MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 17 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

CHƯƠNG MƯỜI BẢY
THẦN Y ĐỒNG THÁP MƯỜI

Chòi dơi Đồng Tháp MườiNgọ thấy Bền tay chưn bắt đầu co giật như người bị kinh phong, đờm trào ra khóe miệng, tròng mắt trợn trừng. Ngọ sợ quá, thét lên:

– ” Gần tới nhà bác Ba Tỵ chưa, anh Tư Kê? “

Tư Kê nhìn thấy tàng cây vú sữa rậm rạp gie ra ngoài bờ rạch, mừng quá, nói:

– ” Đó, đó… nhà bác Ba Tỵ dưới tàng cây vú sữa đó. Ngọ chèo ghe tấp vô cây cầu dừa để tui cõng anh Bền lên bờ. “

Ngọ nghe nói, mừng lắm, vung mái chèo thiệt mạnh, rồi bẻ lái để cho chiếc ghe tam bản rướn lên đám lau sậy, ghếch mũi lên bờ rạch. Tư Kê vội vàng nhảy xuống nước, Ngọ phụ một tay đở Bền lên lưng Tư Kê cõng lên bờ. Nghe tiếng con phèn sủa rân trước nhà. Thằng Tẻo, cháu kêu bác Ba Tỵ bằng cậu đang làm cá, nấu cơm lật đật chạy ra sân đón khách. Thấy Tư Kê đang cõng người lạ trên lưng. Khỏi nói, thằng Tẻo đoán biết là người bị rắn độc cắn. Thằng Tẻo hỏi:

– ” Ai bị rắn độc cắn vậy, anh Tư Kê? “

– ” Ảnh tên Bền, anh em kết nghĩa với tao, vừa mới bị con đẻn cắn hồi sáng, trong lúc phụ tao dỡ cái chà lu dưới rạch, ” Tư Kê hỏi. ” Bác Ba Tỵ có ở nhà không, Tẻo? “

– ” Cậu Ba đã đi ra ngoài chòi dơi từ lúc trời chưa rạng đông. Chắc cậu cũng trên đường trở về nhà rồi đó! ” thằng Tẻo nhìn Bền rồi lắc đầu, nói. ” Mạng sống của anh Bền như chỉ mành treo chuông, nọc độc theo máu lan ra khắp lục phủ ngủ tạng. Chờ tới lúc cậu Ba về là tắt thở rồi, có trời mới cứu kịp! “

– ” Có cách nào cứu ảnh không, Tẻo! ” Tư Kê quýnh cả lên, hỏi. ” Chừng nào bác Ba Tỵ về nhà? “

– ” Làm sao tui biết được, có khi cậu Ba tắp vô chòi chăn vịt của người bạn ngoài ruộng, nhậu tới chiều tối mò mới về nhà hổng chừng, ” thằng Tẻo nói. ” Thôi, anh cõng anh Bền vô nhà, đặt ảnh nằm trên cái chõng tre, tui có cách kéo dài mạng sống của anh Bền trong một thời gian ngắn, để tui chạy ra ngoài chòi dơi kiếm cậu Ba nghen! “

Nói xong, thằng Tẻo chạy ù ra ngoài đụt vườn đằng sau nhà, hái một nắm dược thảo đủ loại, rồi bỏ vào cái cối đá giã nát, vắt lấy nước cốt, cậy hàm răng Bền đổ thuốc vào miệng, xác đấp lên vết thương của Bền, nói:

– ” Nhìn vết răng để lại trên cánh tay anh Bền, tui đoán là rắn ” chàm quạp ” cắn, nọc loại rắn dưới nước nầy, độc tương đương với rắn ” mái gầm ” ở trên cạn. Thuốc nầy chỉ công hiệu ngăn chận chất độc phát tán trong vài tiếng đồng hồ. Anh chị ở đây canh chừng anh Bền, tui chạy ra chòi dơi nói cho cậu Ba biết, ” thằng Tẻo nói. ” Chỉ có cậu Ba của tui mới cứu ảnh được. Thôi, tui đi đây! “

*

Cái chòi dơi của bác Ba Tỵ nằm chơi vơi gần khu rừng tràm, cách nhà gần hai cây số, đây là cái nghề tương đối mới của dân cư miệt Đồng Tháp và cũng là cái nghề tay trái của hai cậu cháu Ba Tỵ kiếm thêm thu nhập mới đủ sống, vì nghề thuốc chỉ giúp đồng bào nghèo quanh vùng Đồng Tháp, nhưng không nhận tiền thù lao bao giờ. Gần 30 năm qua, nhờ những bài thuốc gia truyền của ông bà tích lũy được qua những kinh nghiệm nhân gian có từ thời khẩn hoang truyền lại, bác ba Tỵ đã cứu sống hàng trăm người. Nhờ biệt tài trị rắn độc cắn, bác Ba Tỵ nỗi tiếng là ” Thần Y ” vùng Đồng Tháp Mười được đồng bào vô cùng thương mến. Dơi tụ tập càng đông thì muỗi càng giảm, dịch sốt rét cũng đở được phần nào.

Gọi là chòi dơi cũng được, nhưng đúng ra là cái chòi dụ dơi tụ tập về nơi nầy làm chỗ trú ngụ để lấy phân dơi. Cái chòi dơi của bác Ba Tỵ là cái độc nhứt trong vùng nầy, vì đây cũng sáng kiến làm ăn của bác Ba Tỵ học được từ một người bà con ở dưới tỉnh Bạc Liêu. Cái chòi dơi cách mặt đất khoảng 10 thước, hình chữ nhựt, dài 10 thước, ngang 6 thước, trụ trên 6 cây cột bằng thân cây cau già. Mái chòi phải lợp bằng lá thốt nốt mới đúng cách, dễ dụ được dơi bầy vô chòi làm chỗ nghỉ cánh, nhưng cũng có thể lợp bằng lá dừa nước cũng được, nhưng lá treo trong chòi phải là tàu lá thốt nốt cho dơi bám. Trên trần chòi, phải làm một cái sàn bằng thứ gỗ tốt còn gọi là giàn dơi bám phải chắc chắn, mới đủ sức giữ được gần 400 tàu lá thốt nốt và bầy dơi hàng ngàn con đeo bám vào đó. Ngoài ra, khoảng vài tháng là phải thay lá mới, nếu không thay được một lần thì thay từng đợt để tránh rận và chống bệnh cho bầy dơi. Chung quanh mấy cái cột trụ, bác Ba Tỵ còn trồng nhiều bụi sả thật rậm rạp để cho mấy con rắn lục, rắn hổ ngựa tránh xa cái chòi dơi.

Qui luật loài dơi rất tuân thủ đúng giờ giấc rất chính xác. Loài dơi là loài ăn đêm thường rời tổ kiếm mồi vào lúc mặt trời vừa tắt nắng và sau một đêm săn mồi là rũ nhau bay ào ạt về chòi trước lúc bình minh nghỉ cánh bay. Trong khoảng thời gian đàn dơi đi săn mồi, chòi dơi trống trơn. Còn bầy dơi ở chùa Dơi tức ở chùa Mã Tộc được xây cất cách đây hơn 3 thế kỷ, cách tỉnh Sóc Trăng chừng 2 cây số, phía sau vườn chùa nầy là nơi tụ tập loài dơi quạ đông tới mấy trăm ngàn con. Chúng treo mình tòn teng trên những nhánh cây cổ thụ suốt ngày từ 6 giờ sáng, chờ tới 6 giờ chiều là đàn dơi bay túa ra đi kiếm ăn suốt đêm cho tới gần 6 giờ sáng mới bay trở về chùa. Có một điều lạ là đàn dơi không bao giờ phá phách cây trái trong chùa, phân dơi cũng là một nguồn huê lợi đáng kể cho chùa.

Hàng ngày, bác Ba Tỵ phải có mặt tại chòi trước lúc bình minh và làm thiệt nhanh mấy công việc hàng ngày như lo quét dọn, gôm phân dơi lại thành đống rồi dùng xẻng xúc vô cái cần xé, vác vào cái chòi lá để ủ. Mỗi ngày cái chòi dơi cho bác Ba Tỵ từ nữa giạ cho đến một giạ. Sau đó, nếu thấy tàu lá thốt nốt nào cũ rách thì bác Ba Tỵ bắt thang lên thay liền. Những công việc nầy bác Ba Tỵ phải hoàn tất trước khi bầy dơi bay về tổ. Nếu chậm, bầy dơi về thấy động là bay vù đi hết vào trong khu rừng tràm.

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, có hai loại trái cây rất hạp với phân dơi đó là dưa hấu và sầu riêng. Luống dưa hấu mà bón phân dơi, cho trái bự cở chục kí là chuyện thường, vỏ lại mỏng, ruột đỏ, nhiều nước, ngọt lịm. Giữa trưa trời nóng bức mà thưởng thức một miếng dưa hấu ở bến phà Mỹ Thuận hoặc Cần Thơ sẽ cảm thấy mát cả ruột gan. Dưa hấu trồng nhiều ở Vũng Liêm, xuống miệt Trà Vinh, Ba Động, Bến Đáy. Nhưng dưa hấu Cầu Ngang và Trà Bang nỗi tiếng khắp Nam Kỳ – Lục tỉnh là vì vùng đất cát pha rất thích hợp trồng dưa hấu. Hàng năm sau mùa lúa, đồng bào miệt vườn Vĩnh Long, Trà Vinh dành vài ba công đất trồng dưa hấu bán Tết. Bà con nông dân dọn sạch cỏ, lên thành luống thấp, chừa lối đi giữa hai luống để dễ bề gánh nước tưới dưa. Họ tìm đến nhà bác Ba Tỵ mua sạch hết phân dơi về bón mấy luống dưa hấu. Còn sầu riêng mà bón phân dơi ở miệt cù lao Tân Phong, cù lao An Binh hoặc Chợ Lách ở Vĩnh Long, cho sai trái gấp đôi, múi sầu riêng vàng mộng, cơm dầy, hột nhỏ và thơm ngọt hơn so bón với các loại phân hữu cơ khác như phân chuồng.

Bác Ba Tỵ vừa làm xong mấy công việc hàng ngày, nằm dài xuống bờ đê nghỉ mệt hơn nữa tiếng và thích thú ngắm đàn dơi bay ào ạt về chòi. Bác đang mơ màng thì nghe thằng Tẻo kêu chói tai:

– ” Cậu Ba ơi! Về nhà lẹ lên đi! Có người bị con chàm quạp cắn sắp chết tới nơi rồi! “

Bác Ba Tỵ nghe thằng Tẻo gọi, liền bật ngồi dậy như cái lò xo, quơ vội cái áo bà ba, khoát lên người, đón đầu thằng Tẻo, hỏi:

– ” Ai bị rắn cắn vậy, Tẻo “

– ” Anh Bền, con hay cháu gì đó của bác Tư Long ở ngoài vàm kinh Cái Cơ! ” Tẻo thở hổn hển, nói.

– ” Thôi, cậu biết rồi! ” bác Ba Tỵ hối. ” Đi theo cậu về nhà lẹ lên, cứu bệnh như cứu hỏa đó! “

Hai cậu cháu ba chưn, bốn cẳng vừa đi, vừa chạy, tới nhà là tông cửa vô liền. Bác Ba Tỵ thấy thằng Tư Kê ngồi bên cạnh bạn khóc mếu máo, liền đi tới cái chõng tre rờ trán của Bền, thấy đờm trào ra có pha lẫn máu, cổ quẹo sang một bên, lỗ chân lông đã rịn máu, mắt trợn trừng, miệng cứng đờ còn chỗ vết thương bị con chàm quạp cắn sưng tấy lên, chảy nước vàng, cánh tay bầm đen. Bác Ba Tỵ nói:

– ” Còn cứu kịp! Nếu trể chừng vài mươi phút nũa, chắc bác Ba cũng phải bó tay thôi, ” bác Ba Tỵ quang sang thằng Tẻo nói. ” Con đốt cây đèn dầu mù u đem lại đây cho cậu, lẹ lên! “

Bác Ba tới cái bàn thờ kê chính giữa gian nhà, lấy một lọ thuốc bằng sành và một cái lưỡi dao lam trở lại cái chõng tre, hơ cái lưỡi dao lam lên trên ngọn đèn cháy leo lét, dùng lưỡi lam mở rộng vết thương 2 phân, nặn máu độc, rồi rắc thuốc bột màu trắng ngà lên vết thương. Bác tháo cái quai nón buộc chặt trên vết thương của Bền cho máu lưu thông dễ dàng.

– ” Nguy hiểm giờ đã qua, nhưng hồi phục thì hơi chậm, ” bác Ba Tỵ nói. ” Các cháu ngồi đây coi chừng cháu Bền, bác ra ngoài vườn hái ít lá thuốc Nam nghe! “

Khoảng mươi phút sau, bác Ba trở vô nhà với một nắm lá thuốc đủ loại đưa cho thằng Tẻo, nói:

– ” Cháu rửa sạch, bỏ vào cái cối đá quết cho nhuyển, vắt lấy nước cốt vô cái chén rồi đem ra đưa đây cho cậu. “

– ” Dạ con biết rồi! ” Tẻo nói.

Tư Kê nóng ruột, hỏi:

– ” Anh Bền bị rắn chàm quạp cắn phải không, bác Ba? “

– ” Y chang là nó rồi, ” bác Ba nói. ” Theo kinh nghiệm của bác, loài rắn sống ở trên cây, độc nhứt là rắn lục. Loài rắn ở trên cạn độc nhứt là rắn mái gầm, rắn hổ mang bành, hổ đất. Loài rắn sống dưới sông rạch, chính là nó đây. “

– ” Làm sao bác Ba biết anh Bền bị rắn chàm quạp cắn? ” Tư Kê hỏi.

– ” Biết là do kinh nghiệm thôi, chớ khó gì đâu, ” bác Ba nói. ” Người bị con chàm quạp cắn, nếu thấy lỗ chân lông bị chảy máu, vì nọc độc loại nầy rất nóng là còn cứu kịp. Còn nếu thấy thất khiếu mà ra máu, chỉ có trời cứu vì nộc độc đã ngấm vào lục phủ ngũ tạng. Còn rắn mái gầm cắn thì tứ chi tê liệt, chóng mặt nôn mữa, quai hàm cứng đơ, mắt sụp mí, chỉ vài phút sau tim ngừng đập, ngưng thở và chết liền sau đó, còn rắn hổ mang thì kéo dài được vài ba giờ còn cứu chửa kịp thời. Nếu bị rắn lục cắn thì chỗ bị sưng tấy lên rất lẹ, nọc độc lan ra trong máu chậm hơn, sau 12 giờ nạn nhân mới bị trụy tim mạch, sưng thận rồi tử vong. “

Vừa lúc đó, thằng Tẻo bưng chén thuốc đưa cho bác Ba, thưa:

– ” Thuốc đây nè, cậu Ba! “

Bác Ba dùng chiếc đũa giống như cái đũa bếp nhỏ, cạy hàm răng Bền, rồi đổ thuốc vào miệng. Như là thuốc tiên, chỉ hai mươi phút sau là mọi người vui mừng thấy Bền mở đôi mắt ra nhìn mọi người. Bác Ba cười, nói:

– ” Mọi người an tâm ra về! Cháu Bền ở lại đây với bác vài ba ngày để bác cho thuốc và theo dõi bịnh tình. “

Tư Kê mừng lắm, nói:

– ” Con muốn ở lại với anh Bền vài ngày, được không bác Ba? “

– ” Được chớ sao không, láng giềng cả mà. ” bác Ba nói.

Tư Kê nhìn Ngọ nói:

– ” Ngọ bơi xuồng về nhà trước, nói cho tía tui biết. Còn tui ở lại đây với anh Bền vài ngày rồi sau nghen! “

– ” Như vậy cũng được! ” Ngọ khoanh tay, gật đầu chào bác Ba, nói. ” Thưa bác Ba, con về trước nghen. “

– ” Ờ, thôi cháu về trước! Cho bác Ba gởi lời hỏi thăm tía má con nghen! ” chờ cho Ngọ đi rồi, bác Ba Tỵ quay sang Tư Kê, nói. ” Con Ngọ đẹp người lại nết na, có một con vợ như vậy là cháu có phước lắm đó nghen! Ráng mà ăn ở đàng hoàng với nó đó! “

– ” Dạ, con biết rồi! ” Tư Kê nói.

Thằng Tẻo nhìn cậu Ba, nói:

– ” Con đi bắt nồi cháo cho anh Bền để ăn mau lấy lợi sức nghe, cậu! “

– ” Ở nhà còn gì ăn không? ” bác Ba hỏi.

– ” Còn xâu khô cá sặc treo trên dàn bếp, ” thằng Tẻo nói. ” Chút nữa, con đi tát cái mương đằng sau nhà, bắt ít con cá lóc, cá sặc, cá rô cho cậu đãi khách! “

Tư Kê vọt miệng, nói:

– ” Cho tao đi theo với mầy tát mương cho vui. “

– ” Ừa, anh muốn đi theo, phụ một tay với tui thì đi! “

Nói xong, thằng Tẻo đi ra sau nhà bếp vo gạo, bắt cái nồi trên cái cà ràng, rồi xách thùng thiếc ra thưa với cậu:

– ” Cậu nhớ coi chừng cái nồi cháo trắng dùm con nghen, ” rồi quay sang Tư Kê nói. ” Thôi, tụi mình đi tát mương! “

*

Sau khi thằng Tẻo và Tư Kê đi rồi, khoảng một giờ sau là Bền hé mắt ra nhìn chung quanh. Thấy bác Ba Tỵ ngồi trên cài chỏng tre đang bắt mạch cổ tay, Bền giựt mình, rút tay lại, hỏi:

– ” Đây là đâu vậy, bác? “

– ” Bộ cháu không nhớ gì hết hả? ” bác Ba cười, nói. ” Hồi sáng nầy, cháu với thằng Tư Kê tát miệng chà lu dưới mé rạch, bị con rắn chàm quạp cắn phải. May nhờ thằng Tư Kê và con Ngọ đưa cháu tới đây nhờ bác chửa kịp thời. Thiếu chút nữa, cháu mất mạng rồi. “

– ” À con nhớ ra rồi! Cám ơn bác cứu mạng! ” Bền nhìn quanh không thấy ai hết, hỏi. ” Tư Kê đâu rồi, bác? “

Bác Ba Tỵ nói:

– ” Nhà không còn gì để ăn, thằng Tẻo, cháu của bác, rũ thằng Tư Kê đi tát mương, kiếm cá đãi cháu đó! “

– ” Vậy sao! ” Bền cảm động, nói. ” Thiệt con làm phiền gia đình bác quá! Xin lổi bác thứ mấy để con gọi? “

– ” Gọi tôi là bác Ba được rồi! “

– ” Thú thiệt với bác Ba, vài ngày nữa con phải đi lên núi Thất Sơn, trợ giúp bác Hai Bảnh săn ác thú, trừ hại cho bà con ở trên đó. Liệu vài ngày nữa, cánh tay của con có thể cử động trở lại bình thường không, bác Ba? “

– ” Yên tâm đi cháu! Ngày mai, vết thương sẽ hết đau nhức, có thể cử động được, nước da trên cánh tay của cháu đã chuyển màu rồi đó! ” bác Ba nói. ” Nhưng mà, cháu phải ở lại đây đôi ba bữa nữa, để bác cho thuốc rồi hãy về nhà cũng không muộn. “

Bác Ba Tỵ nói:

– ” Chắc đói bụng rồi phải không? Thôi, để bác bưng tô cháo trắng, ăn với khô sặc nướng, còn uống thêm một liều thuốc nữa. “

– ” Dạ, con cám ơn, bác Ba! “

Vài phút sau, bác Ba bưng tô cháo còn nóng hổi và dĩa khô sặc nướng xé nhỏ, ngạc nhiên thấy Bền đã đứng dậy, cử động cánh tay ra đòn trực quyền làm bác Ba Tỵ ngạc nhiên, nói:

– ” Con nhà võ có khác, ” bác Ba hỏi. ” Còn đau nhức lắm không, cháu? “

– ” Dạ, còn đau lắm. Nhưng, con chịu được, không sao đâu, bác Ba! “

Bác Ba để tô cháo và khô lên cái bàn gỗ, đóng bằng gỗ tạp, nói:

– ” Cháu ăn đi kẻo nguội! Bác ra sau vườn hái ít lá thuốc Nam cho cháu uống tiếp. “

Bền đang ăn tô cháo, thấy Tư Kê và thằng Tẻo quần áo lấm lem, tay xách cái thùng thiếc đủ loại cá đồng. Thấy Bền đã tỉnh lại rồi, Tư Kê mừng quá, nói:

– ” Sao, khỏe rồi hả, cha nội! Hồi sáng nầy, anh làm tui sợ muốn té đái trong quần làm con Ngọ và tui chèo ghe mệt gần bức gân! “

– ” À, Ngọ đâu rồi, Tư Kê? ” Bền hỏi.

– ” Ngọ về báo tin cho tía biết là anh bình yên vô sự rồi, cho tía an tâm! ” Tư Kê nói.

Thằng Tẻo nói:

– ” Em nghe anh Tư Kê kể chuyện về anh và ông Hai Rồng đánh bọn cướp Thạch Sum, em khoái quá. Ngày nào anh còn ở lại đây dưỡng bệnh, tụi em sẽ làm những món ăn đặc biệt, cây nhà lá vườn cho anh ăn mau mạnh giỏi. “

Vừa lúc đó, bác Ba bước vô nhà, tay cầm nắm dược thảo, hỏi thằng Tẻo:

– ” Sao, mấy cháu tát mương, bắt được bao nhiêu cá để đãi cháu Bền đây hả? “

– ” Nhiều lắm cậu Ba ơi! ” thằng Tẻo khoe. ” Bốn con cá lóc bự tổ nái, một mớ cá kèo, cá rô. “

– ” Bộ không bắt được con cá trê nào hết hả, Tẻo? ” bác Ba nói. ” Mấy dây mướp rắn độ nầy vừa ăn lắm. Tụi cháu không nghe người ta nói sao: ” Mướp rắn nấu canh cá trê / Húp vô cái rột, khoái tê cả người. ” ; vả lại, mướp rắn ăn mát lắm, cháu Bền cần những thứ nầy vì nọc độc chàm quạp nóng lắm, mà không có thì thôi. Tụi cháu đi tắm giặt, còn lo làm cơm trưa, trưa trờ trưa trật rồi. “

– ” Cậu Ba bắt dùm con nồi cơm nghe! Con với anh Tư Kê ra sau vườn làm món cá lóc và cá rô nướng thùng thiếc với món cá kèo nướng ống tre cho cậu nhậu lai rai. ” thằng Tẻo nói. ” Tối nay, con rũ anh Tư Kê đi câu cá trê, con chỉ chiêu nầy cho anh Tư Kê có cá trê ăn mệt nghỉ! “

Bền thấy mọi người lo cho mình quá, cũng hơi ngại, nói:

– ” Thôi, ăn uống đơn giãn được rồi, nấu nướng cầu kỳ mắc công lắm! “

Thằng Tẻo cười toe toét, nói:

– ” Có gì đâu mắc công, mấy món ăn nầy, mỗi lần tụi em tát đìa là nướng cá ăn tại chỗ, vui lắm! “

– ” Mấy món ăn nầy, có từ thời khẩn hoang lập ấp. Nghề thuốc chuyên trị rắn độc cắn cũng là do kinh nghiệm của ông bà truyền lại. ” bác Ba nói. ” Thôi, cháu nằm nghỉ dưỡng sức đi, bác Ba đi giã thuốc cho cháu uống. “

Sau khi uống xong chén thuốc thứ hai, cơ thể của Bền nóng rần lên, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

*

Trong lúc bác Ba Tỵ lo nấu nồi cơm, thằng Tẻo xách cây dao phay và chén muối sả ớt, còn Tư Kê xách thùng thiếc cá ra ngoài sau vườn, đi thẳng tới cái ụ rơm gần bụi tre tầm vong. Thằng Tẻo lựa một cây tre tầm vong vừa tầm, đốn ngã xuống. Nó chặt lấy lóng dưới gốc, rồi chẽ đôi ra để qua một bên, nói:

– ” Lóng dưới gốc lớn nhứt dùng để ốp cá kèo nướng. Nhờ anh Tư Kê chặt hai lóng kế tiếp chẽ nhỏ, vót nhọn hai đầu để xiên mấy con cá lóc, cá rô cắm dưới đất. Nhớ cách xa ụ rơm một chút nghen, sợ nó cháy lan ra. “

Tư Kê nói:

– ” Mỗi lần ăn cá nướng là chặt một cây tầm vong, uổng quá Tẻo! “

– ” Nhằm nhò gì một cây tầm vong, ” Tẻo nói. ” Cá kèo nướng ống tre, phải là tre còn tươi nướng cá mới ngon. Phần tre còn lại dùng vào việc khác, có bỏ đi đâu mà tiếc! “

Thằng Tẻo mang ống tre chẽ đôi xuống mương rửa sạch, xong đi hái một mớ rau râm, hành lá, vài trái chanh mới trở lại ụ rơm. Tẻo lót hết mớ rau râm, hành lá lên hai miếng tre, rồi sắp 20 con cá kèo lên sau cùng. ” Tư Kê không thấy thằng Tẻo rửa cá kèo, ngạc nhiên hỏi:

– ” Cá kèo là loại cá nhiều nhớt, sao không thấy Tẻo đi rửa cho sạch nhớt vậy ta? “

Thằng Tẻo cười, nói:

– ” Cá kèo mà rửa sạch nhớt, nướng sẽ khô khốc, ăn không ngon. Nặn nước cốt trái chanh lên mình đủ khử nhớt được rồi. Anh coi tui làm để học hỏi nè! “

Sau khi sắp hết lớp cá lên hai miếng tre, Tẻo cắt trái ba chanh ra làm đôi, vắt nước cốt lên mình cá, rồi rắc muối sả ớt sau cùng trước khi ốp hai miếng tre tầm vông lại. Tẻo dùng dây kẽm quấn chặt, rồi nói:

– ” Xong món cá kèo nướng ống tre rồi đó, cho cậu Ba nhậu đã luôn! “

Tẻo giúp Tư Kê xiên thanh tre vô họng mấy con cá lóc và cá rô, cắm ngược xuống đất, úp cái thùng thiếc lên. Tẻo dựng đứng ống tre bên cạnh thùng thiếc rồi phủ rơm khô chung quanh, châm lửa đốt, rơm khô bắt lửa rất nhanh cháy bùng lên. Cả hai chỉ việc canh lửa chờ cá chín tới. Trong lúc chờ đợi, Tư Kê thắc mắc hỏi:

– ” Hồi nãy, tao nghe mầy nói có nghề câu cá trê độc lắm hả, chỉ mánh cho tao coi, được không? “

– ” Đây là bí mật nhà nghề, chỉ có Tư Kê tui mới chỉ mánh thôi đó nghen! ” thằng Tẻo cười, nói. ” Cái mánh là phải có ” viên gạch mồi ” nhử cá trê bu lại. Chỉ có vậy thôi! “

– ” Mầy nói thiệt hay nói giỡn chơi vậy, Tẻo? ” Tư Kê ngạc nhiên, hỏi. ” Lần đầu tiên tao nghe nói dùng gạch để dụ cá trê à nghen, Tẻo! “

– ” Được rồi, anh không tin hả? Tối nay, tui sẽ làm bùa trên viên gạch để dụ bầy cá trê tới cho anh coi! “

– ” Có thì nói, không có thì thôi! Không ai ép mầy nói dóc đâu nghe Tẻo. “

– ” Thôi, tui không cải với anh nữa! Chờ chút đi sẽ biết! “

Tư Kê ngữi thấy mùi cá nướng thoát ta từ cái thùng thiếc thơm phức, bèn nói:

– ” Hình như mấy cá lóc nướng trong thùng thiếc chín rồi đó, Tẻo! “

– ” Cá chín rồi đó, hình như cái gì nữa, ” thằng Tẻo cười, nói. ” Anh mở cái thùng thiếc ra đi. Tui đi chặt tàu lá chuối, gói mấy con cá đem vô nhà nghen. “

Thằng Tẻo đặt tàu lá chuối dưới đất, nhìn những con cá lóc, cá trê chín đều, vẩy cá biến thành màu vàng ệch, còn bốc khói nghi ngút. Chờ cho cá nguội, Tẻo rút thanh tre xiên cá lên, sắp thứ tự trên tàu lá chuối. Tư Kê lấy thanh tre mỏng cao lớp vẩy cá khét ở bên ngoài, rồi cuộn tàu lá chuối lại. Còn cá kèo nướng ống tre, Tẻo để nguyên xi như vậy để đích thân cậu Ba tháo sợi dây kẻm, mở ống tre ra.

Khi cả hai bưng cá nướng vô nhà đã thấy bác Ba bày sẵn sàng trên bàn một nồi cơm, chén đũa, dĩa rau thơm, rau húng, tía tô, khế chua, chuối chát xắt lát, ớt hiểm xanh… và một chén nước mắm, chanh ớt. Thằng Tẻo cầm cái lóng tre tầm vông bị cháy xém, đưa cho cậu Ba, nói:

– ” Đây là cá kèo nướng ống tre, món ăn khoái khẩu của cậu. Đâu cậu Ba tháo dây kẽm buộc, mở ra xem có vừa ý không? “

Bác Ba Tỵ tháo sợi dây kẽm, tách đôi cái lóng tre tầm vông, thấy lớp cá kèo nằm sấp lớp, da cá đổi màu nâu mà thịt không khô cứng, mùi cá, mùi rau, mùi sả ớt thơm quá chừng thơm. Bác Ba khen:

– ” Cháu Tẻo canh lửa khéo lắm! Cá kèo vừa chín tới nên thịt cá không khét, không khô cứng. Thôi, mình ngồi vào bàn đi các cháu! “

Thằng Tư Kê nói:

– ” Để con đánh thức anh Bền dậy cùng ăn cho vui! “

– ” Đừng cháu để nó ngủ, thuốc đang ngấm đó. Tối nay, bác phải nấu một nồi nước xông, tẩy sạch mấy lỗ chưn lông của cháu Bền. Thôi, cứ để dành phần cho cháu Bền được rồi! “

– ” Liệu ngày mai, cánh tay của ảnh có thể hoạt động bình thường được chưa, bác Ba? “

Bác Ba lắc đầu, nói:

– ” Ngày mai cử động nhẹ thì được, đánh võ, múa quyền thì chưa đâu. Phải chờ tới sáng mốt thì may ra. Thôi, cầm đũa đi các cháu! “

Ăn cơm xong, bác Ba lấy cái lồng bàn bằng tre đan, đậy thức ăn dành cho Bền để tránh bu, kiến đậu. Còn Tư Kê giúp thằng Tẻo bưng chén dĩa ra sau sàn nước rửa sạch, úp lên cái sóng chén. Xong đâu đó, Tư Kê nói:

– ” Bây giờ mầy chỉ cho tao cách làm ” gạch bùa ” để dụ cá trê bầy coi, Tẻo. “

– ” Được, anh Tư phải kêu tui bằng sư phụ thì tui mới chỉ mánh. ” thằng Tẻo nói. ” Chọc anh chơi thôi, để tui chỉ cho anh cách làm gạch bùa: Trước hết, anh phải lấy một viên ngói hay cục gạch rồi nung cục gạch nầy cho thiệt nóng, lấy vài con mắm sặc quậy với nước cho sền sệt rưới lên cục gạch nóng. Làm như vậy 2, 3 lần cho viên gạch rút hết mùi mắm mới để nguội. Trước khi đi câu, lấy một sợi dây buộc viên gạch nầy lại, thả xuống nước, neo tại địa điểm câu cá. Mùi mắm xuống nước tỏa ra, dụ bầy cá trê bu tới, thấy mê luôn! “

– ” Dễ vậy sao? ” Tư Kê nói. ” Chút nữa mầy chỉ tao làm nghe! Mánh nầy coi bộ kiếm ăn được đó! “

Thằng Tẻo nói:

– ” Con rạch nầy, tui biết có một chỗ câu cá trê ngon lắm. Đồ nghề sẵn sàng rồi, chỉ còn thiếu cục gạch bùa. Trời chạng vạng, tui sẽ dẫn anh đi câu. “

Tới 4 giờ chiều. Bền tỉnh dậy, nhưng trong người còn bức rức rất khó chịu và khát nước. Bác Ba chuẩn bị nồi xông bằng đủ loại dược thảo. Bác biểu Tư Kê đở Bền ngồi dậy, cởi áo ra, rồi bê cái nồi nước xông đang sôi đặt trước mặt Bền. Tẻo lấy cái mềm trùm phủ đầu Bền. Bác Ba ngồi canh chừng…khoảng hơn nửa giờ sau, độ chừng nồi nước xông đã nguội, bác Ba tháo cái mền ra, thấy Bền tuôn mồ hôi ra như tắm. Bác Ba hỏi:

– ” Sao, cháu thấy trong người thế nào rồi? “

– ” Nhẹ hẳn cả người, bác Ba! ” Bền cười, nói. ” Cánh tay không còn đau nhức nữa. Nhưng, con thấy khát nước và đói lắm! “

Tư Kê rót một ly nước lạnh đưa cho Bền uống đã khát, cười vui vẻ, nói:

– ” Thôi, ngồi dậy tắm rửa, thay quần áo rồi đi ăn. Đồ ăn tui đã hâm nóng để sẵn ở trên bàn. “

Thằng Tẻo nói:

– ” Anh Bền mặc đở quần áo của cậu Ba nghe. Tui để sẵn trong nhà tắm gần sàn nước. “

Bền cảm động, nói:

– ” Cám ơn bác Ba và các bạn nghe! “

Ở miệt vườn, trời sụp tối lẹ lắm. Sau bửa cơm chiều quây quần bên nhau là trời sắp chạng vạng. Tư Kê và Tẻo lo dọn dẹp, rửa chén dĩa xong là chuẩn bị đồ nghề đi câu cá trê. Thằng Tẻo nói:

– ” Anh Bền ở nhà nói chuyện với cậu Ba, tụi tui đi câu cá trê. Ngày mai, tui đãi anh cá trê ba món: cá trê nướng, cá trê kho trách, cá trê nấu canh với mướp rắn nghen! “

Tư Kê cười, nói đùa:

– ” Chưa giàu đã lo ăn cướp! “

*

Sau khi Tư Kê và Tẻo rời nhà thì trời sụp tối. Bác Ba lo thắp hương trên cái bàn ông thiên trước sân và cái bàn thờ đặt giữa nhà, rồi bác xem xét vết thương trên cánh tay của Bền. Bác Ba gật đầu, nói:

– ” Vết bầm đã đổi màu, gần trở lại bình thường, nhưng còn hơi sưng. Ngày mai sẽ khỏi hẳn. “

– ” Bao giờ thì con trở lại nhà bác Hai Bảnh được? ” Bền nói. ” Vài ngày nữa, con sẽ theo bác Hai Bảnh đi lên Bảy Núi săn cọp dữ. Nghe nói, hai con cọp nầy ăn thịt nhiều người nên đã thành tinh, muốn bắn hạ nó không phải dễ, phải không bác Ba? “

– ” Ngày mốt là con có thể rời khỏi đây được rồi, ” bác Ba nói. ” Miệt Bảy Núi huyền bí sơn lam chướng khí, cọp beo, rắn độc nhiều lắm. Bác Ba tặng cháu một lọ thuốc gia truyền nầy để dành phòng thân. “

Bác Ba lấy trong túi áo bà ba một lọ thuốc bằng sành, lớn hơn ngón chân cái một chút, nắp đậy được khằn lại bằng sáp. Bác Ba đưa Bền, nói:

– ” Đây là thuốc bột gia truyền chuyên trị rắn độc cắn phải, cho dù bị rắn tối độc như mái gầm cũng chữa khỏi. Cháu nên bỏ vào túi áo để phòng thân hoặc cứu người. “

– ” Con cám ơn bác Ba! ” Bền cầm lọ thuốc trên tay, nói. ” Phải chi hồi đó, anh của con có được lọ thuốc nầy thì anh của con đâu có chết thảm! “

Bác Ba ngạc nhiên, hỏi:

– ” Anh của con bị rắn độc gì cắn, loài rắn ở đâu? Ở dưới nước hay ở trên cạn? “

– ” Dạ ở dưới biển, ” Bền nói. ” Anh con theo nghề biển, ngư phủ ngoài cửa biển Rạch Giá, trong lúc lặn hụp dưới biển thì bị một con rắn biển cắn, khi những bạn biển đưa anh vừa về tới bến cá thì tắt thở không cứu kịp! “

Bác Ba Tỵ nói:

– ” Đồng Tháp Mười là quê nội, còn quê ngoại của bác ở vùng miệt thứ, ấp Cái Su thuộc quận Kiên An nằm cặp sông Cái Lớn chạy thẳng ra vịnh Rạch Giá. Hồi còn trai trẻ, bác thường theo những người đi biển để học nghề; nhờ vậy, bác tiếp xúc với nhiều ngư phủ miệt ngoài vào biển trong miền Nam đánh bắt cá theo mùa. Họ phân loại rắn biển ra làm nhiều nhóm và kiêng cử không dám gọi tên như: ” Mộc Trụ Thần Xà ” là loại đẻn dài chừng 40 phân, mình hơi dẹp, lưng đen, bụng vàng, đuôi có 3 chấm chấm tròn, ” Bà Lạch ” là một loại đẻn, đầu có mồng, ít khi xuất hiện mặt biển, ” Ông Hèo ” là loại đẻn lớn dài tới 2, 3 thước, mình tròn bằng cổ tay, chớ không nhỏ, nọc của nó tối độc, ” Bát Bữu Công chúa ” là loại đẻn biển, đầu có mồng, thân có nhiều màu sắc. Đây là những loại rắn biển có nọc rất độc, ai bị nó cắn phải thì chết liền, không có cách gì cứu kịp. Nên người đi biển không ai dám xúc phạm mấy loại đẻn kể trên. “

– ” Còn con ” chàm quạp ” có phải là một đẻn biển không, bác Ba? ” Bền hỏi.

– ” Theo bác Ba, con chàm quạp là một ” đẻn sông ” có họ hàng với ” Mộc trụ thần xà ” , nhưng nọc độc của nó phát tán chậm hơn nên bác mới cứu cháu kịp thời! ” bác Ba Tỵ nói. ” Mãi lo nói chuyện với cháu, bác Ba quên thấp hương trên bàn thờ chư vị. “

Chờ cho bác Ba thắp nhang xong, Bền cũng xin đốt một cây nhang cắm trên lư hương. Bền hỏi:

– ” Những tấm bài vị sắp thứ tự trên bàn thờ gồm những vị nào vậy, bác Ba? “

Bác Ba Tỵ nói:

– ” Cái bài vị trên cùng là anh hùng Thiên Hộ Dương. Hai cái bài vị hàng dưới, bên phải là ông Tổ thầy rắn vùng Đồng Tháp Mười là Lê Huy Nhạc, bên trái là ông Năm Hơn học trò của Lê Huy Nhạc. Tía của bác Ba là đệ tử của ông Năm Hơn. Bác Ba đây thuộc về đời thứ tư. Con cháu của ông Năm Hơn, một vài người còn sanh sống tại Mộc Hóa. “

– ” Còn mấy cái bài vị hàng dưới cùng? ” Bền hỏi.

– ” Những cái bài vị hàng dưới cùng là của gia tộc: ông bà, tía má và vợ của bác Ba, ” bác Ba kể tiếp. ” Mấy chục năm về trước, vùng Đồng Tháp mười là cái nôi của nhiều loại rắn độc và hung dữ khét tiếng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cách đây vào khoảng 80 năm, tại vùng Đồng Tháp một mãng xà vương cực kỳ hung dữ và to lớn. Ai đi vào vùng nầy, vô phước gặp nó là kể như rồi đời. “

Bền ngắt lời, hỏi:

– ” Có ai giết được con mãng xà vương nầy không bác Ba? “

Ba Ba Tỵ nói:

– ” Một hôm, ông Năm Hơn đi lạc vào vùng nầy, bỗng thấy một người nông dân cao lớn vạm vỡ, tay cầm khúc cây to đang rượt đuổi con mãng xà vương. Cuối cùng, ông nắm được cái đuôi của nó, ghì nó lại đập đầu cho tới chết mới buông. Năm Hơn vô cùng bái phục. Hỏi ra mới biết là thầy rắn Lê Huy Nhạc và xin làm đệ tử theo học nghề. Mấy năm sau đó, ông Năm Hơn là thầy thuốc rắn nỗi danh trong vùng, ông nhận tía của bác Ba làm học trò để truyền nghề trị rắn độc. “

– ” Còn ông tổ nghề rắn Lê Huy Nhạc thì sao, bác Ba? “

– ” Về sau, ông Lê Huy Nhạc hưởng ứng phong trào khởi nghĩa chống Thực dân Pháp của chí sĩ Thủ Khoa Huân vào năm 1861. Ông Thủ Khoa Huân đứng ra tổ chức nghĩa quân tung ra hoạt động khắp các tỉnh Mỹ Tho, Rạch Giá, Hà Tiên, Châu Đốc. Năm 1863, ông bị quân Pháp bao vây, ông chạy thoát tới Châu Đốc, nhưng bị chánh quyền địa phương bắt giữ lại rồi giao cho chánh phủ Pháp. Ông bị kết tội, đày đi Côn Đảo, rời đưa sang đảo Rê-u-nhông (Réunion) gì đó. Năm 1874, ông được Thực dân Pháp thả ra, rồi ông lại tiếp tục hoạt động cho đến tháng 4 năm 1875, ông lại bị quân Pháp bao vây và bị bắt. Lần nầy, chánh phủ Pháp chiêu dụ ông đầu hàng hợp tác. Song ông dứt khoát chọn cái chết cho tròn danh tiết của người sĩ phu miền Nam. Trước khi lên đoạn đầu đài tại chợ Phú Khiết, tỉnh Mỹ Tho. Ông Thủ Khoa Huân viết một bài thơ tuyệt mạng thật bi hùng. “

Bền xúc động mãnh liệt trước tấm gương yêu nước của tiền nhân, Bền hỏi:

– ” Bác Ba có nhớ bài thơ tuyệt mạng của chí sĩ Thủ Khoa Huân không? “

Bác Ba nói:

– ” Bác chỉ nhớ bản dịch của cụ Phan Bội Châu như sau: Ruổi dong vó ngựa trả thù chung / Binh bại cho nên mạng phải cùng / Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ / Hơn thua sá kể với anh hùng / Nổi sung mất vía quân Hồ-Lỗ / Quyết thác không hàng rạng núi sông / Tho thủy ngày rày pha máu đỏ / Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong. ” Sau khi Thủ Khoa Huân chọn cái chết hy sinh vì Tổ Quốc, ông Lê Huy Nhạc lui về vùng Đồng Tháp Mười lập chiến khu, chiêu mộ nghĩa binh tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng được chẳng bao lâu, ông qua đời vì bạo bệnh trong sự thương tiếc của mọi người. “

Bền nói:

– ” Tía Hai Rồng thường nói với con, vùng đất Đồng Tháp Mười là vùng đất ” địa linh nhân kiệt ” . Anh hùng Thiên Hộ Dương với chiến khu Đồng Tháp Mười đã làm cho Thực dân Pháp khiếp vía, phải không bác Ba? “

Bác Ba Tỵ nói:

– ” Nếu nói rằng Đồng Tháp Mười là vùng đất ” Địa linh nhân kiệt ” cũng đúng thôi. Thuở xưa, vùng nầy là vùng đất trũng thấp như một lòng chảo, nước đọng quanh năm, hoang vắng cây tràm, đước, cỏ lác, lau, sậy, cây đế…mọc thành rừng, có nhiều bàu láng như: bàu sen, láng bông súng, lung năng, đồng lác…còn rắn ở Đồng Tháp Mười nhiều vô số. Một nơi mà ” Muỗi kêu như sáo thổi / Đĩa lội tợ bánh canh ” , có nhiều lung đìa vô số cá tôm như một ” tiểu Biển Hồ ” của Việt Nam. Ngược lại, đây là địa thế lý tưởng để lập chiến khu chống Thực dân Pháp. Thiên Hộ Dương là người tổ chức các nghĩa binh du kích, lấy Đồng Tháp Mười làm chiến khu chống Thực dân Pháp. “

Bền hỏi:

– ” Anh hùng Thiên Hộ Dương là người như thế nào hả, bác Ba? “

Bác Ba chưa kịp trả lời thì có tiếng chưn chạy huỳnh huỵch ngoài sân. Tư Kê xách cả một thùng thiếc cá trê chạy vào nhà, vừa thở hổn hển, vừa nói:

– ” Cái bùa gạch của thằng Tẻo linh thiệt nghe, bác Ba! ” Tư Kê để cái thùng thiếc xuống nền nhà, rồi chỉ cho bác Ba Tỵ, nói. ” Bác Ba coi nè, cá trê tụi con câu được gần đầy thùng đây nè! “

– ” Ủa, còn thằng Tẻo đâu rồi? ” bác Ba hỏi.

– ” Nó đi cất đồ nghề rồi, bác Ba! ” Tư Kê quay sang Bền, hỏi. ” Cánh tay anh hết hẳn đau nhức chưa, anh Bền? “

– ” Thuốc của bác Ba trong uống, ngoài thoa hay thiệt! Như là thuốc tiên, tao gần như hoàn toàn bình phục! “

Tư Kê hỏi:

– ” Ngày mai tụi con đi về được chưa, bác Ba? “

– ” Chưa được! ” bác Ba nói. ” Ngày mốt mới trở về nhà được. “

– ” Sao vậy, bác Ba? ” Tư Kê hỏi.

– ” Phải qua ngày mai mới chắc ăn! Bác chỉ sợ cháu Bền lở bị thuốc công phạt thì sao? ” bác Ba giải thích.

– ” Bác Ba nói phải đó, Tư Kê! ” Bền nói.

Thằng Tẻo cất đồ nghề gần cái bồ lúa xong, đi ra thưa với cậu Ba:

– ” Cháu đói bụng quá trời! Trong bếp còn gì ăn với cơm nguội không, cậu Ba? “

– ” Hết sạch trơn rồi! Chỉ còn có mấy con khô sặc nướng, ăn đở đi, cháu! ” bác Ba Tỵ nói.

Tư Kê đề nghị:

– ” Tại sao tụi mình không bắt lửa lên, nướng mấy con cá trê vàng hực vừa mới câu về, chấm với nước mắm gừng, ăn đã biết mấy, phải không Tẻo. “

Tẻo gãi đầu, nói:

– ” Phải đó đa, có vậy mà mình nghĩ cũng không ra! “

Bác Ba nói:

– ” Nói thì làm liền đi! Tẻo lo nhóm lửa trong cái cà ràng lẹ lên! Cậu cũng cần mồi khề khà vài ly rượu đế cho dễ ngủ đây. “

– ” Còn con tình nguyện đi làm cá trê! ” Tư Kê nói.

Khoảng một tiếng sau, mâm cơm dọn lên bàn với bốn con cá trê nướng vàng lườm. Mọi người quay quần chung quanh ngọn đèn mù u, ăn uống, cười nói vui vẻ. Tư Kê cũng nhấp môi vài chun rượu đế với bác Ba Tỵ cho có bạn nhậu thì đã say xỉn, gục đầu xuống bàn ngủ ngáy pho pho. Bác Ba biểu thằng Tẻo:

– ” Cháu đở thằng Tư Kê lên cái chõng của cháu. Tối nay, hai anh em chịu khó ngủ chật chung một cái chõng. Nhớ tấn mùng cho kỹ lưỡng nghe, cháu! “

Bây giờ, trên bàn chỉ còn lại hai người, bác Ba rót rượu ra ly uống, có vẻ trầm ngâm suy tư. Bác Ba, nói:

– ” Cháu buồn ngủ, lên cái chõng ngủ trước đi. Bác uống cạn xị rượu nầy mới đi ngủ. “

Bền nói:

– ” Hình như bác Ba có tâm sự gì buồn lắm, phải không bác? “

Bác Ba cười buồn, nói:

– ” Người đời thường nói: ” sanh nghề tử nghiệp ” , bác không chết mà bác gái đã chết thay cho bác. “

Bền hỏi:

– ” Sao kỳ vậy, bác Ba? Con thiệt không hiểu bác muốn nói gì! “

– ” Chuyện là như vầy, ” bác Ba kể. ” Cách đây gần 20 năm, có một người bị rắn độc cắn đưa đến nhờ bác Ba chữa trị. Bác dùng đủ thứ thuốc gia truyền mà không cứu nạn nhân được, bác bất lực bó tay nhìn bệnh nhân chết. “

Bền ngạc nhiên, hỏi:

– ” Con rắn đó là loại rắn gì mà ghê gớm quá vậy, bác Ba? “

Bác Ba nói:

– ” Theo như người trong nhà cho biết: Bụi tre trong vườn nhà họ về đêm có ai huýt gió, âm thanh nghe lãnh lót như ma huýt gió, nên họ sợ,ï quyết định nhờ một anh lực điền đốn bỏ bụi tre nầy đi. Trong lúc vác bó tre đi ra bờ rạch, bỗng dưng anh quăng bó tre nầy xuống đất một cái rầm, rồi ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự. Người nhà thấy một con bạch xà màu trắng, có một sọc đen trên lưng, đầu có mồng màu đỏ, bự bằng ngón chân cái, dài độ 5 phân tây. Nó sống trong một lóng tre, về đêm nó ló đầu ra khỏi lóng tre hút sương. Không may, anh lực điền vác bó tre lên vai, xoay đúng cái miệng lóng tre trên vai nên bị nó mổ trúng vai. Vết cắn càng gần cái đầu, nộc độc của nó phát tán càng nhanh chóng. Nọc độc của nó có thể giết chết một con trâu pháo chừng nửa giờ. “

Bền nói:

– ” Con bạch xà nầy ghê thiệt! “

– ” Đúng vậy! Loại bạch xà nầy có lẽ là vua của loài rắn độc, rất hiếm hoi. Ai vô phước gặp nó cắn phải thì không có loại thần dược nào cứu khỏi, ” bác Ba nói. ” Lúc đó, bác Ba nghe thiên hạ đồn rằng: Một ông lục tà (hòa thượng) người Miên là sãi cả chùa Rông – Ek ở miệt Bảy Núi tên Kim Nưng, chuyên trị rắn độc bằng bùa ngãi đầy màu sắc huyền bí. Người ta còn thêu dệt rằng, ông có khả năng độc bùa chú, trục con rắn độc cắn người về chùa trị tội. Thế mới ghê chớ! “

Bền hỏi:

– ” Lúc đó, bác có tin không? “

– ” Chỉ bán tín, bán nghi thôi! ” bác Ba nói. ” Nhưng, bác quyết định đi lên miệt Bảy Núi tìm sự thật để tìm danh sư trau dồi thêm tay nghề về giúp đồng bào. Lúc ra đi, bác Ba không biết là vợ bác đã cấn thai đứa con đầu lòng. Tìm ông lục tà Kim Nưng không khó, nhận thấy phương pháp điều trị những người bị rắn độc cắn của ông rất thực tế chớ không có gì huyền bí cả. Thần dược chữa rắn độc đều xuất xứ từ kho thuốc thiên nhiên Bảy Núi. Trong chùa lúc nào cũng có 4, 5 người nhờ ông Lục Tà truyền nghề. Sau khi trau đổi với nhau những kinh nghiệm sẵn có trong việc chữa trị cho nạn nhân bị rắn độc cắn, ông lục tà Kim Nưng mời bác ở lại chùa một thời gian để cùng nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm trị liệu. Có khi hai thầy trò đi lên núi để tìm dược thảo vài ba ngày mới về. Sau một năm, thầy trò chia tay, bác Ba trở lại quê nhà mới hay vợ bác đã qua đời vì sanh khó. Bác buồn lắm định bỏ nghề. Nhưng, bệnh nhân tới nhờ bác chữa trị càng ngày đông, nên bác Ba tìm nguồn vui trong công việc. Tính đến nay bác đã cứu sống hàng trăm mạng người và bác Ba trở thành khắc tinh của mọi loài rắn độc. “

Bền an ủi bác Ba, nói:

– ” Chắc dưới suối vàng bác Ba gái cũng hãnh diện về việc cứu nhân, độ thế của bác Ba. Đừng buồn nữa nghe bác Ba! “

– ” Bác cũng mong được như vậy, vong hồn vợ bác có linh thiêng, xin thông cảm và tha thứ cho bác Ba! “

—> Chương 18

Những chương trước

 

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.