt phần ăn thừa thãi của chúng?! Trong bọn chú, có anh Hy không kềm chế được sự thèm khát của mình, anh ta đã nhanh nhẩu thò tay vào máng ăn cắp của heo một miếng cơn cháy lớn cỡ bàn tay, dấu vội trong túi quần. Không may cho anh, tên vệ binh trông thấy. Nó ra lệnh cho tụi chú đứng lại, hách dịch lên tiếng:

-Trong bọn các anh, thằng nào vừa lấy trộm suất ăn của heo hãy tự giác đứng ra!

Tất cả bọn chú hồi hộp, lo âu và chờ đợi… như nín thở trong mấy mươi giây. Chú thấy mặt anh Hy tái mét bước ra khỏi hàng. Bẽn lẽn, anh ấy đưa tay vô túi quần lấy ra một miếng cơm cháy, run run lên tiếng:

-Tôi xin nhận khuyết điểm nầy. Vì đói, nhìn thấy miếng cơm cháy tôi quá thèm. Tôi không tự kềm chế được mình, nên tôi đã lấy cắp phần ăn của heo. Xin cán bộ cho phép tôi được đem trả lại cho nó.

Với gương mặt lạnh lùng, đượm đầy tính dã man của một con thú dữ, tên vệ binh quát to:

-Không được! Anh là người mà lấy trộm thức ăn của heo để ăn. Anh muốn bôi bác chế độ phải không? Cách mạng rộng lượng khoan hồng, tha tội chết cho các anh, nuôi các anh như thế nầy không đủ sống sao? Đã bị anh ăn cắp, con heo coi như đã mất phần ăn rồi. Anh khỏi phải trả lại cho nó. Tôi muốn anh hãy bỏ miếng cơm cháy đó xuống đất, ngay trước mặt anh. Rồi anh lấy chân chà miếng cơm cháy ấy ra cho đến khi nào không còn thấy miếng cơm cháy đó mới thôi!

Anh bạn tù vừa cầm miếng cơm cháy vừa run rẩy nói:

-Xin cán bộ…

Nét mặt đằng đằng sát khí, tên vệ binh miệng quát, tay cầm súng lên đạn Rốp! Rốp! :

-Tôi đã ra lệnh, anh có thi hành không thì bảo!

Sợ quá, anh Hy vội vàng bỏ miếng cơm cháy xuống đất. Hai chân chà lia lịa lên miếng cơm cháy. Hơn một giờ chà tới chà lui, miếng cơm cháy đã nát nhừ không còn thấy gì cả. Tên vệ binh nở nụ cười đắc chí:

-Ít ra cũng phải ngoan ngoãn với ông như thế chứ?

Sau đó, bọn chú mới được cho vào trại với lời dọa:

– Còn tái phạm, chúng ông sẽ bắn nát đầu đấy!

Bọn chú đứng nhìn anh Hy chà miếng cơm cháy dưới chân, cơ thể anh nào cũng nóng bừng như muốn đốt sống tên ác thú đội lớp người nầy! Chú ấm ức lắm, nhưng đành im lặng cũng như bao nhiêu anh em khác. Thật nhục nhã vô cùng của một kiếp hàng binh đói khát.

Giữa năm 1980, ở trại Z.30/ D. K 2 Hàm Tân. Không chịu đựng nổi sự đọa đày khắc nghiệt của cai tù. Mười sáu bạn trẻ -tuổi từ 16 đến 20- trong lực lượng Liên Bang Đông Dương và Dân Quân Phục Quốc. Đa số quê ở vùng Tiền Giang và Hậu Giang. Lợi dụng lúc bị đưa đi lao động, anh em đồng loạt bỏ chạy vô rừng mong thoát khỏi gông cùm Cộng Sản. Nhưng trước họng súng bạo tàn của vệ binh, các em lớp bị bắn chết tại chỗ, lớp bị thương và bị bắt trở lại. Chỉ có một em duy nhất chạy thoát thân. Kết quả có năm em bị bắn chết tại chỗ và ba em bị thương. Chúng lôi các em bị thương về tới sân cờ, chúng nhẫn tâm bắn nát thân thể các em để dằn mặt những tù nhân khác. Thêm một hình ảnh dã man in đậm trong lòng chú. Đời đời chú khó quên những hành động dã man nầy!

Lại nữa hình ảnh bà mẹ già của chú, bà hơn sáu mươi tuổi. Dịp Tết năm 1980, sau bao ngày tháng mẹ chú chắc chiu dành dụm. Mẹ thức khuya ngồi chen chúc như ém mắm trên chiếc xe đo cũ kỹ. Mẹ chú phải gồng gánh quà cáp nặng trĩu, mấy lần chuyển xe vì tuyến đường thay đổi. Bà lặn lội gần ba cây số đường bộ mới tới trại thăm con. Mẹ con chú chỉ mười phút gặp mặt, thăm hỏi qua loa vài chuyện đã hết giờ. Mẹ chú muốn cho chú số quà mà bà đã vất vả mang tới trại. Nhưng tên cán bộ thăm nuôi, nhứt định không cho chú nhận bất cứ một thứ quà cáp nào của bà mẹ già vất vả mang tới. Nó hách dịch lên tiếng:

-Con bà học tập chưa tốt, nên cách mạng không ban cho ân huệ được nhận quà cáp của gia đình mang tới. Bà hãy mang về cho con cái ở nhà ăn đi. Anh ấy được cách mạng nuôi cũng đủ rồi.

Mẹ chú năn nỉ mãi cũng không được. Bà đành khóc lóc ra về trong đớn đau buồn tủi. Máu căm thù càng tăng thêm trong lòng chú. Còn hơi thở, chú thề quyết tâm phục hận dưới mọi hình thức.

Đó là những điển hình mắt thấy tai nghe, chú kể sơ cho cháu biết. Chú cháu mình không có nhiều thì giờ ngồi lại để nghe chú kể hết những nỗi đau mà người tù phải gánh chịu. Có lẽ trong suốt tám năm tù, ba cháu cũng gặp phải ít nhiều hay nhìn thấy tận mắt những đau buồn tủi nhục tương tự như thế của người tù Cải tạo.

Nước mắt Bé Hai lăn dài, nó hối hận lên tiếng:

-Lâu nay, không bao giờ cháu được nghe ba kể cho biết những nỗi khổ mà người tù của chế độ phải gánh chịu. Cháu cứ ngỡ hai tiếng học tập rất đơn giản như lũ học trò bọn cháu cắp sách đến trường mà thôi! Tội nghiệp ba cháu và mấy chú, mấy bác sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vướng vào vòng ngục tù Cộng Sản! Cháu hứa với chú, sau khi rời khỏi nhà chú, cháu sẽ đi tìm gặp ba. Cháu xin lỗi ba cháu và tha thiết xin được đón rước Người về sống chung sống trong gia đình với mẹ con cháu.

Đạt vuốt vai bé Hai nhỏ nhẹ nói:

-Cháu đã có được một chút khái niệm trong đầu về những nỗi khổ của người tù trong chế độ Cộng Sản. Chú rất mừng. Chú hy vọng cháu nghĩ lại mà thương ba cháu nhiều hơn.Ba cháu đã hơn tám năm trong ngục tù khổ sai được trá danh Trại học tập cải tạo khổ biết bao nhiêu mà kể ! Nay quảng đời lại, gia đình cháu phải thương cha già, người suốt đới đã hy cho nhà,cho nước.

Điều chú muốn nhắc lại cho cháu biết thêm. Sau khi chiến thắng, chúng ra thông báo kêu gọi đám sĩ quan cấp úy như chú và ba cháu chỉ đem lương thực có mười ngày. Ấy thế mà chú phải mất sáu năm, còn ba cháu, phải mất tám năm mới được thả với mảnh giấy Tạm Tha mà thôi chứ chưa được chính thức tha.

Chúng nó chơi chữ như vậy, cốt để muốn bắt trở lại lúc nào cũng được. Thương xót vô cùng cho một số anh em đã vĩnh viễn không về với gia đình vì đã bị vùi thây trong các trại cải tạo ở chốn rừng thiên nước độc.

Thương cho những gia đình có thân nhân đi học tập ba mươi ngày, hay mười ngày mà suốt ba mươi năm rồi chẳng thấy tăm hơi. Và chắc chắn rằng vĩnh viễn không bao giờ thấy tăm hơi những vị sĩ quan đó. Cộng Sản mà cháu!

Xảo ngôn là nghề của chúng đã quen,
Không gian xảo không phải là Cộng Sản.

Thế mà bất hạnh vẫn không buông tha anh Lê….

o O o

Tiết cuối Thu lành lạnh, bầu trời u ám và như buồn rầu đưa tiễn linh hồn một H.O bất hạnh. Người đã bị vợ con ruồng bỏ phải đi tìm cái chết để gởi gấm tâm tư. Trời đất còn thương xót, huống chi bạn bè thân thuộc lâu nay! Gần hai trăm bạn bè và đồng đạo tụ họp ở nhà quàn Peak Family dự lễ hỏa táng. Tất cả mọi người đều rơi nước mắt xót thương kẻ khuất mặt và không ngớt nguyền lời rủa kẻ bạc tình, vong ơn bội nghĩa.

Nhiều người tham dự tang lễ, to nhỏ bàn tán với nhau về cái chết của anh Lê, mỗi người mỗi câu :

-Khóc lóc làm gì ? Nước mắt cá sấu! Khi ông ta sống không cho ăn, cho ở. Gia đình lại ruồng bỏ hất hủi. Họ đan tâm để chồng, để cha chết bụi chết bờ. Khi anh ta chết làm mâm cao cỗ đầy khóc lóc cúng cho ruồi đậu !

Có người như rành chuyện xen vào:

–Mẹ con bà nầy thật vô cùng đoản hậu, hợ nỡ nhẫn tâm dàn cảnh mướn xe U HAUL dọn nhà đi Las Vegas, họ không cho anh ấy cùng đi. Buồn lòng, anh Lê phải khăn gói đến nhà người em ruột tạm ở lần thứ hai. Khi biết được tin đó, mẹ con bà Huỳnh Lê liền dọn đồ đạc quay trở về nhà tiếp tục ở lại. Sau này anh được đứa con gái rước trở về sống chung với gia đình ngót bảy tám năm liền. Anh vô cùng mừng rỡ, anh cứ ngỡ rằng mình sẽ được sống bên cạnh vợ con cho đến ngày nhắm mắt lìa trần. Dầu rằng cuộc sống bên cạnh vợ con không có gì là hạnh phúc. Rất tiếc, đứa con đã biết thương anh lại có chồng nước ngoài, phải sống xa anh muôn dặm.

Cây muốn yên mà gió không lặng

Rồi cuối cùng Anh ấy cũng bị xô đẩy ra khỏi nhà để ngày nay phải chết thảm, chết lạnh lẻo, chết bụi,chết bờ.

Có người chen vào trách móc:

-Bà ta dầu đã hết nghĩa vợ chồng. Nhưng anh ấy là người đã cưu mang họ qua đây. Nỡ nào cam tâm như thế? Bà ta đi lễ chùa làm chi mà lòng dạ độc ác hơn loài rắn độc!

-Bà ta là người vợ không trọn lòng với anh trước đây. Nhưng anh ấy vẫn tha thứ, và cưu mang qua đất Mỹ. Khi được đủ đầy, chị ta tỏ ra hất hủi, khinh khi chồng ra mặt. Buồn tình, anh ấy chẳng biết than thở cùng ai nỗi lòng thầm kín của mình ngoài những dòng nhật ký gói trọn tâm tư. Không may, chị ấy đã đọc trọn vẹn những sai trái của mình do người chồng ghi trên trang nhật ký. Một trận lôi đình nổi dậy giữa hai vợ chồng già.

Chị ta đã không hối hận trước những sai phạm của mình. Chị ta quyết trả thù chồng. Chị ta toa rập với các con. Họ giả vờ dọn nhà di Las Vegas để khéo léo đuổi  chồng ra khỏi nhà hầu thỏa mãn lòng căm thù những dòng chữ trên trang nhật ký ấy. Đúng là lòng dạ con người thâm hơn rắn độc.

Thấy mấy đứa con khóc thương cha chết không toàn thây, đứa nào cũng đưa tay chùi nước mắt đang trào ra. Đứa nào cũng muốn xin nhận tro cốt của cha nó để thờ phượng. Một người đàn bà đứng gần đó, quá bất mãn trước sự tình. Bà ta phán cho mấy câu:

-Hồi cha nó còn sống thì hất hủi, không cho ăn cho uống. Thậm chí chúng còn giả vờ dọn nhà để đuổi ông đi. Bây giờ ông đã chết rồi, tụi bây khóc làm gì, dành tro cốt thờ phượng để làm gì. Thái độ tụi bây cư xử với ông lâu nay ai mà không biết. Tội lắm! Hãy tu tỉnh lại kẻo trời tru đất diệt đó. Con cái bất hiếu đến thế là cùng!

-Có một bà quá phụ trẻ đẹp, mới hơn bốn chục tuổi. Nghe tình cảnh của anh Lê, bà ta đem lòng thương mến, bà ta muốn an ủi anh trong quãng đời còn lại. Nhưng anh không nhận lời. Âm thầm đi tìm cái chết cho riêng mình.

Tiếng của một người đàn ông chen vào :

-Anh ấy dại quá, gặp tui nhào vô liền. Không bỏ lỡ cơ…

Chưa nói dứt câu, bỗng anh ta la lớn :

-Úi chà ! đau quá hà !

Thì ra anh ta mới nhận lãnh cái véo của vợ anh đang đứng phía sau lưng thưởng cho .

Chấp nhận đau thương ôm xuống tuyền đài,
Chôn chặt nỗi lòng ngàn năm dưới mộ.
Bạn tình ơi nếu mai này có nhớ,
Xin thương giùm tâm sự một H.O.

NGUYỄN NINH THUẬN

(trích tuyển tập truyện ngắn NHỮNG MẢNH ĐỜI tập 2)

This entry was posted in Nguyễn Ninh Thuận, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s