TRỌN KIẾP (Nguyễn Ninh Thuận)

TRỌN KIẾP

Hơn ba tháng nay, Nhung ăn ngủ không yên, người phờ phạc đi. Nỗi lo lắng bồn chồn cứ tăng thêm. Mấy chị em bạn cùng cảnh ngộ có chồng đang cải tạo thường liên lạc trao đổi tin tức cho nhau. Tin xấu liên tiếp truyền ra không mấy thuận lợi của các đấng phu quân. Nhung thở dài và tự trách mình.

– Sao mình không xếp nhiều áo quần cho Đức, mà chỉ vài bộ. Rồi thì không chuẩn bị cả đồ ăn khô cho chàng. Đồ dùng cá nhân thì thô sơ, không đầy đủ, tiền bạc cũng chỉ vài trăm. Ôi, tất cả đều quá ít ỏi, lấy gì để chàng tiêu xài đây ?

Nhung đã đưa cho chàng cầm cả chục ngàn, chàng chỉ lấy đôi trăm, và bảo:

– Anh chỉ đi tập trung 1 tuần, đâu cần nhiều thế! Em để ở nhà mà lo cho con cái. Em yên trí. Tuần sau anh về, ra chợ phụ giúp em mua bán làm ăn.

Cũng như bao người khác. Đã nhiều tuần lễ trôi qua mà Đức vẫn biền biệt chưa thấy tăm hơi. Không biết Đức bây giờ ra sao ? Có bệnh tật gì không ? Nghĩ đến đó, Nhung thốt lên:

– Thôi chết rồi! Đức đau bao tử, lại đau đầu kinh niên mà phải uống thuốc thường xuyên. Nhung chỉ xếp vào hành lý mỗi thứ một lọ. Bây giờ thiếu thuốc, chàng sẽ ra sao ? Ra sao và ra sao ? Bao nhiêu câu hỏi đặt ra trong đầu óc Nhung, như một bài toán không tìm ra đáp số. Lạc vào khu rừng âm u đầy gai góc mà không tìm được lối ra.

Với 4 đứa con còn thơ dại và đồng lương giáo-viên quá ít, Nhung phải bươn chải làm thêm. Ngoài buổi đi dạy, Nhung mở ra may vá để tăng thêm thu nhập. Nhưng với thời thế này, ăn còn không có để ăn, phải ăn độn khoai, sắn, bo bo. Lấy đâu ra tiền bạc, mua vải vóc may mặc. Áo quần tốt xấu lần lần còn ra hết chợ trời. Tivi , tủ lạnh, đồ đạc quý trong nhà cũng lần lượt đội nón ra đi không một chút tiếc thương. Bàn ghế, tủ giường, thì dẹp quách đi cho đỡ vướng bận. Trải chiếu nằm đất cùng kham cùng khổ với cụ Hồ, để xây dựng đất nước tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa.

Một ý nghĩ chợt đến với Nhung. Phải chạy ra mua bán thêm. Phi thương bất phú mà! Nhung ra chợ trời tập tểnh mua bán. Phải bắt đầu ra sao đây ? Vốn chưa có kinh nghiệm với thương trường, phải học hỏi và học hỏi ? Mới đầu ít vốn liếng, Nhung lựa ra những áo quần, đồ đạc trong nhà làm vốn -vạn sự khởi đầu nan. Cũng lắm gian nan, chụp giựt, tranh giành… không đơn giãn như nghề đi dạy học đâu nhé!

Với mớ kiến thức sẵn có, Nhung đem ra sử dụng hàng ngày với các em học sinh, những câu văn, những bài toán đã in sâu vào đầu óc, chờ dịp như cái máy mở ra thôi! Còn đây, biết bao là lọc lừa, gian xảo rập rình trước mắt. Miệng bằng tay, tay bằng miệng. Với bản tính hiền lành nhút nhát. Mới đầu, Nhung chịu biết bao là thua thiệt, cũng khóc lóc, cũng uất ức vì bị chèn ép này nọ… Nhưng rồi nghề dạy nghề, ngày lại ngày cũng quen đi. Bây giờ Nhung không sợ ai, chỉ sợ lẽ phải. Nhung không gian manh, lừa lọc, dối trá được! Có thể đó cũng là một lợi điểm mà phần đông không ai nghĩ đến. Với cô bán hàng thật thà, dịu dàng, cũng thu hút biết bao khách vào ra mua bán tấp nập. Buôn bán ngày càng phát đạt, cũng là niềm an ủi của Nhung.

Có tin trại học tập ở Long Giao. Nhung rủ vài người bạn lên Long Giao xem hư thực ra sao ? Nhung cùng các bạn ăn mặc giả làm người đi bán -cũng có bưng có xách trái cây, bánh ú v. v… chạy song song theo từng đội, từng toán các anh học viên cải tạo mời mua. Nhưng thực tế nhóm của Nhung chỉ tặng, chỉ biếu cho các anh ăn đỡ đói lúc nào hay lúc đó mà thôi, hoàn toàn không lấy tiền. Các anh đi ra lao động, gặp nhóm bán hàng này mừng lắm, chỉ biểu lộ ra ánh mắt, không ai nói một lời…

Nhìn họ tiều tuỵ, áo quần tã tơi, mặt mày hốc hác. Nhung không sao cầm được nước mắt. Nhung theo bạn lên Long Giao mấy lần, nhưng chưa lần nào may mắn gặp chồng. Nếu không may mắn gặp các anh đi ra ngoài lao động, thì đứng bên ngoài hàng rào -bên xóm nhà dân, nhìn vào mấy dãy nhà xa xa, chỉ thấy thấp thoáng bóng dáng các anh- không rõ ràng. Đi không lại về không, nỗi buồn chồng chất nhiều thêm.

Gặp một số anh em ra lao động, Nhung hình dung ra Đức cũng như thế kia ? Với hình hài gầy yếu, áo quần bạc phếch, tóc râu xồm xoàm… đâu còn nét oai hùng của anh lính chiến hiên ngang ngày nào ? Nhung không làm sao gởi được thuốc, đồ ăn vào trại cho chồng. Nàng chán nản không đi Long Giao nữa, ở nhà chờ tin. Ngưu Lang Chức Nữ, mỗi năm còn được gặp nhau một lần, còn Nhung thì biết đến khi nào mới được gặp Đức đây ?

Vài tháng sau, có chính sách của nhà nước cho gởi thăm nuôi bằng bưu điện. Phân vân mãi nàng không biết gởi món nào, để lại món nào vì món nào nàng thấy cũng cần thiết cho Đức cả. Nhung nghĩ đến Đức thiếu đủ thứ, nên mua về cả đống, thức ăn đầy dẫy mà chỉ được phép gởi có 3 ký.

Một thời gian sau, nghe tin tất cả đã chuyển trại, không biết bây giờ Đức đang ở trại nào đây ? Bắc hay Nam ? Một thắc mắc cứ lảng vảng trong đầu óc Nhung. Ngày đêm nàng mong tin chồng để gởi quà hay được đi thăm nuôi. Thời gian trôi thật chậm càng làm buồn thêm. Ngày vui sao qua nhanh, mà ngày buồn lại chậm hơn rùa bò ?

Vật lộn với cuộc sống hàng ngày quá mệt nhọc. Việc mua bán ngày càng khó khăn, kẻ bán ngày càng tăng thêm, người mua thì ngược lại. Là một người năng nổ, Nhung không bó tay trước nghịch cảnh, nàng chuyển đổi đủ nghề, phần lo kế sinh nhai, phần lo nuôi dạy con thơ, đêm về lại trằn trọc không ngủ được vì thương nhớ Đức.

Thấm thoắt gần 1 năm, Nhung nhận được tin chồng chuyển trại ra Bắc và được giấy cho phép thăm nuôi. Mừng vui lẫn lộn. Nhung chuẩn bị lương khô, quà bánh để đón tầu ra Bắc thăm chồng. Hành trình ra Bắc muôn vàn gian khổ, tay ách nách mang, gồng gánh đủ thứ, lại trèo non lội suối, theo xe thồ đến trại ở nơi rừng thiêng nước độc. Núi rừng bạt ngàn vây quanh lấy trại, nơi khỉ ho cò gáy, xa cách mọi khu dân cư. Đây, đó thấp thoáng những thửa ruộng trồng ngô, khoai, cây trái. Được các anh phu xe thồ cho biết đó là thành quả của bao công sức các anh em tù cải tạo đã đổ ra. Nhung thở dài xót xa…

Đi mấy ngày đường chỉ được thăm 1, 2 giờ đồng hồ. Nhung nghe đồn, có chị thương nhớ chồng, muốn ở qua đêm với chồng – phải đi đêm với cán bộ như một cách hối lộ, thật là nhục nhã. Nghĩ đến điều phải trao tấm thâm ngà ngọc của mình cho cán bộ giày vò, Nhung không thể hạ phẩm giá con người như vậy được! Nhung gặp chồng mừng mừng tủi tủi, không sao tả xiết. Đức đó ư ? Đâu là hình bóng của những năm về trước, với thân hình tráng kiện nói năng hoạt bát ? Trước mắt Nhung, Đức là một ông già với mái tóc điểm muối tiêu, nước da rám nắng, khuôn mặt ủ rủ, dáng điệu chậm chạp, da tay, da chân chàng có nhiều tróc lở…

Vì ánh mắt cú vọ của tên quản giáo quét khắp phòng thăm nuôi. với giọng hằn học, quan liêu, anh ta ra lệnh:

– Tất cả mọi người phải trật tự! Không khóc lóc, ồn ào làm ảnh hưởng đến việc học tập tốt của các học viên. Ai không tuân theo thì sẽ cắt thăm nuôi.

Nhung cố nuốt nước mắt khi ngồi đối diện với Đức. Giọng run run Nhung lên tiếng trước:

– Anh có khoẻ không ? Bệnh bao tử, đau đầu ra sao ? Em có đem đầy đủ thuốc men, áo quần, thức ăn cho anh dây!

Như sợ quên đi bao câu hỏi mà Nhung đã học thuộc lòng trước khi gặp Đức, Nhung tiếp theo.

– Sinh hoạt, ăn uống ra sao hả anh ? Chắc thiếu thốn lắm ? Làm việc cực nhọc không anh ?

Hỏi dồn dập làm Đức không kịp trả lời. Không cần Đức trả lời, Nhìn vào hình hài kia, Nhung đã có câu trả lời cho những câu hỏi của mình.

Đưa đôi mắt âu yếm nhìn Nhung, Đức thở dài:

– Anh vẫn thường. Em đừng lo lắng nhiều. Hãy kể chuyện gia đình cho anh nghe đi -Các con ra sao ? Học hành thế nào ? Cực nhọc cho em quá! Em độ này gầy lắm đó nhé! Nhớ về ăn uống cho đầy đủ, đừng làm nhiều mà bệnh hoạn. Em là cột trụ của gia đình. Cám ơn em đã thay mặt anh đảm đương việc nhà, chăm sóc con cái.

Cũng như Nhung, Đức tới tấp đưa ra bao nhiêu là câu hỏi. Họ hỏi nhau như chưa bao giờ được hỏi. Nhung kể chuyện gia đình cho Đức nghe…

Cả 2 tạm ổn với những điều được biết. Nhung với tay ra muốn cầm tay Đức sau thời gian dài xa cách. Nhưng Đức vẫn giấu đôi tay mình dưới bàn. Dằn co mãi, Đức mới đưa bàn tay mình cho Nhung cầm.

Không ngăn được nước mắt, Nhung khóc oà. May mà tên quản giáo mới được bao thuốc lá ba số (555) của ai đó cho. Hắn ta đang sung sướng mơ màng phì phà theo khói thuốc ở góc phòng- hú hồn Nhung!

Tay Đức đây! Đôi tay chai đá nổi lên nhiều đường gân và nhiều vết sẹo ngang dọc, móng tay dài, ghẻ lở chưa kịp lành, chắc vì vậy Đức không muốn cho Nhung thấy, cố nén tiếng nấc vừa trong cổ họng thoát ra, Nhung nói:

– May quá, em có đem theo thuốc bôi ghẻ và trụ sinh, anh nhớ chữa trị đi nhé!

Theo lệnh quản giáo. Bọn Nhung được ăn chung với chồng bữa trưa. Tụi quản giáo cũng khôn. Dễ dàng với Nguỵ một chút thôi, chúng tha hồ được quà tặng!

Nhung vội bày thức ăn ra bàn: một con vịt quay, một con gà hấp muối, bánh mì… Món ăn mà Đức vẫn thích. Nhìn thấy Đức ăn ngấu nghiến ngon lành như kẻ sắp chết đói vừa được bữa. Nhung thấy thương chồng quá, hồi trước mời mọc lắm Đức mới ăn. Nhung khẽ mỉm cười trong nước mắt. Sau cơn thèm khát được tạm ổn -Đức mắc cỡ ngẩng mặt lên gắp thức ăn cho Nhung.

– Sao em không ăn đi ?

Đức đưa Nhung ra khỏi ý nghĩ “Chúng cai trị ta bằng cái bao tử.” Chúng muốn khuất phục kẻ bại trận bằng mấy củ khoai, sắn, bắp, bo bo. Bữa đói bữa no, chúng tàn ác quá! Chúng bóp chết tất cả mọi tự do của người dân mà miệng lúc nào cũng khoe khoang người dân được hưởng mọi quyền tự do để lừa bịp dư luận thế giới bên ngoài:

-Mọi người dân đều được quyền tự do dân chủ nhưng Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.
-Người dân được quyền tự do ngôn luận – Không cho tự do báo chí, sợ báo chí đăng tải tất cả sự thật, vì sự thật quá phũ phàng. Không cho phát biểu tư tưởng, vì sợ người dân lên tiếng phê bình, chỉ trích, chống đối vì quá nhiều sai trái trong chính sách cai trị.
-Tự do đi lại – Đi đâu cũng phải xin phép, vì sợ người dân nhóm họp biểu tình, chống đối.
-Tự do tín ngưỡng- Không cho thờ Phật, Chúa hay các Đấng người dân tin tưởng, mà chỉ được phép treo hình cụ Hồ (Ác Quỷ).

Nhưng chúng lầm rồi! Tất cả chúng tôi một lòng sẽ khuất phục mọi khó khăn, chúng tôi đợi có cơ hội sẽ bùng lên như bão táp phong ba. Đừng dồn chúng tôi vào chân tường nữa. Bây giờ, vì bại trận đành phải chịu lép vế nhưng đa số không bán rẻ lương tâm đâu! Lầm rồi! Lầm rồi!… Các ông à!

– À, em đang ăn đây!

Muốn làm vừa lòng Đức, Nhung nuốt vội miếng thịt, nhưng cổ họng như nghẹn không sao nuốt được. Miếng thịt sao mà nhạt nhẽo trước bao thống khổ mà các anh gánh chịu! Bữa ăn kéo dài với lời ân cần, thăm hỏi, dặn dò của các cặp vợ chồng tù nhân. Họ cố tranh thủ với thời gian để nói và nói. Bỗng giọng hằn học của tên quản giáo vang lên:

– Đã hết 2 giờ thăm nuôi rồi, các anh thu xếp vào trại.

Mọi người lục đục đứng lên, nét mặt rầu rĩ, thở dài. Nhung lăng xăng kiểm lại đồ thăm nuôi trao cho Đức. Nhung không quên dúi vào tay Đức một ít tiền và dặn dò:

– Anh cứ mặc sức ăn uống, thức ăn, đồ dùng, em đem theo nhiều lắm, có bạn nào không được người nhà thăm nuôi, anh chia xẻ cho họ với. Em sẽ ra thăm nuôi anh khi nhận được giấy báo thăm. Hẹn sẽ lại gặp nhau lần kế tiếp, anh cần món gì viết thư cho em biết.

Nhung hấp tấp nói vì sợ không còn giờ nữa. Đức thầm cám ơn vợ. Nàng chu đáo quá, không những lo đầy đủ cho chàng mà còn có lòng nghĩ đến những bạn tù bất hạnh của Đức nữa. Tấm lòng rộng mở của nàng to lớn quá! Vợ chồng bịn rịn chia tay, Nhung cố dấu nước mắt trong chiếc khăn tay để Đức yên tâm vào trại chờ đợi ngày gặp mặt tới.

Mỗi lần đi là một lần gian khổ khác nhau, lại trèo non, vượt biển, băng rừng. Nhung đã đi thăm chồng được 5, 7 lần. Dần dà chính sách được cởi mở hơn, Nhung được ở lại qua đêm với Đức vài lần. Nhung cố tránh có thai, đó là một trở ngại cho cuộc sống khó khăn hiện tại của Nhung. Vì có vài chị bạn lỡ có con, không làm ăn gì được, đã khó khăn lại càng khó khăn thêm!

Thời gian trôi đi một cách chậm chạp với bao thay đổi, bao cám dỗ. Nhưng Nhung một lòng son sắt, đã 4 năm nay chờ đợi và tiếp tục chờ đợi.

Vào một buổi tối mùa đông lạnh lẻo. Có một người đàn ông gầy còm, đau yếu gõ cửa nhà Nhung, Nhung ra mở cửa thì ô kìa, Đức đã về!!! Mừng mừng tủi tủi, vợ chồng con cái gặp nhau với đầy nước mắt. Cả một đêm dài tâm sự không hết chuyện. Nhung giục Đức đi ngủ để mai tìm thầy thuốc chạy chữa bệnh tình.

Sau mấy tháng tận tình chạy chữa, Đức phục hồi dần sức khoẻ, Đức khoẻ mạnh hồng hào ra, trong khi Nhung vì tâm bệnh, nên cứ gầy ốm không lên cân được!

Đức được thả về nhưng vẫn bị công an địa phương quản thúc chặt chẽ, không những thế, họ thường xuyên dòm ngó gia đình Nhung với những cặp mắt cú vọ. Những buổi họp dân phố, Đức là đầu đề để họ tuyên truyền chính sách nhân đạo của họ, họ giấu nhẹm đi ý xấu sợ Đức chết trong tù – dư luận thế giới sẽ lên án họ ngược đãi tù nhân, nên họ buộc lòng mới thả sớm Đức cũng như một số tù nhân đang mang bệnh nặng không thuốc men chữa trị.

Tuy được sống cạnh vợ con, vật chất đầy đủ, tình thương gia đình không thiếu, nhưng tinh thần Đức xuống dốc thấy rõ, anh bị dòm ngó ngày đêm, đi đâu một bước cũng phải xin phép. Cuộc sống giam lỏng trong thời gian quản thúc thật là chán.

Thông cảm cho hoàn cảnh của Đức, trong thời gian tảo tần buôn bán, Nhung dành dụm được một số tiền kha khá. Nhung tìm đường cho Đức vượt biên với 2 đứa con lớn, rồi mình sẽ tìm đường đi sau cùng đứa con nhỏ.

Tù tội còn đeo đẳng Đức hay sao ? Mà chuyến đi không may, Đức bị bắt ở Hộ Phòng với đầy đủ giấy tờ tuỳ thân. Đức và 2 đứa nhỏ bị chuyển xuống trại cây Gừa. Nhung nghe báo hung tin, nàng chạy đôn chạy đáo lo gỡ ra, dù chưa đi đúng đường, nhưng vẫn cố sức chạy chọt. Ba tháng sau vào dịp lễ, Nhung nhận được giấy báo đến nhận lãnh 2 đứa con về vì chúng dưới tuổi vị thành niên. Đêm đó, Nhung ngủ ở nhà trọ của trại, chờ ngày hôm sau đón 2 con. Nằm ngủ chung với các chị đi thăm nuôi. Trong cái mùng to lớn chứa cho cả mấy chục người. Mọi người đều lo buồn. Họ còn tinh thần đâu mà ngủ vì muỗi rệp quá nhiều. Tiếng râm ran nói chuyện suốt đêm. Nhờ đó, Nhung được biết hết nỗi khổ cực của trại này: Các tù nhân trong trại phải đi đào đất, xén mương có chỉ tiêu đưa ra. Nếu tù nhân nào không làm đúng chỉ tiêu sẽ bị đánh đập, hành hạ. Đúng là một bầy dã thú cấu xé người sa cơ thất thế. Ngoài ra tù nhân phải đi lấy lá mía về thay tranh lợp nhà, tát ao, tát đìa bắt cá cho cán bộ ăn.

Còn có một chuyện thương tâm xẩy ra: Ông Nhân, một tù nhân cải tạo được thả, mua tàu tổ chức vượt biên, mang theo gia đình và bạn bè, chẳng may bị bắt tại trận, không chạy tội được. Ông bị gán cho hàng trăm thứ tội như: vượt biên trái phép, ngoan cố, không chấp hành chính sách khoan hồng của nhà nước v. v… Tội trọng nhất là đầu não đưa người vượt biên. Ông bị cùm chân, biệt giam, vợ con bị làm khó dễ, tra hỏi liên miên. Tự nhận thấy thân mình không có ngày về nữa, lại làm khổ lây cho vợ con, nên ông ta đã thắt cổ tự tử. Thật tội nghiệp cho kẻ đi, người ở. Đúng là đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Sáng tinh sương hôm sau. Nhung đứng bên hàng rào trông ngóng chồng xa xa, thấy thấp thoáng bóng mấy ông đang dang chân múa tay. Có lẽ vì nôn nóng muốn thấy vợ con, các ông viện cớ ra tập thể dục sớm.

Trông ngóng mãi cũng không thấy bóng dáng Đức đâu cả! Có một tốp các ông vác cuốc đi lao động, Nhung cố nhón chân cao lên để nhìn cho rõ, may ra được thấy chồng, nhưng hoài công vô ích. Lòng Nhung nôn nóng như lửa, còn 2 đứa con thì mãi đến trưa cũng không thấy được thả. Nhung tự nhủ thầm, không biết có gì trục trặc vào phút chót mà không thấy con đi ra. Trời mưa lâm râm. Nhung đứng dầm mưa để trông chờ chồng con.

Trong trại, lố nhố mấy ông đứng nhìn theo đoàn người được thả ra, mong sao thấy bóng con mình được thả. Kia, một tốp vừa con nít người lớn đang xếp hàng lần lượt ra khỏi cổng trại. Hai con của Nhung, đến chiều tối mới được thả ra, Mừng rỡ mẹ con ôm lấy nhau. Sau đó cả ba mẹ con đều nhìn vào trại, lòng xót xa thương nhớ Đức.

Sở dĩ có sự chậm trễ như thế, vì bọn cai ngục tính toán làm ăn có lợi cho chúng. Đồ đạc, vòng vàng, nữ trang của người bị bắt được trả lại cho người được thả nhưng bọn chúng cố tình để chung một đống, không để theo thứ tự ABC. Cứ một người đến nhận lại đồ vật của mình, khi đó chúng mới bới ra lục lạo tìm kiếm làm mất rất nhiều thì giờ. Đây là thâm ý của bọn cai ngục, nhằm làm nản lòng những người vừa được thả. Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại họ không kiên nhẫn chờ đợi lấy lại tài sản của mình, nên họ đành bỏ của chạy lấy người, dĩ nhiên cai tù được hưởng!

Ở trại cây Gừa được 6 tháng, tháng nào Nhung cũng đi thăm nuôi Đức đều đặn dù khổ cực gian nan. Nhưng không đâu khổ cực bằng khi Đức bị đưa xuống Rạch Ruộng. Nhung phải cơm đùm gạo bới đến thăm. Đi về 4 ngày đường, mà chỉ được gặp Đức có 15 phút, trại này 2 tháng mới cho tới thăm một lần.

Sáng sớm khởi hành từ Sai-gòn, chiều tối mới xuống tới Cà-Mau, nếu xe chạy không có gì trục trặc thì đến sớm đỡ vất vả cho Nhung. Nhung có thể ngủ lại một đêm ở nhà trọ chờ sáng mai lối 4,5 giờ đón xe để lên tàu nhỏ đi Sông Ông Đốc. Có hôm tới 10, 11 giờ đêm xe mới đến Cà-Mau quá trễ. Vào nhà trọ không tiện, Nhung ngồi ngủ ngay ở bến xe đò cho tiện di chuyển. Đêm đó, Nhung ôm đống quà bánh, phủ cái mùng lên sợ muỗi Cà-Mau cắn, nàng thức trắng đêm vì sợ mất đồ, phần sợ thân phận đàn bà con gái. Nghĩ cảnh thăm nuôi lúc đó đến bây giờ vẫn còn sợ. Khi leo lên tàu cao, Nhung phải mướn người xách quà cáp lên tàu. Phần Nhung cầm đôi dép trên tay, bò bò trên tấm ván không dám đứng thẳng lên đi, trông thật ngượng ngùng. Mặc kệ cho thiên hạ cười chê. Đến Sông Ông Đốc thì chạng vạng tối. Nhung xin ở trọ nhà dân, sáng sớm hôm sau thuê ghe nhỏ chở vào Rạch Ruộng thăm Đức. Nhìn thấy Đức gầy ốm, Nhung rất đau lòng, râu tóc Đức mọc lởm chởm. Cũng may lần ở tù này vì sức khoẻ suy yếu, Đức không phải đi lao động cực nhọc như lần trước, nhờ Nhung quà cáp đút lót hậu hỉ cho cán bộ, nên Đức được phụ trách nấu ăn cho trại tù.

Gặp được nhau mừng đến rơi lệ, rồi cũng những câu dặn dò, thăm hỏi được lập đi lập lại như những lần thăm nuôi trước. Nhung chỉ gặp được Đức khoảng 15 – 30 phút là cùng.

Nhớ có lần, Nhung đưa tấm hình mầu chụp cả đại gia đình hôm Tết, xin phép cán bộ cho chồng được xem, thấy tấm hình mầu, tên cán bộ trừng mắt nạt Nhung:

– Tấm hình ở nước ngoài gởi về, cho anh ấy xem để anh ta học tập không tốt hả ? Gia đình bà có ý tưởng vọng ngoại!

Cố nén sự khinh bỉ cái ngu dốt của tên cán bộ, Nhung gượng nở nụ cười chỉ vào hình nàng có trong tấm hình:

– Có hình tôi ở trong tấm hình đây này, làm sao ở ngoại quốc gởi về được hả cán bộ!

Để khoả lấp sự quê mùa dốt nát của mình, tên cán bộ nạt lớn:

– Tôi đã bảo không được cho ảnh xem. Cất vào ngay đi!

Nói đến sự quê mùa, dốt nát của đám cầm quyền thì không sao nói hết được! Trong trại có một nhà giáo vượt biên, anh ta luôn mang kính trắng cận dày cộm, mở kính ra anh không thấy gì cả. Một hôm tên cán bộ gặp anh nhà giáo đang đi băng ngang cái ao. Không biết vì tức bực chuyện gì hay vì tự ti mặc cảm, tên cán bộ đưa tay giựt lấy cái kính cận thị của anh nhà giáo kia vứt xuống ao, còn lên giọng:

– Khi nào cũng thấy anh mang kính, lên mặt trí thức.

Anh nhà giáo gặp ngày xui, mất kính, không thấy đường về, may nhờ bạn bè xuống ao mò lên cho. Mấy bạn tù, khi nào thấy cán bộ từ xa đi tới phải tìm cách tránh né, nếu đụng mặt phải đứng xuôi tay, lên tiếng:

– Chào anh cán bộ!

Vô phước cho anh tù nào gặp khúc quanh không thấy cán bộ để tránh, với chùm chìa khoá trên tay mà anh cán bộ hay khua tròn ra, bạn tù không sướt mặt, mũi, tay chân cũng lỗ đầu u trán. Họ coi mạng người như con vật, không chút nghĩ đến tình đồng bào.

Có những chuyến đi thăm nuôi, để rút ngắn thời gian trở về với con cái, Nhung đã cùng các bạn mướn một ghe nhỏ về Cà-Mau sớm, để kịp lên xe trở về Sài-gòn. Thuyền nhỏ chòng chành lướt đi ven cửa biển. Thỉnh thoảng có những tàu lớn đi qua, sóng ấp đến thuyền nhỏ của Nhung, chao đảo thấy mà sợ, mạn thuyền chỉ chừng gang tay là đến mặt nước sông. Nhung không biết bơi mà cũng cả gan thử thách với biển cả, sông nước.

Những chuyến xe trở về Sai-gòn thường gặp trời mưa tầm tả. Bác tài xế già nua, mắt chèm nhèm thật là nguy hiểm. Có một lần Nhung lên chiếc xe không có cái quạt nước. Mưa nặng hạt, mờ cả kiếng trước, chú lơ xe ngồi cạnh ngoài, thỉnh thoảng nhoài người ra lấy khăn lau kiếng để bác tài thấy đường, mọi người trong xe ngủ tỉnh bơ không biết nguy hiểm là gì. Chỉ có Nhung cầu nguyện Trời Phật để được về an toàn với con cái. Nàng nghĩ thầm, nếu có chuyện bất trắc xảy ra, ai nuôi con đây!

Ròng rã 2 năm trời, Nhung xuống Rạch-Ruộng thăm nuôi Đức, trải qua bao lo âu, sợ sệt, gian khổ tận cùng khiến nàng trở nên chai lì. Nhung tìm được chỗ lo cho chồng được thả ra mất 5 cây vàng. Cũng như lần trước, Đức trở về dưới sự quản chế của phường, khóm gắt gao hơn nhiều vì cho Đức là thành phần bất trị. Ở lại cũng không yên thân, họ kiếm chuyện hoài, không những Đức mà cả Nhung nữa. Phần Nhung, sức khoẻ sa sút nhiều, mới đầu Nhung tưởng vì quá lao tâm lao lực tảo tần buôn bán, nuôi chồng con. Trời không thương, bắt Nhung mắc chứng bệnh nan y quái ác. Nàng bị ung thư bao tử. Trời đất quay cuồng sụp đổ, không biết kiếp trước Nhung vụng tu, nay phải rước bao nỗi nhọc nhằn oan trái thế này. Nhung giấu nhẹm không cho Đức biết bệnh tình của mình. Sau thời gian ngắn Đức lại sức.

Thua keo này Nhung bày keo khác. Nhung móc nối lo cho Đức và cả 3 con đi theo diện bán chính thức, đi như thế phải trả một giá rất đắt, mỗi người 12 cây vàng, nhỏ thì 8 cây. Nhung trút cả vốn liếng, lo tương lai cho chồng con. Số vàng có được là nhờ Nhung chuyển qua mua bán vàng, hột xoàn, dollars. Hôm ra đi, Nhung bảo với Đức:

– Chuyến này đi chắc ăn, nên em cho 3 con cùng đi với anh. Anh thương em hãy chăm sóc con cái chu toàn, em sẽ thu xếp công chuyện đi sau. Hẹn gặp nhau ở xứ Tự-Do.

Nhưng trong thâm tâm, Nhung nghĩ thầm: Hẹn gặp Anh ở kiếp sau! Đức quá chán cảnh cá chậu chim lồng. Tự-do bị bóp nghẹt, mất tự-do, sống không bằng chết! Đức gạt nước mắt từ biệt vợ dẫn con ra đi, đâu ngờ đó là lần cuối cùng. Trời cũng thương cho kẻ bạc mệnh như nàng. Cha con Đức được đến bến bờ tự do an toàn. Đó là ước nguyện cuối cùng mà ngày đêm Nhung hằng cầu nguyện. Nhung quên mình để lo cho chồng con hạnh phúc. Trước lúc tiễn chồng con ra đi, Nhung đã viết sẵn một bức thư dài dúi vào tay con khi từ giã. Nàng căn dặn con trai không được phép mở ra đọc, và chỉ đưa lại cho Bố khi đến được bến bờ tự-do.

Trong thư, Nhung mới cho Đức biết: Nhung bạc phước, đã bị bệnh ung thư và sang đến thời kỳ cuối, không có thuốc chữa trị, chỉ chờ ngày chết mà thôi! Nàng dặn dò Đức đủ thứ: Thương yêu, trả ơn nàng bằng cách lo cho các con học hành đến nơi đến chốn. Nàng cũng không quên mong Đức sớm có hạnh phúc với một người đàn bà khác, hiền hậu, cùng chung sức lo cho con cái của nàng được chu đáo. Dù ở cõi âm, nàng vẫn theo phò hộ cho chồng con.

Trọn Kiếp

Nỗi khổ nầy chung của cả quê,
Chồng đang cải tạo chốn sơn khê.
Hai vai gồng gánh quà nhân ngãi,
Thăm chồng cho vẹn nghĩa phu thê.

Ân nghĩa ba sinh phải có nhau,
Lên voi xuống chó sá chi đâu ?
Bão táp phong ba lòng chẳng ngại,
Nguyện thề ăn ở có trước sau.

Bao năm sống chết với chồng con,
Mong ước tơ duyên mãi vuông tròn.
Bạc phước em về nơi đất mẹ,
Trọn đời vẫn giữ dạ sắt son. .

NGUYỄN NINH THUẬN

(trích tuyển tập truyện ngắn NHỮNG MẢNH ĐỜI tập I)

This entry was posted in Nguyễn Ninh Thuận, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s