MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 16 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

(Hình minh hoạ)

(Hình minh hoạ)

CHƯƠNG MƯỜI SÁU
NHỮNG NGƯỜI BẠN CHÂN QUÊ

Thấy trời sắp sửa rạng đông, không thấy Bền trở về làm mọi người nóng lòng chờ đợi. Tư Kê thấp tha thấp thỏm, muốn chống xuồng trở lại cái lạch nuước, xem hư thực như thế nào. Tư Kê nói:

– ” Con đi nghe tía! “

Chín Dậu ngạc nhiên, hỏi:

– ” Mầy tính đi đâu giờ nầy? “

– ” Con muốn chống xuồng trở lại chỗ cũ, coi chuyện gì đã xảy ra, ” Tư Kê nói. ” Bây giờ trời sáng rồi, không thấy anh Bền trở về mà cũng không thấy bọn cướp xuất hiện. Không lẽ, một mình anh Bền đánh tan hết bọn cướp? Có thể anh bị thương nặng không trở về đây được? “

Noi xong, không đợi tía trả lời, Tư Kê đứng dậy, chạy bay ra bờ kinh Cái Cơ, nhảy xuống xuồng, bơi nhanh chóng trở lại cái lạch nước, rồi dùng sào chống vô trong sâu. Bỗng Tư Kê thấy xa xa, một đàn trâu khoảng 9,10 con đang lội trên đồng cỏ lát mênh mông, thấy cả Bền đang ngồi trên lưng trâu đầu đàn, dùng roi lùa đàn trâu về làng. Tư Kê mừng quá, gọi:

– ” Ê, anh Bền! Tư Kê đây nè! “

Bền cũng mừng lắm, nói:

– ” Chống xuồng tắp vô đám cỏ lát, tránh đừờng cho đàn trâu đi! “

– ” Bầy trâu nầy của ai đây? ” Tư Kê hỏi.

– ” Bầy trâu nầy của Thạch Sum trả lại cho dân làng mình, chớ của ai vô đây! ” Bền nói. ” Thôi, về nhà đi! Tao sẽ kể cho mà nghe! “

” Thôi, anh trở về bình an là mừng rồi, ” Tư Kê nói. ” Lên xuồng lẹ di! Tui đưa anh về nhà. Thấy anh, mọi người chắc sẽ mừng lắm! “

Quả thật, mọi người thấy Bền đang lùa bầy trâu từ đằng xa, vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên, không biết bầy trâu nầy của ai đây? ” Sau khi lùa hết bầy trâu lên bờ kinh Cái Cơ. Tư Long hỏi ngay:

– ” Bầy trâu nầy của ai mà cháu lùa về đây? “

– ” Bầy trâu nầy của Thạch Sum trả lại cho dân làng mình đó! Hồi hôm, khi nghe tiếng lội nước rần rần trên cánh đồng, cháu tưởng là bọn cướp Thạch Sum kéo đến đánh úp làng mình, nên cháu cho Tư Kê chống xuồng về làng trước, báo động cho bà con chuẩn bị đối phó. Không dè, bầy trâu nầy là của Thạch Sum trả lại cho dân làng, tên lùa trâu thấy con bất ngờ xuất hiện, nó hoãng hồn, xổ ra một tràng tiếng Miên, con không hiểu gì ráo trọi. Sau đó, nó đoán biết con là người trong làng, nên giao bầy trâu nầy lại cho con lùa về. “

Cậu Hai Bảnh hỏi:

– ” Anh Tư có biết ai trong làng mình, bị cướp trâu không? “

– ” Tôi thiệt không nhớ rõ lắm! ” Tư Long đề nghị. ” Tôi giấu bầy trâu sau mấy bụi tre gai, rồi hỏi mấy người tá điền thì biết ngay chớ gì. “

” Ừ, anh Tư nói nghe cũng phải đó! ” cậu Hai Bảnh nói. ” Suýt chút nữa tôi quên. Anh Tư nhớ đánh mõ, giải tỏa lệnh báo đông khẩn cấp đi, để họ còn đến đây nhận lại lúa thóc chớ! “

– ” Tôi biết, dân làng mình bị bọn cướp Thạch Sum bắt đi nhiều lắm! Một bầy trâu chỉ có mười con làm sao trả họ cho đủ, ” Chín Dậu đề nghị. ” Theo tôi, mình giữ đàn trâu nầy tại đây, để cho mấy chú lực điền thay phiên nhau chăn giữ. Nhà nào có nhu cầu cày bừa cho kịp thời vụ trước, họ đến mượn trâu về cày bừa, xong dẫn trâu tới đây trả cho người khác mượn. “

– ” Ý kiến của anh Chín tốt lắm! Làm như vậy là công bằng nhứt! ” cậu Hai Bảnh nói. ” Vài hôm nữa, chú Tư nhớ ra mấy trại cưa ở Mộc Hóa, mua một số ván gỗ rồi nhờ họ đóng bè chở vô trại của Thạch Sum để dân làng cất lại nhà cửa cho ho ởï. Mình phải làm như vậy để đáp lại lòng thành của Thạch Sum và giữ gìn hòa khí lâu dài. “

Tư Long cười, nói:

– ” Cậu Hai không nhắc, tôi cũng quên mất! “

Sau khi nghe ba hồi mõ do Tư Long gióng lên, giải tỏa lệnh báo động, khoảng hơn một giờ sau đó, bà con tá điền trên đất của cậu Hai Bảnh lần lượt chèo ghe đến đông vui như một ngày hội, mọi người phấn chấn trong lòng. Sáu Trí là người chịu trách nhiệm sổ sách và gọi người đến nhận lãnh, Tư Long coi việc xuất kho. Bền và Tư Kê phụ giúp nâng bao lúa lên vai cho người nhận vác xuống nghe. Công việc nhân đạo nầy kéo dài đến ba ngay mới hoàn tất, ai nấy đều nhẹ hẫng trong lòng. Ai về nhà nấy, lo tất bật cho vụ mùa sắp tới, để kịp thu hoạch trước mùa nước nổi năm nay. Gia đình Mười Dần và Chín Dậu cũng xin kiếu từ trở về nhà.

Thấy hai anh em Bền và Tư Kê đứng xớ rớ trên bến rạch, Tư Long làm bộ nhắc khéo, nói:

– ” Tư Kê nè, sao dạo nầy tao thèm cá he vàng nướng lửa than quá nghe mậy! “

– ” Thôi được rồi, bác Tư ơi! Mai mốt đợi con nước ròng, con và anh Bền sẽ đi dỡ chà bắt cá nghen! ” Tư Kê nói.

– ” Dọc theo con rạch Long Khốt nầy, tao có thấy đám chà nào đâu mà mầy đòi dỡ chà? Nói chơi với mầy vậy thôi, muốn ăn cá he vàng, tao đón xuồng giăng câu, muốn mua bao nhiêu mà không có, ” Tư Long cười, nói. ” Tao có mua một cặp heo quắn rồi, nhốt gần khu nhà bếp. Lát nữa, con Ngọ bắt nó về nhà nuôi. “

– ” Thiệt, không ai hiểu con bằng bác Tư à nghen! Hoan hô bác Tư! ” Tư Kê khoái chí, nói. ” Cặp heo nầy, con và Ngọ sẽ cùng nuôi nó lớn lên rồi làm thịt, đãi bà con lối xóm vào ngày lễ cưới của con và Ngọ được không, bác Tư? “

– ” Ngày mầy cưới vợ, nhớ mời tao uống vài ly ruợu mừng với nghen, Tư Kê. “

Bền khều Tư Kê, nói:

– ” Con Ngọ dẫn cặp heo quắn đi sau bác Chín và tía má vợ của mầy, đang đi tới kia kìa, Tư Kê! Sao không chạy tới giúp con Ngọ một tay đi, thằng quỉ! “

– ” Ừ hén, tui quên! ” Tư Kê nói.

Thấy Tư Kê chạy ù tới, Ngọ liền khoe:

– ” Bác Tư tặng hai đứa mình cặp heo quắn nầy cho tui nuôi. Khi nào cặp heo nầy lớn là tụi mình ngả thịt, làm đám cưới nghen, chịu hôn? “

– ” Chịu liền, còn phải hỏi nữa! ” Tư Kê nói.

Ngọ nói:

– ” À quên, bác Hai Bảnh có tặng cho tía má tụi mình vài chục giạ lúa, đã vô bao rồi, không biết làm sao chở về nhà đây? “

– ” Chuyện nhỏ! Để tui mượn cái ghe cà dom của anh Bền, chở lúa thóc về cho tía má được mà. “

– ” Nhắm được hôn đó? “

– ” Được chớ sao không! Chuyện nhỏ thôi mà! “

– ” Ừa, anh chạy đi hỏi anh Bền thử coi! ” Ngọ nói. ” Bây giờ, Ngọ đi với tía má về nhà trước nghen! “

– ” Ngọ đưa sợi dây cho tui dắt hai con heo quắn xuống ghe cho! “

Mọi người đang chào từ giã nhau, bỗng thấy cậu Hai Bảnh, tay cầm chai rượu đi nhanh tới, nói:

– ” Bộ hai cha quên lấy chai rượu ” cognac ” nầy về nhậu rồi sao? “

– ” Chút xíu nữa tui quên, ” Mười Dần quay sang vợ, làm bộ hỏi. ” Cho tui nhận chai rượu tây nầy được không, má con Ngọ? “

Chị Mười cười, nói:

– ” Cậu Hai cho thì nhận đi! Ông mà thấy rượu như lân thấy pháo, còn ở đó mà làm bộ, làm tịch hoài vậy, cha nội! “

Mười Dần tay cầm chai rượu, nói:

– ” Bây giờ tụi tui trở về sắp xếp công việc nhà vài ngày. Bao giờ cậu Hai lên đường, nhớ nói với thằng Tư Kê báo cho tui biết. “

Sau khi mọi người xuống ghe, Tư Kê nhìn Bền ấp úng, hỏi:

– ” Tui có chút chuyện muốn nhờ anh giúp, không biết anh có ưng không? “

Nhìn thái độ ấp a, ấp úng của Tư Kê, Bền nỗi sùng, nói:

– ” Có chuyện gì, cứ nói đại ra đi! Tao không giúp mầy đuợc, tao chết liền! “

– ” Thiệt hén! ” Tư Kê nói. ” Anh cho tui mượn chiếc ghe cà dom, chở vài bao lúa cho tía tui và tía má Ngọ, được không? “

– ” Tưởng chuyện gì khó, chẳng những tao sẽ giúp mầy vác mấy bao lúa xuống ghe, chở về tới tận nhà, rồi vác lên đổ vô bồ lúa của tía mầy và bác Mười Dần được không? ” Bền trách. ” Tao với mầy bây giờ là anh em với nhau, có chuyện gì nhờ tao giúp, cứ nói thẳng ra cho tao biết! Tao mà bó tay không giúp mầy được, tao chết liền! “

– ” Để tui với anh nói cho bác Tư Long biết, khoảng xế chiều ngày mai tụi mình mới trở về nhà, vì mình còn phải dỡ chà bắt cá, ” Tư Kê nói. ” Bộ anh quên rồi hả? Đêm qua, trời đổ cơn mưa đầu mùa! Tui thua cuộc, còn thiếu bác Tư Long một chầu cá he vàng nướng. “

– ” À, mầy nhắc tao mới nhớ! ” Bền hỏi. ” Bác Tư Long còn khoái khẩu loại cá gì, ngoài cá he vàng? “

– ” Khoái khẩu nhứt là cá he vàng nướng mở hành, ăn cơm hoặc nhậu với xoài sống bằm, trộn với nước mắm đường. Mùa nầy là mùa cá mè vinh, cá he vàng, còn kiếm vài trái xoài đầu mùa mới khó đó, ” Tư Kê nói. ” Thôi, bây giờ mình lên nhà, thưa với bác Tư, cho tụi mình lãnh phần lúa của hai ông già tía. Con nước sắp đứng chựng rồi, ăn cơm trưa xong, gặp con nước ròng chảy ra, tụi mình nhổ sào là vừa. Anh nghĩ sao, anh Bền? “

– ” Ừa, thôi, tụi mình lên căn nhà sàn hỏi bác Tư liền đi. ” Bền nói.

Tư Long đang vo gạo trong cái nồi đồng, thấy hai anh em Bền và Tư Kê lơn tơn bước lên cầu thang, liền hỏi:

– ” Hai đứa tụi bây ăn cơm nước gì chưa? Nếu chưa, ở lại đây chờ ăn cơm với bác Tư.”

Bền nói:

– ” Con cho thằng Tư Kê mượn chiếc ghe cà dom chở mấy bao lúa của bác Chín và bác Mười Dần, bác Tư cho nó lãnh nghe! “

Tư Long trố mắt nhìn Tư Kê, nói:

– ” Một mình mầy làm sao chở nỗi mấy chục giạ lúa hả, Tư Kê? “

– ” Bác Tư an tâm, ” Bền nói. ” Tư Kê phụ chèo ghe với con mà, không hề gì đâu, bác Tư đừng có lo làm chi cho mệt! “

– ” Chừng nào hai đứa trở lại đây? ” Tư Long hỏi.

Tư Kê thưa:

– ” Xế chiều ngày mai tụi con sẽ về tới đây, bác Tư yên chí! “

– ” Tao thì sao cũng được! Nhưng, cậu Hai Bảnh dặn tao để cho thằng Bền nghỉ ngơi cho khỏe, còn có sức lội suối, leo núi, trèo đèo. Săn hổ dữ chuyến nầy ở Bảy Núi không phải dễ ăn đâu, ai cũng đang lo đây. ” Tư Long nói. ” Lúa của ông già tía mầy và Mười Dần còn để trong lẫm. Phần chú Chín 7 bao, còn phần gia đình chú Mười là 9 bao, vị chi là 16 bao, vác lúa xuống ghe rồi trở lên đây dùng cơm trưa với bác Tư nghen, tụi bây! “

– ” Sao phần lúa của tía con ít hơn của tía vợ vậy, bác Tư? ” Tư Kê hỏi đùa. ” Như vậy là một bên trọng, một bên khinh, không được đâu à nghen! “

– ” Gia đình mầy chỉ có hai người, còn gia đình tía vợ có tới ba người. Chú Sáu Trí chia như vậy là công bằng rồi, ” Tư Long hăm. ” Thôi được, tao sẽ cho tía con Ngọ biết để ảnh tính sổ với mầy. “

Tư Kê nghe vậy, hoãng quá, nói:

– ” Con nói giỡn chơi thôi mà, bác Tư! Làm gì dữ vậy nè chời! “

Tư Long cười, nói:

– ” Thôi, hai đứa bây vác lúa xuống nghe lẹ đi, rồi lên đây ăn cơm, tao chờ! “

Sau khi Bền và Tư Kê đi xuống tới lẫm lúa. Tư Kê hỏi Bền:

– ” Chiếc ghe cà dom có chở hết 16 bao lúa không, anh Bền? “

– ” Mầy đùng có lo, ” Bền nói. ” Sức chứa của từ 3, đến 4 tấn chưa chắc đã khẳm! “

Tư Long bắt nồi gạo mới vừa vo xong lên cái ca ràng, rồi bắt đầu nóm lửa. Khi nồi cơm mới vừa chín tới là thấy Bền và Tư Kê trở lên nhà rồi. Tư Long nói:

– ” Đói bụng rồi phải không? Thôi, ăn cơm xong rồi đi vác tiếp. “

Tư Kê nói:

– ” Dạ, 16 bao lúa chỉ xanh, tụi con chất xuống ghe xong rồi, bác Tư! “

Tư Long tưởng mình ghe lộn, nên hỏi lại:

– ” Lúc tụi bây đi, tao cũng mới vo nồi gạo, nồi cơm mới vừa chín tới mà tụi bây bốc vác hết 16 bao lúa xuống ghe rồi, mỗi bao nặng gần một tạ chớ đâu có nhẹ! Nếu có đói bụng, tao dọn cơm cho ăn, rồi đi vác lúa xuống ghe tiếp! Đừng có nói ba xạo với tao nghen, mấy con! “

– ” Hổng tin bác Tư xuống ghe đếm lại coi, có đủ 16 bao lúa không? “

Tư Long quay sang hỏi Bền:

– ” Thằng Tư Kê nói vậy, có thiệt không, Bền? “

– ” Dạ, thiệt như vậy đó, bác Tư! ” Bền nói. ” Tụi con vác 6 chuyến là xong hết rồi, mỗi chuyến con vác trên lưng hai bao, còn Tư Kê vác 4 bao; như vậy là đủ 16 bao rồi đó, bác Tư! “

Tư Kê nói:

– ” Anh Bền khỏe như trâu, ảnh vác hai bao lúa trên lưng, đi te te xuống bến nước một cách nhẹ nhàng. Còn con chỉ vác có một bao mà mệt gần le lưỡi. “

– ” Ừ, bây giờ thì tao tin rồi, ” Tư Long nói. ” Thôi, tao dọn cơm cho tui bây ăn, rồi nhổ sào cho kịp con nước ròng! “

*

Nhờ thuận con nước, gần khoảng hai giờ chèo ghe là tới nhà của Chín Dậu bên nầy rạch Long Khốt, cuối ranh đất của bá hộ Bảnh, gần ấp Bầu Biển. Còn gia đình của Mười Dần nằm bên kia rạch Long Khốt, mướn đất ruộng của ông điền chủ khác.

Chín Dậu về đến nhà, nằm đu đưa trên võng vừa mới chộp mắt, bỗng nghe tiếng Tư Kê gọi giựt ngược, bèn vươn vai đứng dậy đi ra bến rạch. Ngạc nhiên thấy Bền và Tư Kê chở lúa về nhà, Chín Dậu hỏi:

– ” Mấy bao lúa nầy của ai mà mầy chở về đây, giao cho ai vậy, Tư Kê? “

Tư Kê nói:

– ” Phần lúa của ông Hai Bảnh trả lại cho tía con mình là bảy bao, còn chín bao lúa kia là phần của gia đình tía vợ của con. “

Chín Dậu mừng lắm, nói:

– ” Bảy bao lúa chỉ xanh, xay thành gạo cũng được trên 300 kí gạo, ăn hết mùa lúa nầy cho tới cuối năm cũng chưa chắc hết! “

Tư Kê nói:

– ” Để con với anh Bền vác lúa lên nhà, đổ vô bồ xong, tụi con còn phải chở 9 bao lúa còn lại, giao cho bác Mười Dần, nghe tía! “

– ” Ừ, để tía giúp hai đứa bây một tay! Bác cám ơn cháu Bền nhiều nghe! “

– ” Chuyện nhỏ, ơn nghĩa gì đâu, bác Chín! ” Bền nói.

Trút lúa vô trong bồ xong, Chín Dậu dặn con:

– ” Sẵn dịp gặp ông già vợ mầy, nói tía mời ổng qua nhà mình nhậu với tao một chầu tối nay, tao đãi món lươn um rau ngổ với nước cốt dừa. Tía bảo đảm ngon hết sẩy! Nhậu không say, không về nhà! “

Tư Kê ngạc nhiên hỏi:

– ” Tía mới về nhà, chưn ướt, chưn ráo! Lươn ở đâu mà tía bắt lẹ vậy? “

– ” Thằng Ba Móm, bạn của mầy ở bên kia rạch, thấy tao mới vừa về, nó bơi xuồng qua cho tao hai con lươn vàng lườm, bự bằng bắp tay, mập ú! Tối nay, tía đãi anh sui và mời cháu Bền ở lại dùng một bữa cơm đạm bạc với bác, ” Chín Dậu hỏi. ” À, chừng nào tụi con trở lại nhà cậu Hai Bảnh? “

Tư Kê nói:

– ” Ngày mai, con và anh Bền còn dỡ miệng chà lu dưới mé rạch, bắt mớ cá he vàng đãi bác Tư Long, xong rồi mới chèo ghe trở về nhà ông Hai Bảnh. “

– ” Thôi, tụi bây chèo ghe qua nhà anh Mười Dần lẹ đi, xế chiều rồi đó! ” Chín Dậu nói. ” Nhắc ông già vợ mầy, nhớ mang chai rượu tay ” cỏ lát ” gì đó, cho tao thưởng thức với nghe, tao muốn uống thử coi rượu tây, có ngon hơn thứ rượu nếp Đồng Tháp Mười hay không thôi? “

– ” Thôi được rồi, con đi nghe tía! Chiều tụi con trở về với bác Mười! Tía chuẩn bị làm đồ nhậu đi nghen! “

*

Ngọ đang ngồi trên cây cầu dừa dưới mé rạch, giặt quấn áo, nhìn thấy Tư Kê đứng chèo ghe trước mũi. Ngọ đứng dậy, vẫy tay, gọi lớn:

– ” Anh Tư Kê ơi! Ngọ đây nè! “

Vừa thấy mặt Tư Kê tấp ghe gần bờ, Ngọ nói:

– ” Con nước ròng rồi, coi chừng ghe mắc cạn đó! Chiều rồi, còn chèo ghe đi đâu vậy? “

Tư Kê nói:

– ” Tui nhờ anh Bền đi với tui, chở mấy bao lúa của ông Hai biếu cho tía má đây nè, chớ đi đâu mà hỏi. “

– ” Vậy ha! ” Ngọ vui mừng, nói. ” Để Ngọ kêu tía xuống phụ giúp hai anh, vác mấy bao lúa lên trên nhà nghen. “

Nghe tiếng ai nói chuyện ồn ào trên dưới rạch, Mười Dần lật đật đi ra ngoài, coi chuyện gì. Thấy Tư Kê và Bền đứng trên ghe cà dom, Mười Dần ngạc nhiên, hỏi:

– ” Ủa, chiều rồi, hai cháu chèo ghe tới nhà bác Mười chắc có chuyện gì quan trọng, phải không? “

Ngọ vọt miệng, nói:

– ” Mấy ảnh chở dùm mấy bao lúa của ông Hai Bảnh biếu gia đìnnh mình đó! “

– ” Vậy sao! ” Mười Dần nói. ” Hai cháu chèo ghe từ trưa tới giờ chắc mệt đừ rồi, để bác xuống dưới ghe, bốc vác mấy bao lúa lên bờ. “

Bền nói:

– ” Thôi, bác Mười đứng trên bờ, để cháu vác mấy bao lúa lên bờ cho bác Mười. “

Nói xong, Bền nhảy xuống nước, kê vai cho Tư Kê đặt bao lúa trên vai, vác lên bơ,ø để cho Mười Dần vác tiếp vô nhà, rồi còn giúp trút lúa vô bồ. Mười Dần cảm động lắm, nói với vợ:

– ” Cậu Hai Bảnh thiệt tử tế hết sức, mình đâu phải là tá điền của ổng, bồ lúa nhà mình sắp trống trơn rồi, ổng tiếp tế cho vợ chồng mình thiệt kịp lúc hả, bà! “

Vợ Mười Dần hỏi:

– ” Hai cháu ăn uống gì chưa, để bác gái dọn cơm cho cả nhà ăn luôn cho vui. Con Ngọ nó nấu canh chua cá linh với bần chín, bông so đũa, me chua và cá trê vàng kho tộ ngon lắm! “

Tư Kê thưa:

– ” Dạ khỏi đi má, tía con mời tía qua nhà con nhậu. Tía con nói, có làm món lươn um nước cốt dừa với rau ngổ, đãi tía Mười tối nay rồi. “

Vợ Mười Dần nghe thằng rể tương lai, chưa chi gọi mình bằng má, nghe cũng vui vui. Bà mắng yêu:

– ” Tao có gả con Ngọ cho mầy hồi nào đâu, mà gọi tao bằng má vậy hả, Tư Kê? “

Tư Kê nói:

– ” Trước sau gì con cũng là con rể của tía má mà, ” Tư Kê cười nịnh, nói. ” Con ra đằng sau bếp thăm Ngọ một chút nghe má! “

– ” Mầy mới xa con Ngọ hồi sáng, bây giờ mầy muốn gặp nó nữa hả? ” Mười Dần nói. “Coi bộ hai đứa bây khắng khít dữ a! “

Vợ Mười Dần nói đùa:

– ” Ừa, gặp nó nói chuyện đàng hoàng thì tao không cấm, mầy mà bốc hốt ẩu là biết tay nó nghe, con! “

Bền kiếu từ mọi người trở xuống ghe chờ. Tư Kê đưa Bền ra tới bến rạch, rồi quày quả trở vô nhà gặp Ngọ. Thấy Ngọ đang lui cui, chuẩn bị dọn cơm canh ra mâm, Tư Kê hỏi:

– ” Ủa, dọn cơm ai ăn mà nhiều chén đũa quá vậy, Ngọ? “

– ” Con ai vô đây nữa, ” Ngọ hỏi. ” Bộ anh và Bền không ở lại dùng cơm với gia đình Ngọ sao? “

– ” Tía tui mời tía Ngọ nhậu tối nay mà, bộ Ngọ không biết sao? ” Tư Kê hỏi. ” Cặp heo quắn, Ngọ nhốt nó ở đâu vậy? “

– ” Ở ngoài chuồng heo, bên cạnh ao cá vồ đó! “

– ” Ngọ dẫn tui ra ngoài chuồng heo, ngắm nó một chút xíu được không? “

– ” Làm gì mà không được, ” Ngọ nói. ” Để Ngọ dẫn anh ra ngoài đó! “

Tư Kê nhìn cặp heo quắn, nói:

– ” Ráng mau ăn chóng lớn, đặng tao còn cưới vợ nghen tụi bây! “

Ngọ hỏi:

– ” Nói bá xàm, bá láp gì đó, cha nội! “

Tư Kê cười hề hề, nói:

– ” Tui nói nó mau ăn chóng lớn đặng tui còn cưới vợ, chớ có nói chi đâu, ” Tư Kê nhìn dáo dác, không thấy ai hết bèn cười nham nhở, nói. ” Ngọ cho tui hun một cái, nhe Ngọ. Cám treo để heo nhịn đói, chết tui nè chời! “

Nói xong, Tư Kê nhào tới ôm Ngọ chặt cứng, kê miệng vào gò má đỏ hây hây của Ngọ hun một cái chụt. Bị tấn công bất ngờ, Ngọ vùng vẫy kịch liệt, vừa lấy hai bàn tay đẩy cái bản mặt nóng muốn bốc khói của Tư Kê ra, vừa nói:

– ” Mau buông ra không? Tui la làng bây giờ đó! “

– ” Làng xã đóng cửa đi nhậu hết rồi, ” Tư Kê khoái chí, cười hì hì, nói. ” Hun đã quá chời! Cho hun thêm một cái nữa, tui mới chịu buông! “

Ngọ tức quá, hỏi gằn:

– ” Có chịu buông ra không thì nói! “

– ” Không buông! Ngu sao buông! “

Ngọ tức mình hét:

– ” Tui nói một lần chót, buông tui ra không? “

Tư Kê đùa dai, chọc quê Ngọ, nói:

– ” Không buông! Ngu sao buông chớ! “

Ngọ liền xoay người ra đòn hông, quăng Tư Kê vô chuồng heo, té chổng gọng trên đống cứt heo. Tư Kê ngồi bật dậy, ngơ ngác, hỏi:

– ” Chiêu nầy là chiêu gì độc quá nè chời! “

Ngọ vừa phủi tay, vừa nói:

– ” Sư phụ Thu Hương nói chiêu nầy dùng để trị mấy thằng cha dê xồm đó, biết chưa hả, cha nội! “

Ngọ nói xong, ngoe nguẩy đi vô nhà mét má, còn Tư Kê lồm cồm đứng dậy, tiu nghỉu như gà mắc mưa, bẽn lẽn đi te te vô nhà, định chuồn thẳng xuống ghe. Mười Dần thấy quần áo thằng rể dính đầy cứt heo, bốc mùi thúi rùm nên ngạc nhiên, hỏi:

– ” Mầy đi đâu mà quấn áo lấm lem, dính đầy cứt heo vậy, Tư Kê? “

– ” Dạ, con té nhằm đóng cứt heo, ” Tư Kê mắc cỡ, nói. ” Thôi, con xuống rạch tắm giặt, rồi chờ tía xuống ghe sau nghen! “

Mười Dần nói:

– ” Thôi khỏi chờ, về nói với tía, chút nữa tao bơi xuồng qua sau nghen, con! “

Tư Kê chạy một mạch ra bờ rạch, rồi co giò nhảy ùm xuống nước, lột quần áo tắm giặt, làm thằng Bền cũng chưng hửng, hỏi:

– ” Sao không trở về mà tắm giặt tại đây vậy, Tư Kê? “

Tư Kê mặc nguyên bộ đồ ướt vô, nắm cây sào tre leo lên ghe, Bền mở nắp rương, lấy bộ quần áo khô đưa cho Tư Kê, nói:

– ” Lấy bộ quần áo khô của tao mặc tạm đi, rồi chèo ghe về nhà. Trời chiều rồi đó! “

Tư Kê vừa chèo ghe, vừa càm ràm:

– ” Bữa nay, tui gặp xui tận mạng à nghen, anh Bền! “

Bền hỏi:

– ” Xảy ra chuyện gì kể tao nghe coi? “

Tư Kê bực mình, trả lời cộc lốc:

– ” Tui bị gà mái đá, văng vô chuồng heo! “

– ” Mầy muốn nói con Ngọ, nó đá mầy văng vô chuồng heo, phải không? ” Bền hỏi tiếp. ” Mầy làm sao để nó quăng mầy vô chuồng heo vậy, Tư Kê? “

Tư Kê phân bua:

– ” Ngọ bị tui ôm bất ngờ, mới hun nó được một cái, phê quá! Chưa kịp hun thêm cái nữa là bị nó quăng tui vô chuồng heo, té nghe một cái ạch, nhằm đống cứt heo thúi rùm, nhục thấy mẹ! “

Bền cười chọc quê, nói:

– ” Đáng đời! Nó không đá mầy giập dái là phước cho mầy rồi đó, thằng khỉ! “

– ” Hổng dám đâu! Nó mà đá vô háng tui là nó bị què chưn đó! “

– ” Xạo hoài, cha ơi! “

– ” Tui không biết nó dùng chiêu gì, khi nó xoay người lại, dỡ tui hổng chưn, làm tui mất thăng bằng, rồi nó quăng tui vô chuồng heo một cái ào, ” Tư Kê còn hậm hực, nói. ” Cái chiêu mà Ngọ chơi tui, gọi là chiêu chuyên trị mấy thằng dê xồm! “

Bền hỏi:

– ” Mầy biết ai là sư phụ của con Ngọ không? “

– ” Chị Thu Hương, con gái của ông Hai Bảnh chớ ai! ” Tư Kê hỏi. ” Anh có chiêu nào chuyên vặt lông gà mái tơ không, anh Bền! Làm ơn dạy cho tui chiêu đó đi, sự phụ! “

Bền nói:

– ” Tao nghe mấy thằng cha có vợ nói là phái nữ có huyệt ” tê ” độc lắm! Mầy điểm trúng phóc chỗ đó là con Ngọ nằm xụi lơ, hết chống cự với mầy! “

– ” Cái huyệt đó được đa! ” Tư Kê khoái quá, hỏi. ” Mà cái huyệt ” tê ” của phái nữ đó nằm chỗ nào vậy, cha nội? “

– ” Tao biết, chết liền! “

Tư Kê nói:

– ” Nói trớt huớt mà cũng nói! “

*

Sau khi Bền và Tư Kê nhổ sào, Mười Dần vội vã ăn uống qua loa mấy miếng để dằn bụng, rồi xách chai rượu tây đi xuống xuồng. Má Ngọ hỏi:

– ” Ông với anh Chín Dậu nhậu hết chai rượu nầy, có biết đường bơi xuồng về nhà không đó, cha? “

– ” Trể lắm là sáng mai tui sẽ bơi xuồng về trình diện bà! “

Vợ Mười Dần nói:

– ” Chớ không phải uống hết chai rượu nầy, rồi đi luôn 10 năm nữa, mới xách đít về nhà, phải không? “

Mười Dần cười vả lả, nói:

– ” Tui bị Tây bắt đi lính, chuyện rủi ro thôi mà! ” Mười Dần nói. ” Thôi, tui đi qua nhà anh sui nhậu nghe, má con Ngọ! “

– ” Nhậu lỡ say mèm thì ngủ luôn ở bên đó, sáng mai hãy bơi xuồng về nhà nghen! Say rượu mà bơi xuồng về nhà một mình, rủi ro xuồng lật là dễ đi chầu hà bá lắm đó! “

– ” Tui biết rồi mà, bà đừng có lo! “

Tư Kê và Bền về tới nhà, khoảng nửa giờ sau là Mười Dần cũng vừa bơi xuồng tới nơi. Chín Dậu ngồi trong nhà nhìn ra, thấy ông bạn hiền tay cập nách chai rượu Tây, lơn tơn đi lên. Chín Dậu mừng lắm, gọi con:

– ” Tía vợ mầy tới rồi đó, Tư Kê! Dọn chén đũa lên cái chõng tre, lẹ lên! “

– ” Dạ, có ngay! ” Tư Kê đáp.

Hai sui gia gặp nhau tay bắt mặt mừng, Chín Dậu nói:

– ” Không có chị Mười đi với anh, tối nay anh em tụi mình nhậu thả cửa nghe, anh Mười! Sáng mai tui hộ tống về tận nhà. Bảo đảm chị Mười không dám đục anh phù mõ đâu! “

Mười Dần cười, nói:

– ” Thôi mà, nói móc họng tao hoài vậy, bạn hiền! Hồi đó khác, bây giờ khác, bả mà quờ quạng là chết với tao! “

– ” Có thì nói, không có thì thôi nghe, cha nội! ” Chín Dậu nói. ” Thôi, mời anh ngồi lên chiếu đi, anh ” lỳ một lam ” , còn tôi làm một ly lấy trớn cái đã. “

Mười Dần khui chai rượu ” cognac ” rót ra ly ” xây chừng ” , mời Chín Dậu:

– ” Đâu chú mày làm thử một ly rượu ” cỏ nhát ” của Tây coi, có ngon bằng rượu đế của ta không? “

Chín Dậu cầm ly rượu nốc cạn một hơi, khà một hơi dài, lim dim đôi mắt tận hưởng men cay của rượu Tây. Mười Dần hỏi:

– ” Sao, chú mầy thấy rượu ” cỏ nhát ” của Tây, uống có đã không? “

Chín Dậu lắc đầu, nói:

– ” Rượu ” cỏ nhát ” của Tây uống lạt lẽo quá, không đậm đà bằng rượu ” cỏ lát ” Đồng Tháp Mười. Thôi, rượu ” cỏ nhát ” của Tây để cho anh uống, tui uống rượu ” cỏ lát ” Đồng Tháp Mười quê hương của tui. Anh Mười có nghe mấy tay bợm nhậu nói: ” Ta về ta uống rượu ta / Dù ngon dù dở, rượu nhà vẫn hơn “ , rượu ta là nước mắt quê hương mà, anh Mười! “

– ” Ừ, chú mầy chê không uống thì để tao! ” Mười Dần nói.

Chín Dậu gọi con:

– ” Tư Kê, xách chai rượu ” cỏ lát ” Đồng Tháp Mười ra đây cho tía coi! “

– ” Dạ, có ngay! ” Tư Kê lật đật xách chai rượu để ở trên mâm, rồi hỏi. ” Tía cần gì nữa không? “

– ” Được, khi nào cần tía gọi! “

– ” Thôi, con ra nhà bếp ăn cơm với anh Bền nghe, tía! “

Mười Dần lắc đầu, nói:

– ” Không được, hai anh em tụi con phải ra đây, ngồi ăn chung mâm với hai bác cho vui nghe chưa. “

Tư Kê nói:

– ” Tụi con đâu biết nhậu, ở nhà bếp tụi con ăn thoải mái hơn! “

Chín Dậu nói:

– ” Tư Kê nó nói phải đó đa! Tụi nhỏ muốn ăn uống thoải mái, thằng Tư Kê là tổ phá mồi đó! ” Chín Dậu nói. ” Mời anh sui cầm đũa, dùng thử món lươn um nước cốt dừa với rau ngổ, coi có vừa miệng không? “

Mười Dần lấy đũa gắp một miếng lươn um, bỏ vào miệng nhai nhóp nhép, gật gù, nói:

– ” Món lươn um nầy ngon đáo để! Chú nấu ăn, ngon thiệt nghen! “

Sau khi đốt khói un muỗi phía trước và phía nhà sau xong, Tư Kê dọn mâm cơm lên cái chõng tre rồi mời Bền cầm đũa. Bền gấp một miếng thịt lươn bỏ vào miệng nhai, khen:

– ” Cái món lươn um nước dừa với rau ngổ ngon độc, ăn đã thiệt nghe, Tư Kê! “

– ” Đây là món lươn um, nấu theo bí quyết gia truyền của bà ngoại truyền lại cho tía của tui, ăn vào mát gan, bổ thận, ” Tư Kê nói. ” Hỏi thiệt nghe, tía tui còn một chai rượu nếp than, hạ thổ 100 ngày rồi! Nếu anh muốn nhâm nhi chơi, tui đi lấy để tụi mình chén, nghen! “

Bền lắc đầu, nói:

– ” Bây giờ để tao ăn no bụng rồi, tao muốn xuống dưới ghe trước, đốt đèn nhang trên hai cái tran thờ rồi đi ngủ sớm. “

– ” Thôi, vậy cũng được! Tối nay, tui ngủ trên nầy, hầu rượu cho tía sai vặt, ” Tư Kê nói. ” Sáng mai, chờ con nước ròng sát, tụi mình sẽ dỡ chà bắt cá nghen! “

Bền nói:

– ” Tao thấy cái đống chà của mầy dưới mé rạch rồi, chỉ bằng cái bụm tay, mất nửa giờ là dỡ miệng chà nầy xong! “

– ” Ậy, đây là ” chà lu ” , tuy nhỏ như vậy mà sau mỗi 2 hoặc 3 tháng, tui dỡ chà một lần, bắt cá nhiều lắm đó; có khi cả thùng thiếc chớ không ít đâu! Dỡ chà trên rạch Long Khốt là lối kiếm sống, làm chơi ăn thiệt kiểu truyền thống của dân cư Đồng Tháp Mười mà anh. “

Bền nói:

– ” Lần đầu tiên tao nghe mầy nói ” chà lu ” , mà chà lu nó ra làm sao? “

Tư Kê nói:

– ” Anh biết, con rạch Long Khốt đâu có rộng lớn như dòng sông Vàm Cỏ Tây, dân vùng nầy không thể chất những đống chà lớn, vì sợ cản trở ghe thuyền lưu thông; vì vậy, họ mới nghĩ ra cách dùng ” chà lu ” , ” chà hũ ” û, ” chà cần xé ” . Cái đống chà mà anh thấy dười mé rạch là loại ” chà lu ” , đó cái lu mái dầm lớn dùng để chứa nước mưa bị lỗ rò, tía tui xin được của người bạn, đem về chôn dưới mé rạch, rồi thả những nhánh cây bần, mù u, bình bát, bẹ dừa nước để tạo bóng mát cho cá trú ngụ. Mỗi buổi chiều, chờ cho con nước vừa đứng chựng là tía tui vắt cơm nguội với tấm cám để làm mồi nhử cho cá vô ăn. “

– ” À, thì ra là như vậy! ” Bền nói. ” Tao sống trôi nổi theo nghe thương hồ, xuôi ngược trên sông Mekong, hết sông Tiền, rồi qua sông Hậu, tao thấy dân cư thường sống tập trung theo các làng dài, uốn theo khúc quanh của các dòng sông như những làng ven sông ở Long Xuyên, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh… phương tiện di chuyển của họ trên các dòng sông, kinh, rạch… là ghe thuyền, tàu bè. Chất chà cũng là kỹ thuật khai thác thủy sản tương đối ít tốn công sức so với việc đào mương, đào ao nuôi cá. Bà con nông dân thường chất chà những nơi sông sâu nước chảy, bờ bị nước xoáy lở hoặc ngã ba sông, đầu vàm, nơi nước vận lại cho cá ẩn mình và săn mồi. Diện tích của đám chà trung bình 42 thước vuông, thường thì cách bờ 5 hoặc 6 thước và bề dài khoảng 7, 8 thước. Thời gian dỡ chà phải đợi từ 3 tháng trở lên và sau mỗi lần dở chà là phải thay chà mới, cá tôm mới vô ở. Nhưng, ở Đông Hồ, bà con ở xóm Láng Tranh và ấp Mương Khai sống dọc theo bờ hồ và đầu vàm sông Giang Thành, họ chất những miệng chà, cái nào cái nấy lớn gắp đôi, những miệng chà dọc theo bờ sông Mekong. “

– ” Chất chà lớn như vậy, làm sao dỡ chà bắt cá được chớ? ” Tư Kê hỏi.

Bền nói:

– ” Tao nghe ông bà kể lại, chợ Rạch Giá được xây cất hoàn chỉnh vào năm 1916 và trở thành một cảng biển quan trọng; nhờ vậy, nghề đánh bắt hải sản phất lên rất mạnh, nhiều ghe tàu đánh cá mạnh dạn ra khơi, lênh đênh ngoài biển đánh bắt cá vài ngày mới quay về đất liền với một số lượng hải sản rất lớn để phân phối đi lục tỉnh. Ngoài cửa biển Rạch Giá, ngư phủ chuyên nghiệp thưởng sử dụng kỷ thuật đánh bắt hải sản tùy theo mùa cá như: cá cơm, cá thu, cá bạc má, cá trích, cá ngừ, cá nục, cá chim…cửa biển Rạch Giá cũng như các vùng cửa sông Mekong, người ta thường ” đóng đáy ” hoặc dùng ” mành cơm ” , ” lưới đăng ” , ” lưới bén ” , ” câu kiếu ” . Còn ở Đông Hồ, chất chà cũng là cách đánh bắt cá truyền thống tương đối nhẹ nhàngï, dành cho đàn bà hoặc người có tuổi không còn đủ sức ra khơi, có thể khai thác thủy sản ngay tại bãi sông gần nhà. “

Tư Kê hỏi:

– ” Thả chà với diện tích quá lớn như vậy, không sợ sóng gió cuốn trôi hết sao, anh Bền? “

– ” Thường người ta dùng những cây tràm, đước, tầm vông chịu nước, cắm xuống đáy sông, tạo thành khung hình vuông hoặc hình chữ nhựt trước, sau đó dùng những cây nhỏ hơn cắm cách nhau vài ba thước đều hết 3 cạnh, giống như đóng cái cũi chó. Để tránh bị nước chảy xiết cuốn trôi, người ta dùng tre tầm vông dài 6, 7 thước đặt nằm ngang trên mặt nước, buộc thả lỏng với những cột trụ để nó nổi lên, xuống theo con nước ròng, nước lớn. Tiếp theo đó, chất bên trong những gốc cây khá lớn xuống trước, rồi chất tiếp những nhánh cây bần, mù u, cây giá, cây cà xăng, cây mắm…. Khi chất đám chà xong, chủ chà thường thả lục bình để tao bóng mát cho cá tôm đến trú ngụ. Lục bình luôn luôn được giữ lại bên trong nhờ những thanh tầm vông thả nằm ngang, lên xuống theo con nước. “

Tư Kê ngắt lời, hỏi:

– ” Miệng chà lớn như vậy, mỗi lần dỡ một miệng chà, chắc phải có nhiều người phụ giúp lắm, phải không? “

Bền nói:

– ” Theo kinh nghiệm muốn dỡ một miệng chà, phải để ít nhứt 3 tháng vào thời điểm con nước ròng sát. Ở Đông Hồ, chủ chà nào hô dỡ một miệng chà là những người lớn và đám trẻ con tụ tập tới phụ giúp, vui lắm! Chờ khi con nước ròng sát, họ chia làm hai toán: toán bên trong lo kéo những nhánh chà, chuyền tay nhau quăng lên bờ. Sau đó, toán bên ngoài bắt đầu ” rạng lưới ” , cái lưới được buộc chặt trên hai đầu cái cọc tre cao khoảng 5 thước, đáy lưới có luồn sợi dây xích sắt để lưới luôn luôn bám sát đáy. Lưới được hai người ” thợ chà ” thu hẹp dần dần và kéo sát vào mép bờ sông. Tôm càng, cá he vàng, cá mè vinh, cá rô biển… nổi lờ đờ trên mặt nước đục ngầu. Mấy anh em thợ chà thi nhau bắt cá tôm, bỏ vô trong mấy cái thùng thiết, thau, chậu. Nhưng, những con cá bự như cá ngát, cá bóng tượng, cá chẽm rất khỏe, chui rúc xuống bùn sâu, không chịu nổi lên mặt nước liền như những con cá nhỏ; vì vậy, người thợ chà phải lặn xuống để mò chụp bắt. Cái ” miệng chà ” sau khi được vét sạch cá, chủ chà phải lo kiếm những vật liêu mới để làm miệng chà khác, cá mới chịu chui vô ở nhiều. “

– ” Anh Bền có nhiều kinh nghiệm dỡ chà quá nghen, ” Tư Kê hỏi. ” Dỡ chà so với tát đìa, cái nào dễ ăn và bắt được nhiều cá tôm hơn? “

– ” Theo kinh nghiệm của tao, mỗi lần dỡ một miệng chà cở trung bình như tao vừa kể thường bắt được ít nhứt 150 ký cá tôm. Tát một cái đìa bằng diện tích cái miệng chà cũng chưa bắt dược nhiều cá hơn một lần dỡ chà. Cái nghề hạ bạc còn gọi là nghề ” xuống bến ” ở quê mình, ngư dân đã nghĩ ra nhiều kiểu đánh bắt thủy sản khác nhau, đơn giãn nhứt là đi xúc cá, tôm tép ven bờ sông, bờ biển, đăng đó trên sông rạch, đi chài lưới, kéo lưới một, lưới đôi, lưới ven bờ sông rạch, còn đánh bắt cá dưới sông rạch thì đi bằng ghe cào. Làm ăn hợp đồng qui mô thì ” đóng đáy ” và nghề lưới dọc theo bờ biển Rạch Giá, lưới có rất nhiều kiểu như: lưới bén, lưới vét, lưới quay, lưới chuồn… ” Bền nói. ” Anh tao lúc còn sống thường nói rằng, làm nghề đóng đáy rất vất vả và cực khổ nhứt, nó đòi hỏi người theo nghề phải có sức khỏe dẻo dai và thường gặp nguy hiểm, lắm khi trời mưa bão liên miên nên chuyện sập hàng đáy thường vẫn xảy ra, họ phải bơi lội lênh đênh trên biển suốt đêm, chờ chủ tàu đưa tàu ra cứu họ. Dọc theo bờ biển Rạch Giá từ xóm Vĩnh Thanh vượt qua vịnh Rạch Giá, nơi con sông Cái Lớn đổ ra biển, rồi từ đó xuống tới xóm Kinh Vĩnh Phong, chiều dài khoảng 30 cây số có nhiều miệng đáy lắm. “

Hai anh em đang chuyện trò tâm đắc, Tư Kê nghe tía gọi:

– ” Tư Kê, đem chai rượu ” cỏ lát ” ngâm ” tam xà đởm ” ra đây cho tía. Lẹ lên! “

– ” Dạ, có ngay! ” Tư Kê quay sang Bền, nói. ” Anh ngồi đây chờ tui một chút nghe, tui trở xuống liền bây giờ! “

– ” Thôi, mầy ở trên nầy hầu rượu cho tía đãi ông già vợ của mầy đi! ” Bền ngáp dài, nói. ” Tao đi xuống ghe ngủ trước nghe, Tư Kê. “

– ” Ừa, vậy cũng được! Sáng mai tụi mình gặp nhau dỡ chà nghen! “

Tư Kê đi tới cái khạp đựng gạo ở gốc bếp, lấy chai rượu có ngâm mấy cái mật rắn, chạy ra ngoài đưa cho tía, rồi hỏi:

– ” Tía cần thêm mồi nhậu không, tía? “

– ” Thôi, khỏi đi con! Tía với anh Mười nhậu nhiều, chớ ăn bao nhiêu! ” Chín Dậu hỏi. ” Còn cháu Bền đâu rồi, Tư Kê? “

– ” Anh mới đi xuống ghe ngủ rồi tía! “

– ” Tía mừng thấy hai đứa bây kết bạn thân với nhau, ” Chín Dậu nhìn ông bạn già, nói. ” Mầy có thấy tao với tía vợ mầy kết bạn cả chục năm rồi mà tình bạn trước sau như một không thay đổi, phải vậy không, anh Mười? “

– ” Đây là lời nói chân tình của anh Mười, phát xuất từ tận đáy lòng chớ không phải rượu nói đâu nghe! ” Mười Dần cầm chai rượu ” cỏ nhác ” rót ra ba cái ly ” xây chừng ” rồi giọng cảm động, nói. ” Sẵn đây, anh Mười muôn vàn cám ơn chú với cháu Tư Kê đã hết lòng giúp đở hai má con của con Ngọ được no cơm áo ấm trong suốt 10 năm trời đằng đẵng. Thôi, mời mọi người uống cạn ly rượu nầy, để mừng hai anh em mình sẽ kết thành sui gia với nhau. Thằng Tư Kê trước sau gì cũng sẽ là thằng rễ quí của gia đình anh! “

Tư Kê nghe ông già vợ tương lai nói vậy, khoái quá, nói:

– ” Mời hai tía uống cạn ly rượu nầy với con! Vô một trăm phần trăm… “

*

Trở xuống ghe, thắp nhang đèn trên trang thờ Đức Trần Hưng Đạo và tía má xong, Bền chong ngọn đèn dầu mù u, rồi lấy quyển vở của Năm Hậu ra nghiên cứu những chiêu thức hiểm hóc bí truyền, tuyệt kỹ vô song, đường roi danh bất hư truyền của đất Thuận Truyền và rồi Bền cảm thấy nhớ quá người bạn diễn chân quê… Bền vói tay lấy cây roi máng trên vách, bước ra đằng sau lái, rồi leo lên mui ghe, thi triễn những đường roi cho nhuần nhuyễn. Dưới ánh trăng rằm, bước chân tiến thoái thoăn thoắt trên mui ghe nhẹ nhàng, cánh tay múa ngọn roi nhanh từ chậm đến nhanh dần, phối hợp các chiêu thức công thủ xuất sắc, ngọn roi biến hóa khôn lường, phát ra tiếng gió vun vút mà chiếc ghe hơi chòng chành, chao ghiêng một chút đã nói tinh thần khổ luyện của Bền càng ngày càng tiến bộ vượt bực.

Trời về đêm tĩnh mịch, vầng trăng rằm tròn vành vạnh, treo lơ lững chênh vênh trên những ngọn cau già ven sông, tỏa sáng giữa bầu trời mênh mông lộng gió, lấp lánh muôn vì tinh tú trong những dãy ngân hà xa xăm. Aùnh trăng nhuộm vàng cả con rạch Long Khốt, một thứ ánh sáng dịu dàng, bàng bạc lung linh trên mặt nước. Một vài cánh vạc ăn đêm lạc loài, vội vã sải cánh băng ngang qua vầng trăng sáng, đẹp như cánh hạc bay trong trăng. Bền đứng chống ngọn roi trên mui ghe, hít thở những hơi dài thật sâu, một cảm giác thư thái tràn ngập tâm hồn bởi gió đồng nội mang theo hương phù sa thoang thoảng làm ngây ngất lòng người. Sau một ngày khuân vác những bao lúa nặng nề, chèo chống cật lực để giúp đở hai gia đình của Tư Kê, rồi sau giờ luyện tập võ công khiến Bền thấm mệt, chui vào trong khoang ghe ngủ thiếp đi lúc nào không hay…

Rạng đông, con nước ròng sát đã đứng chựng sắp trở mình chảy vô. Những con chim bìm bịp ẩn mình trong mấy bụi ô rô ven sông bắt đầu kêu vang lên rộn rã. Bền thức dậy, bỗng nghe có tiếng mái chèo khua nước rộn ràng, hướng về phía bến nước. Bền ngồi bật dậy, đẩy cánh khoang ghe sang một bên, nhìn thấy một thiếu nữ, đội chiếc lá sùm sụp nên nhìn không biết là ai. Nhìn thấy Bền, nàng lên tiếng gọi:

– ” Anh Bền ơi! Có anh Tư Kê ở dưới ghe cà dom với anh không? “

Bền thấy Ngọ, rất ngạc nhiên, hỏi:

– ” Ủa, Ngọ tới tìm Tư Kê sớm vậy? Có chuyện gì không, cô Ngọ? “

Ngọ cười vui vẻ, nói:

– ” Má kêu em chèo ghe qua đây, rước tíavề nhà! Má sợ tía còn say xỉn, bơi xuồng về nhà một mình, nguy hiểm lắm đó! “

Vừa lúc đó, Tư Kê xách cái thùng thiếc đi xuống bến rạch, chuẩn bị dỡ chà. Thấy Ngọ, Tư Kê mừng quá nói:

– ” Ủa, Ngọ chèo ghe qua tìm tui sớm quá vậy cà? Bộ nhớ tui lắm hả chời? “

– ” Còn lâu, đừng có ham! Ngọ chèo ghe đây là để rước tía về, chớ không phải để gặp bộ mặt dê xồm của anh đâu! ” Ngọ hỏi. ” Tía của Ngọ đâu rồi anh, Tư Kê? “

– ” Tía còn đang ngủ! ” Tư Kê nói.

Bền thấy Tư Kê hối:

– ” Con nước sắp lớn rồi đó! Dỡ chà lẹ lên đi, Tư Kê. “

– ” Ngọ ngồi trên ghe chờ chút nghe, ” Tư Kê nhìn Bền, nói. ” Tui xuống liền bây giờ, đừng hối nữa, cha nội ơi! “

Cái miệng lu mái dầm dưới mé rạch, nước còn ngập lé đé. Hai anh em móc sình đấp chung quanh miệng lu mái dầm đừng cho nước tràn vô, rồi Bền nắm nhánh cây chà lớn nhứt kéo ra khỏi miệng lu mái dầm thì bất ngờ, một con rắn màu đen, lớn bằng ngón chưn cái, đang quấn trên nhánh cây chà, bị động nó phóng ra nhanh như mũi tên, mổ vào cánh tay phải của Bền rồi phóng xuống nước lặn mất, không ai kịp nhận diện nó là rắn lành hay rắn độc. Tư Kê hoãng hốt, lớn tiếng gọi tía:

– ” Tía ơi! Anh Bền bị rắn cắn rồi, tía ơi! “

Nghe Tư Kê gọi, Chín Dậu tông mùng, lật chạy xuống mé rạch, nhảy xổm xuống nước, nhanh trí bảo Ngọ:

– ” Con tháo cái quai nón lá đưa cho tía, lẹ lên! “

Chín Dậu lấy cái quai nón lá, buộc chặt phía trên cánh tay, đở Bền nằm dài trên cái ghe tam bam bản của Ngọ, rồi quan sát vết thương của Bền, rồi lắc đầu nói:

– ” Cháu Bền bị rắn độc cắn rồi đó! Vết cắn có hai vết ranh nanh cách nhau 5 ly và một số răng nhỏ là rắn độc rồi. Mầy nhờ cháu Ngọ đưa nó tới nhà bác Ba Tỵ liền ngay bây giờ, may ra còn cứu nó kịp! Để nó nằm yên, đừng cử động mạnh, sẽ làm nọc độc lan nhanh trong cơ thể là trời cứu! “

– ” Rắn độc nầy thuộc loại rắn gì vậy, tía? ” Tư Kê hỏi.

– ” Nếu tía không lầm, nó thuộc loại ” đẻn cườm ” hoặc rắn ” chàm ngoạp ” , một loại rắn sống dưới nước rất độc, không thua rắn hổ mang bành. ” Chín Dậu nói.

– ” Anh Tư Kê leo lên xuồng lẹ lên! Ngọ chèo lái, anh bơi đằng mũi tới nhà bác Ba Tỵ đi! ” Ngọ hỏi. ” Anh biết nhà bác Ba Tỵ ở đâu không? “

– ” Biết, cứ chèo ghe ra hướng chợ Mộc Hóa! “

Khoảng 15 phút sau đó, vết rắn cắn trên cánh tay có màu tím bầm, Bền cảm thấy toàn thân mệt mỏi, khó thở, chóng mặt nôn mửa rồi hôn mê… làm Tư Kê và Ngọ quýnh cả lên, gắng hết sức lực, vung mái chèo liên tục. Chiếc ghe tam bản cất mũi lên, lướt ào ào trên sóng nước như một cuộc chạy đua, đọ sức với thần chết để giành giựt mạng sống của Bền từng giây, từng phút…

—> Chương 17

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , , , . Bookmark the permalink.