TÂM SỰ CỦA GIA LONG (Trần Nghi Hoàng)

TÂM SỰ CỦA GIA LONG

tnvs_biaBóng tên thái giám đã khuất sau rặng cây sầu đông rực úa nắng chiều tà bên sân Duyệt Thị Đường. Tổng quản Ngự Tiền Thị Vệ Võ Minh trầm ngâm sắp xếp lại mọi việc sẽ cẩn tâu với Gia Long trong chốc lát nữa đây, khi ông vào bệ kiến nhà vua. Lễ hiến phù (1) đã được ban lệnh cử hành vào ngày mai, một ngày theo Điện Khâm Văn là cực tốt. Vậy mà, cho đến hôm nay, Gia Long vẫn còn nuôi hy vọng nhờ Võ Minh thuyết phục tù binh “dõng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu” quy hàng. Võ Minh nhếch môi một nụ cười khó hiểu. Nụ cười chứa đựng sự chiến thắng trong thất bại, hân hoan trong đau đớn …Tổng quản Ngự Tiền Thị Vệ của Gia Long đang mang trên vai một sứ mạng nghịch hạnh. Sứ mạng này Võ Minh không chịu trách nhiệm trước Gia Long – mà lại với linh hồn Long Nhưỡng Tướng Quân, tức Thái Tổ Võ Hoàng Đế Nguyễn Huệ ….

****

Sau khi Võ Minh xuất trình lệnh bài và mật chiếu của Gia Long, tên Giám Ngục quan lễ phép mời ông đi theo qua một hành lang hẹp, dài và tăm tối. Thực ra, hai bức tường hai bên lối đi là cửa của những phòng biệt giam liền vách. Phần trên ở mỗi cửa có một cửa tò vò mắt cáo. Những ngọn đèn dầu treo rải rác khoảng giữa mỗi hai cửa của những lao phòng, dọc hai bên tường của lối đi không đủ soi sáng, càng không làm giảm sự lạnh lẽo âm u và vắng rợn. Võ Minh biết rất rõ, tất cả những tù binh quan trọng Tây Sơn đều bị nhốt trong khu biệt giam này.

Qua một khúc ngoặc trái, Giám Ngục quan dừng lại.

“Bẩm ngài Tổng Quản Ngự Tiền, đã tới nơi rồi.”

“Hãy mở cửa ngục phòng, rồi ngươi lui ra ngoài chờ. Độ nửa giờ sau thì vào đây mà đón ta.”

Giám Ngục quan tỏ vẻ ngần ngừ. Võ Minh nghiêm giọng:

“Ngươi quên là trong mật chiếu, hoàng thượng muốn ta một mình đàm luận với tội binh sao?”

Giám Ngục quan thoáng đổi sắc mặt, vội vàng mở khoá cửa ngục phòng. Hắn kính cẩn vái Võ Minh, rồi quay lưng đi ngược trở lại con đường hành lang dài tăm tối.

Chờ cho tiếng chân tên Giám Ngục đã khuất im, Võ Minh chầm chậm bước vào bên trong căn phòng ẩm mốc. Đôi giày của ông nghiến những cọng rơm trên sàn đất lạnh, âm thanh xào xạc mơ hồ. Một bóng người quần áo trắng nhờ, đầu tóc xoã dài rối bồng, đang ngồi xếp bằng nhắm mắt. Chân tay người này đều bị xiềng. Tuy nhiên, ba chòm râu đen trên khuôn mặt trắng xanh thon thả nhưng góc cạnh, dưới ánh đèn chập choạng mờ ảo của chốn lao lung vẫn không mất vẻ uy nghi. Võ Minh quỳ xuống:

“Hồ Khiêm xin tham kiến Hổ Oai Trấn tướng quân.”

Trần Quang Diệu từ từ mở đôi mắt sáng quắc mỉm cười.

“Thiết Đảm Hồ Khiêm, thủ lãnh Tây Sơn Thám Báo Đoàn của chiến dịch Đống Đa! Ta biết thế nào rồi đệ cũng sẽ đến.”

Võ Minh thở dài:

“Sau ngày hay tin Đức Long Nhưỡng về trời, Hồ Khiêm tôi lòng rối như tơ vò, mơ mơ hồ hồ, chỉ mong gặp tướng quân để được kể cho nghe mọi sự”.

Trần Quang Diệu cười buồn:

“Mệnh trời cay nghiệt, Đức Long Nhưỡng chí lớn, tài cao, đã rắp tâm phạt Bắc đòi Lưỡng Quảng như Hồ đệ đã biết. Nhưng sức người thịt xương có hạn, ngài quá lao tâm nên sinh bệnh mà qui tiên. Đức Long Nhưỡng mất rồi, đại sự không người lãnh đạo. Cảnh Thịnh thì quá non nớt…”

Võ Minh cau đôi mày rậm, không nói gì. Trần Quang Diệu bỗng hỏi.

“Này Hồ Khiêm, bây giờ đệ có tên là Võ Minh phải không? Nguyễn Ánh đã cho ngươi tới chức chi rồi vậy?”

Võ Minh gật đầu, khinh bạc.

“Tổng Quản Ngự Tiền Thị Vệ, thưa tướng quân.”

“Mượn cớ gì mà đệ vào đây? Ta đã lo là không gặp được Hồ đệ trước ngày bị xử…”

“Đúng ra, đệ còn đang lúng túng, chưa tìm ra cách để gặp được tướng quân. Đệ biết, đã có nhiều người do Nguyễn Ánh sai đi thuyết tướng quân hàng phục. Ngày mai, Ánh sẽ làm lễ hiến phù, nhưng y vẫn còn nuôi hy vọng về tướng quân. Đệ là thuyết khách cuối cùng của Nguyễn Ánh.”

Võ Minh vừa dứt lời, Trần Quang Diệu bật cười sang sảng, Võ Minh cũng lớn giọng cười theo.

Võ Minh chợt hỏi:

“Trần tướng quân, về việc Ánh phá hủy lăng mộ của Đức Long Nhưởng, bổ săng phơi thây, rồi nay mai sẽ bêu đầu ở chợ… (2) Đệ nghe thấy những việc đó, nhưng trong lòng vẫn kinh nghi. Tướng quân, hư thực ra sao?”

“Thì đúng như Hồ đệ đã biết. Nhưng Hồ đệ không phải tức giận lo âu, đấy chỉ là mộ giả và thây giả (3). Trước khi Đức Long Nhưỡng qui tiên, ngài đã trối cùng ta cách cẩn táng ngài (4) . Lăng mộ thật của ngài, ngoài ta ra chỉ còn một người được biết.”

Võ Minh kêu lên:

“La Sơn Nguyễn Thiếp!”

Trần Quang Diệu nhìn sâu vào mắt Võ Minh.

“Hồ đệ quả là tri kỷ của Thái Tổ Võ Hoàng Đế. Ta biết vì sao ngươi vẫn thích gọi Bắc Bình Vương là Đức Long Nhưỡng tướng quân.”

“Phải! Vì đệ muốn tự nhắc nhở kỷ niệm và chiến công oai hùng đã cùng vào ra với ngài trong bao lần trận mạc…Hơn mười năm rồi!…Hơn mười năm từ cái lần đánh đuổi giặc Thanh đầu mùa xuân ấy….”

Trần Quang Diệu chậc lưỡi:

“Tội nghiệp cho Hồ đệ! Phải lãnh một nhiệm vụ khuất mình, nằm vùng trong lòng họ Nguyễn Gia Miêu. Đã tám năm rồi, có phải?”

“Gần chín năm, thưa tướng quân. Từ lúc nhận nhiệm vụ do Đức Long Nhưỡng giao phó, cho đến khi tìm cách gần gũi được Nguyễn Ánh đến nay đã gần chín năm tròn.”

Võ Minh đột nhiên nhỏ giọng:

“Hay là Trần tướng quân ẩn nhẫn, trá hàng rồi chúng ta sẽ cùng nhau tìm kế sách …Vả lại còn quý phu nhân và lệnh ái…”

Trần Quang Diệu khoát tay:

“Quang Diệu ta trong cái thế phải chết để làm rạng rỡ nhà Tây Sơn. Còn đệ, đệ lại trong một cái thế khác. Cái thế phải sống để phù trì, để xây dựng lại nhà Tây Sơn của Đức Long Nhưỡng. Xét ra, ta chết vinh quang là sướng. Đệ sống âm thầm chiến đấu trong nghịch cảnh là khổ. Tự bấy lâu đệ là người phải luôn luôn mai phục trong bóng tối. Sau chiến thắng Đống Đa, Đức Long Nhưỡng bàn với ta cho đệ đi nằm vùng trong trướng Nguyễn Ánh là vậy. Sao còn lo cho ta. Hãy lo cho Bắc Cung Hoàng Hậu, hãy lo cho các hoàng tử và công chúa của Đức Long Nhưỡng (5) Đệ hãy bằng mọi cách, cứu cho được Văn Đức hoàng tử, rồi mang hoàng tử đến cho La Sơn Nguyễn Thiếp. Còn phu nhân ta, đệ quên bà là một nữ tướng như thế nào ư? Sự can trường của Bùi Thị Xuân, sợ ta không theo kịp. Phần con gái ta, nó phải chịu chung số phận với cha mẹ nó.”

Ngừng một chút, Trần Quang Diệu trầm ngâm:

“Ta nghe bọn quân lính mang cơm kháo chuyện, Nguyễn Ánh chỉ mới đưa Bắc Cung, hoàng tử và công chúa về tới kinh thành hôm qua đây thôi. Đệ có biết Nguyễn Ánh giam giữ ba người họ ở đâu chăng?”

“Ở Kiến Trung Lâu. Đệ còn đang nghĩ cách. Cũng may, Bắc Cung, Văn Đức hoàng tử và Thị Ngọc công chúa không có trong danh sách của lễ hiến phù ngày mai.”

“Hồ đệ, ta muốn Hồ đệ hứa với ta là tìm mọi cách, sẽ cứu bằng được Bắc Cung, hoàng tử và công chúa để đưa đến cho La Sơn Nguyễn Thiếp.”

Võ Minh mím môi:

“Đệ xin hứa bằng sinh mạng của mình.”

Đột nhiên, Võ Minh hỏi:

“Nhưng theo Trần tướng quân, đệ nên nói lại với Nguyễn Ánh như thế nào về tướng quân. Trong thiển ý của đệ, Ánh đã hết lòng với tướng quân rồi đấy.”

“Nói với Nguyễn Ánh, ta thâm tạ lòng liên tài của y. Nhưng tôi trung không thờ hai chúa. Chỉ xin Nguyễn Ánh nếu thực sự trọng ta, và nếu còn nghĩ tới chút ân tình ta đã có năm nào với Võ Tánh khi vây thành Bình Định (6) thì hãy tha chết cho mẹ ta. Bà đã 80 tuổi, không còn có thể can dự vào chuyện quốc gia đại sự được …(7) Chắc chắn bà không thể nào là hậu hoạn cho họ Nguyễn Gia Miêu.”

Loáng thoáng có tiếng chân trên hành lang nhà ngục. Võ Minh hỏi:

“Trần tướng quân còn điều chi dặn dò tiểu đệ?”

Trần Quang Diệu thoáng ngập ngừng:

“Đức Long Nhưỡng có dặn ta một chuyện, làm ta rất đỗi phân vân, nhưng cũng phải nói cho ngươi hay. Ngài nói: Đại Việt là của muôn dân Việt, chẳng phải của riêng một dòng họ nào cả. Nếu sau này, Nguyễn Ánh có lấy được thiên hạ, lo được cho thiên hạ ấm no, thì các ngươi cũng đừng nên vì cái xác rữa của ta mà gây thêm binh loạn.

Gương mặt chữ điền vốn cương mãnh của Võ Minh như căng ra. Trần Quang Diệu hít một hơi dài, tiếp:

“Còn một việc riêng ta muốn nhờ Hồ đệ: Hãy mua thật nhiều lụa mang vào cho phu nhân và con gái ta. Ta không đành lòng để hai người này phải loã lồ trong lúc thọ hình…”

Võ Minh gật đầu, đôi mắt loang loáng đầy vẻ cảm thông.

Tiếng chân đã dừng lại nơi cửa phòng giam Trần Quang Diệu. Có tiếng hắng giọng của tên Giám Ngục quan

****

Ngày 7 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1802)

Kinh thành Phú Xuân (Huế) còn chìm trong sương mù sớm mai của cái lạnh mùa đông. Tại Ngọ Môn quan, một đội Đại Nội cấm vệ bủa canh kín mít. Dân chúng từ ngoại thành muốn vào xem lễ hiến phù, phải bị lục soát rất nghiêm mật. Qua khỏi Ngọ Môn quan là Hồ Thái Dịch. Muốn vượt Hồ Thái Dịch phải qua cầu Trung Đạo. Nhưng ở đầu cầu, đã có một đội cấm vệ khác đứng ngăn lại, ra lệnh cho mọi người rẽ phải, để vào sân Thái Miếu, nơi sẽ cử hành lễ hiến phù.

Chung quanh sân Thái Miếu, đội Ngự Tiền thị vệ đứng thành hàng như tượng gỗ, gươm giáo tuốt trần sáng quắc. Ngay giữa cửa Thái Miếu, đã đặt sẵn một chiếc ghế rồng cho Gia Long. Trước cửa, là một đỉnh hương khổng lồ khoảng ba người ôm đang nghi ngút khói trầm. Xế góc trái của sân, bày chiếc bàn dài phủ khăn nhiễu đỏ với bút mực và mấy cuộn giấy vàng. Cạnh bàn, ở khoảng giữa, hai chiếc ghế dành cho Đô Thống Chế Dinh Tức Trực Nguyễn Văn Khiêm và Tham Tri Bộ Hình Nguyễn Đăng Hựu,(8) hai vị quan phụ trách lễ hiến phù. Bên phải sân kê độ mươi chiếc ghế, bên mỗi chiếc ghế là một viên quan trong triều phục thẻ ngà long trọng , đang đứng chắp tay sau lưng. Thỉnh thoảng, người này quay sang người kia trao đổi vài câu nói nhỏ. Giữa sân, một cối đá lớn nằm choáng nghênh ngang và một chiếc chày cũng bằng đá cực to dựng kề bên.

Mặt trời đã nhô lên sườn núi Ngự, sương mù vẫn còn ủ hơi lạnh căm căm. Trên những cây liễu và những cây sầu đông lóng lánh nước mưa đọng lại từ tối hôm trước, có tiếng chim hót ríu rít xôn xao. Đô Thống Chế Dinh Tức Trực Nguyễn Văn Khiêm và Tham Tri Bộ Hình Nguyễn Đăng Hưu vừa định ngồi xuống, đột nhiên có tiếng hô lớn:

“Hoàng Thượng đến!”

Hàng loạt tiếng sột soạt vang lên. Mọi người đều sửa lại thế đứng của mình, cho thật thẳng, thật nghiêm trang, mắt đăm đăm ngó về phía trước. Không gian như chìm xuống, im phắc . Mùi hương trầm như cô đọng lại. Một chiếc kiệu chạm trổ hình rồng mây xanh đỏ trắng vàng do sáu tên lính khiêng vừa hạ xuống. Hai tên thái giám theo hầu bước đến vén rèm kiệu. Gia Long ra khỏi kiệu, cái dáng dong dỏng của nhà vua chừng mực trong từng cử động. Gia Long chậm rãi bước từng bước lớn, uy nghi vào Thái Miếu. Theo sau Gia Long là Tổng Quản Ngự Tiền thị vệ Võ Minh và một người Pháp mặc triều phục Việt Nam.

Một giọng thật lớn dõng dạc xướng:

“Hoàng Thượng vạn tuế!”

Gia Long ngẩng cao mặt, chiếu tia mắt một vòng xuống đám quan binh dân thứ có mặt tại hiện trường đang cùng lúc la to:

“Vạn vạn tuế!”

Giọng xướng lệnh lại cất lên:

“Hoàng Thượng dâng hương tế tôn miếu”.

Tất cả quan binh dân thứ đồng loạt qùy mọp trên sàn và thềm Thái Miếu. Còn lại hai viên quan nghi lễ chia nhau thắp hương trầm và hộ tống Gia Long dâng hương ở các bài vị trong Thái Miếu. Khi nhà vua vừa cắm những cây hương cuối cùng vào chiếc đỉnh khổng lồ trước Thái Miếu, ba hồi đại cổ vang lên dòn dã, liên tục; âm thanh ngân nga chừng không bao giờ dứt.

Giọng xướng lệnh:

“Hoàng Thượng đã dâng hương xong”.

Tất cả quan binh dân thứ rầm rập đứng lên.

Gia Long đưa tay phải phất nhẹ sau khi đã an vị vào chiếc ghế chạm rồng. Võ Minh và viên quan người Pháp chia nhau đứng hầu hai bên nhà vua. Đô Thống Chế Dinh Tức Trực Nguyễn Văn Khiêm và Tham Tri Bộ Hình Nguyễn Đăng Hựu ngồi vào ghế của mình. Sau đó, các viên quan ở hàng ghế bên phải sân Thái Miếu lần lượt ngồi xuống.

Giọng xướng lệnh:

“Khai điển lễ hiến hù.”

Các tù binh Tây Sơn bị áp giải vào giữa sân Thái Miếu. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, các em của Cảnh Thịnh là Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Duy, Nguyễn Quang Bàn…Vợ chồng tướng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân, bà mẹ già của Quang Diệu và cô con gái Trần Diệu Xuân…cùng hài cốt của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ!

Trong số các tù binh “sống”, có Nguyễn Quang Thiệu và vợ chồng Trần Quang Diệu không chịu quỳ. Các cấm vệ binh phải dùng gậy đập vào nhượng chân ép ba người quỵ xuống. Tiếng xiềng xích trên tay chân các người tù khua lạnh trong không gian. Có tiếng ho của ai đó trong đám thường dân dự khán…

Đô Thống Chế Dinh Tức Trực Nguyễn Văn Khiêm đứng lên. Ông trịnh trọng mở một cuộn giấy vàng, sửa soạn tuyên đọc bài tế cáo tôn miếu của Gia Long. Toàn trường im lắng trong mùi hương trầm bay trong gió sớm. Sương mù đã hầu tan. Cảnh vật nội thành kinh đô Phú Xuân (Huế) của nhà Nguyễn Gia Miêu bắt đầu đua khoe cái để cùng những tia nắng rực rỡ đầu tiên của một ngày tốt trời … Sau khi thỉnh lễ Gia Long, Nguyễn Văn Khiêm nghiêm trang bắt giọng…

Đoạn cuối bài văn tế cáo tôn miếu, tiếng Nguyễn Văn Khiêm rõ ràng, vang vang từng chữ:

” Xét rằng mẹ của Trần Quang Diệu, đã già nua, nên tha mạng cho sống chuỗi ngày tàn…”
……………
“Nhạc, Huệ trời đã giết rồi cũng đem phanh xác, tán xương, để trả thù cho miếu xã, rửa hận cho thần dân.” (9)

Bà mẹ Trần Quang Diệu, tuy được tha, nhưng vẫn bị trói và đưa ra một góc sân để chứng khiến điển lễ. Bà đã chết ngất khi cuộc “xử tội” khởi đi bằng hình phạt chặt khô lâu hai hài cốt của Thái Đức Nguyễn Nhạc và Quang Trung Nguyễn Huệ. Khô lâu của Nhạc, Huệ bị bỏ trong hai chậu sành, đưa ra chỗ kín cho các binh sĩ của Gia Long tiểu tiện vào. Hai bộ xương không đầu của Nhạc, Huệ thì cho vào cối đá ở sân Thái Miếu. Ba tên cấm binh lực lưỡng thay phiên nhau giã các xương ấy bằng chiếc chày đá. Trong tiếng chày giã xương có tiếng chim hót trên những cây sầu đông, cây liễu bên rào Thái Miếu. Ngoài ra, tịnh lắng…Phải mất gần hai khắc, hai bộ xương mới nhuyễn tành bột. Sau đó, bột xương được chuyển qua một cái sọt lớn có tráng hồ, lại đưa ra chỗ kín cho binh sĩ Gia Long tiểu tiện vào. Xong, hai chậu đựng khô lâu Nhạc, Huệ và sọt đựng bột xương của hai vị hoàng đế nhà Tây Sơn được mang đặt trước mặt vua Cảnh Thịnh…

****

Gia Long nhìn đăm đăm khuôn mặt đầm đìa nước mắt của Cảnh Thịnh trước hai chậu đựng khô lâu và sọt đựng xương của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Lòng Gia Long dấy lên một niềm hân hoan khó tả. Ông nhủ thầm:“Hai tên bạch đinh hạ tiện khốn khiếp này! Nhất là cái gã Nguyễn Huệ thô bạo, mi sống ngày nào, ta đã thất tán bôn đào ăn không ngon, ngủ không yên ngày ấy. Bây giờ bọ mi xương trắng phơi kia, còn ta ngôi cao tột bậc…Với hình phạt của ta, dòng họ Nguyễn Tây Sơn nhà mi từ nay là tận tuyệt. Hà hà….”

Khi mâm cơm đặc biệt dành cho người có ngôi vị đế vương sắp bị tử hình được dọn ra cho Cảnh Thịnh, Cảnh Thịnh sắp sửa ăn thì Quang Thiều hét lớn:

“Nhà mình thiếu gì mâm, cần gì phải ăn mâm mướn của người”! (10)

Nghe câu hét của Quang Thiều, quai hàm Gia Long bạnh ra. Đôi bàn tay có những ngón dài trắng xanh của nhà vua bấu chặt vào hai tay ghế rồng. Gia Long lẩm bẩm: “Thằng con nít khốn kiếp. Quân súc vật chó heo. Để ta xem thịt xương mi cứng bao lăm…”

Thấy Cảnh Thịnh vẫn cắm cúi ăn trong nước mắt, Gia Long nhếch đôi môi mỏng…

Sau khi vị vua thất thế nhà Tây Sơn ăn xong bữa cơm ân huệ cuối cùng, ông và các em ông Quang Thiệu, Quang Duy, Quang Bàn lần lượt thọ hình “ngũ tượng phanh thây”. Đầu, hai tay, hai chân của tội nhân bị buộc vào năm con voi (11) . Năm con voi bị thúc đi năm hướng khác nhau để xé xác tội nhân. Riêng Cảnh Thịnh, lúc một chân đã bị voi kéo đứt ra khỏi cơ thể, ông vẫn còn cố quay lại nhìn một lần chót hai chậu đựng khô lâu và cái sọt đựt xương của cha và bác mình (12).

Máu thịt văng tung toé . Từng phần cơ thể các tội nhân bị bứt rời ra…Thân hình Gia Long run lên từng đợt. Cảm giác sướng ngất trong nhà vua càng lúc càng dâng cao, dâng cao …

Khi Trần Quang Diệu với nét mặt hết sức thản nhiên chịu chém bay đầu, nội tâm Gia Long hơi lặng xuống ” Thằng ngu xuẩn chết đáng. Dù sao, ta cũng được tiếng mộ hiền tài, trọng kẻ sĩ…”

Rồi Trần Diệu Xuân, con gái của Quang Diệu và Thị Xuân, một thiếu nữ độ mười lăm, đến phiên phải thọ hình “voi dày”. Bà nội cô – mẹ tướng Trần Quang Diệu – vừa tỉnh dậy sau một hồi lâu chết ngất, thấy cháu gái run rẩy bước ra pháp trường, bà kinh hãi rên lên, lại lịm đi. Diệu Xuân, khuôn mặt tơ non như một đoá hoa đẫm mưa nước mắt đầm đìa . Thấy con voi đến gần cô, cô thất thanh nức nở van nài:

“Mẹ, mẹ cứu con.”

Bùi Thị Xuân bình tỉnh trả lời:

“Làm sao mẹ có thể cứu con được, vì chính mẹ cũng không thể cứu được mẹ. Con nên noi gương thầy con, chết còn sướng hơn sống với bọn người này”. (13)

Trong đám thường dân dự khán, dường như có tiếng nấc. Nét mặt Gia Long đanh lại, mắt đảo nhìn Võ Minh. Võ Minh đến gần. Nhà vua gằn giọng:

“Ông hạ lệnh khoá miệng con nữ tặc Bùi Thị Xuân. Rồi cho người đế ý xem, ai là kẻ vừa khóc lóc tiếc thương bọn tội đồ Tây Sơn cho ta”.

Võ Minh cung kính gật đầu, bước ra dặn dò một tên ngự tiền thị vệ đứng gần đó.

Xác Diệu Xuân bị voi tung lên xuống nhiều lần, bầm dập. Áo quần của thiếu nữ đã rách bươm, lộ những dải lụa được quấn nhiều lớp kín quanh thân thể. Máu ngấm qua những lớp vải lụa thành những khoảng đỏ loang lổ… Tri giác Gia Long không kịp dừng lại với thắc mắc:”Ai? Ai là người đã cung cấp lụa cho cô gái chuẩn bị trước cuộc hành hình?” Nhà vua phải há miệng để nén tiếng kêu thích thú khi nhìn thấy cô gái quằn quại, rên la.

Nét mặt nữ tướng Bùi Thị Xuân vẫn lạnh như đá. Nhìn kỹ, mới thấy hàm răng trên của bà đang cắn chặt vào môi dưới.

Theo lệnh Gia Long, nữ tướng Bùi Thị Xuân bị xử cuối cùng. Bà không chút sợ sệt, hiên ngang tiến thẳng tới trước con voi to lớn (14) nổi tiếng hung dữ nhất, đặc biệt dành để hành hình bà. Bà tiến, voi lùi. Bọn cấm vệ la lối, bảo bà quỳ xuống để voi túm lấy bà cho dễ, nhưng bà phớt lặng như không nghe. Bọn cấm vệ phải dùng giáo dài, đâm vào mông voi khiêu khích và thúc đẩy khá lâu, nó mới chịu cuốn lấy bà và tung lên. Tiếng voi rống giận dữ vì bị chọc tức trước một đối thủ dám đương đâ, tiếng reo hò của đám cấm binh…Gia Long run người lên từng đợt trong khoái cảm….”Con nữ tặc này đã từng làm thất điên bát đảo tên những chiến trận ngày nào …Ha ha!”. Tiếng xương của vị nữ tướng bị gãy khi voi dày, những dòng máu bắt đầu ngấm qua những lần vải lụa …

****

Tháng 6 âm lịch năm 1781, Nguyễn Ánh chạy trốn tới mũi Đá Chồng thì Tổng Suất Tây Sơn là Phan Tấn Thuận kéo binh tới, vừa thủy vừa bộ. Cai Cơ Lê Phước Điển phải đóng vai Lê Lai cứu chúa thuở trước, Ánh mới chạy thoát về đảo Cổ Long (Côn Lôn). Tôn Thất Điển, Tôn Thất Cốc, Hoảng, và một tướng Xiêm theo Nguyễn Ánh tên là Vinh-ly-ma đều bị bắt giết. (15) Tây Sơn vẫn truy đuổi không tha. Độ gần tháng sau. Một hôm, Ánh đứng ngắm nghía vuốt ve con chim hoàng yến do dân địa phương dâng tặng. Ánh đang định bỏ chim lại trong lồng, thì quân hầu vào báo tin Phò Mã Trương Văn Đa đã đem quân đến Cổ Long, vây bủa ba vòng trùng trùng điệp điệp. Ánh mất vía bay hồn, tự nhủ phén này trăm phần khó thoát. Nhưng quả là trời độ Ánh mà gieo cái rủi cho Tây Sơn. Một trận bão đánh đắm nhiều thuyền của Tây Sơn để Ánh nhân đó thoát ra chạy đi Cổ Cốt. Sau khi thoát khỏi trùng vây, Ánh mừng rỡ đắc chí bật cười ha hả, và chợt nhận ra mình đã bóp chết con hoàng yến trong tay lúc nào không hay. Máu từ mũi mắt chim dây đầy tay Ánh. Cầm xác con vật bé nhỏ còn nóng trong tay, Ánh thấy một khoái cảm lạ lùng như lúc giao hoan… Ánh lại xiết chặt bàn tay nghiến lấy xác con chim đã chết…

****

Tuy vẫn theo dõi những diễn tiến ở pháp trường nơi sân Thái Miếu, Võ Minh không bỏ sót dù một xao động nhỏ trên nét mặt Gia Long. Ông thầm so sánh từ phần ngoại hình đến phần cá tính giữa Gia Long và Quang Trung.

Gia Long với dáng dấp và khuôn mặt thanh tú, tóc mượt, da vẻ mịn màng. Đôi mắt sâu, sáng hay nhìn nghiêng nằm dưới đôi mày thưa, dài. Đặc biệt là hai vành môi mỏng thường mím chặt, khi nói năng thích dùng lời hoa mỹ phủ dụ. Một người tham vọng, tàn nhẫn và thủ đoạn.

Hầu như tương phản lại, Quang Trung cổ to, vai rộng thô hào. Mày rậm mắt một to một nhỏ, sâu và sáng quắc, nhìn ai là nhìn đăm đăm trực diện uy mãnh bừng bừng. Tóc quăn, da mặt sần sùi như da cam. Tiếng nói vang vang như chuông đồng từ chiếc miệng rộng có đôi môi hơi dày. Bên trong ngôn ngữ hào phóng, bình dị lại là cơ trí khôn lường. Cũng một người tham vọng, tàn nhẫn và thủ đoạn.

Chỉ khác nhau ở chỗ, Quang Trung có tham vọng bồi đắp, mở mang cho giống nòi, dân tộc. Cái tàn nhẫn và thủ đoạn của Quang Trung hàm chứa sự dứt khoát, quyết đoán và mưu mô của người gánh vác đại cuộc. Trong khi, tham vọng của Gia Long đến sau lòng thù hận vì muốn dành lại quyền lực, ngôi vị của dòng họ. Cái tàn nhẫn và thủ đoạn của Gia Long tiềm ẩn sự thâm độc, ích kỷ tỵ hiềm để thoả mãn cá nhân.

Võ Minh sững sờ nhận ra từng cơn khoái cảm của Gia Long trước cuộc hành hình dành cho các kẻ thù của nhà vua. Cử chỉ mím môi, há miệng của Gia Long để che dấu những trạng thái run, giật sướng ngất, không qua mắt được Võ Minh. Ông đã thừa lệnh Quang Trung nằm vùng trong trướng của Gia Long gần chín năm tròn. Chín năm, thời gian không phải ngắn … Nhưng đến hôm nay, Võ Minh mới khám phá ra một bí mật của con người mà bấy lâu ông cứ tự cho là đã hiểu thấu rất nhiều : Cái khoái cảm bệnh hoạn khi biểu dương quyền lực của mình trên đau đớn và sự tử vong của kẻ khác! Võ Minh đã nhíu mày ghê tởm lúc Gia Long co quắp khoái lạc bởi nhìn thấy Bùi Thị Xuân bị những bàn chân của con voi to lớn dày vò, chà đạp. Vả lại, trong lòng Viên Tổng Quản Ngự Tiền thị vệ “bất đắc dĩ” của Gia Long đang nóng lòng như lửa đốt về một biến cố mà chính ông là người chủ xử, phát động và đang chờ kết quả. Võ Minh đành phải dời tia mắt qua chỗ khác. Ông lại không nỡ nhìn cảnh những người mà ông đã từng sát vai chiến đấu bị xử hình. Tia mắt ông dừng lại nơi viên quan người Pháp. Ông thấy tên ngoại quốc này đang đưa bàn tay phải sờ trán, sờ ngực, xong sờ vai trái rồi cuối cùng là vai phải. Mồm hắn thì lẩm bẩm những điều gì đó với nét mặt nghiêm trang, trầm trọng! (16) Võ Minh còn đang hoang mang thắc mắc vì hành động của tên ngoại quốc, thì nghe vang tiếng kiểng báo động…Trên môi Võ Minh thoáng hiện một nụ cười…

Gia Long bật ngồi thẳng dậy, hỏi lớn:

“Tổng Quản Ngự Tiền, kiểng báo động ở đâu mà náo loạn lên thế hả?”

Võ Minh cau mày làm ra vẻ lắng nghe để định hướng:

“Tâu Hoàng Thượng, dường như ở hướng bắc đại nội, phía Hoà Bình môn…”

Tiếng bàn tán từ đám thường dân dự khán bắt đầu dấy lên xôn xao. Những tên cấm vệ binh phải la hét đe nẹt để vãn hồi yên lặng và trật tự. Ngay lúc ấy, có tiếng vó câu rộn rã từ phía Hồ Ngự Hà. Tiếng vó câu càng lúc càng gần, và cuối cùng, một tên quân ghìm cương ngựa ngay cổng vào sân Thái Miếu. Tên kỵ mã vội vàng nhảy xuống đất, không kịp cột giây cương, chạy băng vào quỳ mọp giữa sân Thái Miếu.

Võ Minh thét hỏi:

“Chuyện chi?”

Tên kỵ mã đáp trong tiếng thở hào hển:

“Thưa Tổng Quản Ngự Tiền tướng quân, một bọn ba người bịt mặt vừa đột nhập Kiến Trung Lâu, cướp đi hoàng tử Văn Đức và công chúa Thị Ngọc của Ngụy Tây Sơn…Bọn gian còn phóng hoả Ngự Tiền Văn Phòng, làm kế dương Đông kích Tây, cho nên…”

Đôi mắt Võ Minh rực lên trong khi nét mặt vẫn lạnh lùng. Ông nhủ:”Những chiến sĩ của Tây Sơn Thám Báo Đoàn tài nghệ vẫn như xưa! Thật không uổng công ta đào luyện”. Võ Minh quay sang Gia Long:

“Tâu Hoàng Thượng, hạ thần nghĩ rằng bọn giặc chưa chạy được bao xa, ta nên cho quân lùng đuổi”.

Gia Long đập mạnh tay vào thành ghế rồng, đứng bật dậy. Sắc mặt vốn trắng xanh của nhà vua lúc này càng nhợt nhạt. Gia Long hét lớn:

“Tổng Quản Ngự Tiền, ông lập tức tung quân lùng khắp kinh thành, tìm bằng được bọn Văn Đức và Thị Ngọc cho ta. Không mang người sống về được thì mang xác, kể cả bọn dư đảng Tây Sơn đã cướp tù nhân. Nhớ, không được bỏ sót bất cứ một nơi nào. Ai chứa chấp đều cứ tội trảm bay đầu mà xử”.

Võ Minh chấp tay khom lưng nói lớn:

“Tuân lệnh Hoàng Thượng”.

Tức thì, Võ Minh rời Thái Miếu cùng với đội ngự tiền thị vệ của ông.

Gia Long bỗng nhướng mày nhìn tên kỵ mã vẫn đang quỳ mọp, hỏi:

“Còn Công Chúa Ngọc Hân, sao ta không nghe ngươi nhắc tới?”

“Tâu Hoàng Thượng, Bắc Cung…dạ Công Chúa Ngọc Hân vẫn còn ở Kiến Trung Lâu”.

Gia Long phất tay ra hiệu cho Đô Thống Chế Dinh Tức Trực Nguyễn Văn Khiêm và Tham Tri Bộ Hình Nguyễn Đăng Hựu, rồi nhà vua xoay người lớn bước ra khỏi Thái Miếu. Tổng Quản Ngự Tiền thị vệ Võ Minh đã đi thi hành nhiệm vụ, nên trưởng đoàn cấm vệ phải lập tức huy động một toán quân lóc thóc chạy theo hộ tống nhà vua. Bên chiếc kiệu chạm rồng mây xanh đỏ trắng vàng, sáu tên lính khiêng kiệu vẫn túc trực đứng chờ.

****

Kinh Thành Phú Xuân (Huế) chìm dần vào hơi sương. Những ánh đèn hầu như đồng loạt sáng lên từ trong các cung điện của đại nội. Không gian bềnh bồng trôi giữa tiếng rỉ rả của côn trùng. Một đêm không trăng.

Giữa sân Kiến Trung Lâu, sáu tên quân khiêng kiệu đứng khoanh tay ngay vị trí của mình ở đòn khiêng. Và, mười hai tên cấm vệ theo hầu cũng được lệnh Gia Long xếp thành hai hàng bên chiếc kiệu rồng may. Gia Long chấp tay sau lưng một mình bước những bước chậm rãi lên những bậc tam cấp của Kiến Trung Lâu. Dấu trong cái dáng thong dong bên ngoài, là bão loạn đang dày vò nội tâm ông vua bốn mươi tuổi. Từ chuyện bọn người bịt mặt đã cứu thoát Văn Đức hoàng tử và Thị Ngọc công chúa lúc sáng, đang khi Gia Long cử hành lễ hiến phù. Rồi chuyện những vải lụa quấn quanh người mẹ con Bùi Thị Xuân ở cuộc hành hình…Và đặc biệt hơn hết, nụ cười “chết” của Bùi Thị Xuân… Nhà vua cảm thấy chung quanh mình bắt đầu đan bày những mạng lưới bí mật, những cơ nguy. Gia Long đã đinh ninh sau khi gồm thâu thiên hạ, lên ngôi hoàng đế xong thì không còn việc chi mà nhà vua không thể toại ý. Nhưng Gia Long bắt đầu thấy mình lầm lẫn. Lại thêm một việc làm phiền lòng nhà vua trong buổi thiết triều khẩn cấp vừa qua. Khi biết Gia Long có ý thu nạp Ngọc Hân vào nội cung, Tả Quân Lê Văn Duyệt đã can ngăn:

“Tâu Hoàng Thượng, thiết nghĩ Hoàng Thượng không nên lấy vợ thừa của giặc”.

Nhà vua nổi giận đập bàn:

“Tất cả giang sơn này, cái gì lại không lấy từ trong tay giặc, cứ gì một người đàn bà?” (17)

Gia Long gật gù lẩm bẩm: “Trước kia Nguyễn Huệ đã cướp của ta tất cả. Bây giờ ta chỉ lấy lại tất cả của ta thôi! Cớ gì…?”

Bốn tên quân canh gác trước Kiến Trung Lâu đã thấy Gia Long xuất hiện từ ngoài sân, đang định tung hô thì nhà vua đã khoát tay ra dấu bảo im. Hai cánh cửa được tức thì mở rộng. Xong bốn tên quân quỳ mọp hai bên cửa…Vừa bước vào, Gia Long đã phải vội ra dấu miễn lễ cho hai ả nữ tỳ đang khép nép cong người co gối toan thi lễ… Nhà vua hỏi:

“Công Chúa đang ở đâu?”

Một trong hai ả nữ tỳ đáp:

“Tâu Hoàng Thượng, Công Chúa vẫn ngồi ở thư phòng như từ lúc mới vào đây!”

“Tình hình Công Chúa ra sao?”

“Tâu Hoàng Thượng, Công Chúa đã bằng lòng ăn uống, sau khi hai con của bà…được cứu đi…. Nhưng bà không chịu vào phòng ngủ. Bà chỉ ngồi đọc sách và thẫn thờ trong thư phòng . Có lần, tiểu tỳ thấy bà ngủ gục trên án sách.”

“Lúc xảy ra biến loạn cướp tù, các ngươi đang làm gì? Có nghe thấy chi không ?

“Tâu Hoàng Thượng, cũng như các cấm binh, bọn tiểu tỳ chỉ chợp thấy ba người bịt mặt xông vào, rồi không biết sao tức khắc mê man, nên chẳng hay biết chi những sự việc xảy ra”.

“Được rồi, các ngươi truyền lệnh của ta cho đội cấm binh bên ngoài, tuyệt đố không để ai vào ra cho đến khi ta có lệnh khác. Xong, các ngươi cứ canh giữ ở đây”.

Gia Long xoay lưng, lẩm bẩm một câu gì đó…

****

Chỉ thấy Ngọc Hân một lần, cách đây hai hôm, và thấy từ xa, nhưng Gia Long đã xúc động trước sắc đẹp và phong cách khác thường của nàng công chúa con út vua Lê Hiển Tông. “Quả lời đồn không sai!” Nhà vua tự nhủ.

Giờ đây, khi bước vào thư phòng của Kiến Trung Lâu, Gia Long đã phải nắm chặt hai bàn tay để tự trấn an. Nhà vua có cảm giác y như những lần lâm trận.

Ngọc Hân đứng bên cửa sổ, ánh sáng dịu trong thư phòng như toả chung quanh nàng công chúa. Từ chiếc áo trắng chùng xuống đất, nổi bật mái tóc đen xoã dài chấm gót. Gia Long sững sờ không nhìn thấy hai nữ tỳ của Ngọc Hân đang mọp người bái kiến.

“Hoàng Thượng vạn tuế”.

Nhà vua giật mình, phất tay:

“Các ngươi lui ra”.

Hai ả nữ tỳ còn do dự, mắt liếc nhìn về phía Ngọc Hân. Công Chúa từ từ quay người, giọng rõ ràng, chững chạc:

“Các ngươi cứ lui đi”.

Hai ả nữ tỳ rón rén rút êm.

Gia Long đứng lặng nhìn người đàn bà ba mươi tuổi đài các, kiêu sa vốn là Bắc Cung Hoàng Hậu của kẻ tử thù Nguyễn Huệ. Tia mắt của nhà vua vừa đắm đuối, vừa uy hiếp.

Bằng sắc mặt lạnh như băng, Ngọc Hân cũng đang đăm đăm nhìn lại Gia Long. Ánh mắt Bắc Cung Hoàng Hậu của nhà Tây Sơn đầy sự miệt thị và thách đố.

Gia Long chợt động bước về phía Ngọc Hân.

“Chắc công chúa đã biết ta là hoàng đế Gia Long”.

Ngọc Hân im lặn, Gia Long nghiêm giọng:

“Công chúa, dù có xảy ra bất cứ việc gì, cung điện này vẫn là của bà”. (18)

Ngọc Hân nhếch đôi môi tươi hồng trên khuôn mặt sầu muộn:

“Với ta, cung điện này ngày nay chỉ là một nhà tù”. (19)

Bà chợt cao giọng:

“Ta đã có thể bỏ nơi này mà đi cùng hai con ta khi sáng. Nhưng ta cố ý ở lại là vì muốn gặp mặt ngươi, để nói với ngươi một câu”.

“Công chúa muốn nói câu gì?”

“Dòng Đại Việt đã không may mà lọt vào tay ngươi, một tên hèn hạ tiểu nhân ty tiện”.

Câu nói bất ngờ làm Gia Long chết lặng mấy giây, mặt nhà vua đỏ bừng rồi tái xanh. Gia Long vung tay:

“Bốp!”

Cái tát của ông vua cường tráng làm Ngọc Hân ngả nhoài xuống giữa thư phòng. Một giòng máu đỏ rỉ ra từ chiếc miệng đẹp của ba. Gia Long dường như không còn thấy gì nữa, mắt nhà vua long lên.

“Nguyễn Huệ có gì hơn ta chứ”.

Ngọc Hân cười lớn:

“Đem ngươi mà so sách cùng Đức Quang Trung, không khác nào đem con gà mà so sánh với chim phượng. Ngươi không tự biết mình sao?”

Gia Long co chân đạp mạnh vào sườn Ngọc Hân. Bà quằn người nhăn mặt nhưng tuyệt nhiên không một tiếng rên la, nụ cười vẫn gắn trên chiếc miệng đẹp. Gia Long hầu như hét lên:

“Chim phượng Nguyễn Huệ mà giờ đây khô lâu và xương bột phải giam nơi đồ ngoại. (20) Còn con gà Nguyễn Ánh ta thì đang là hoàng đế Gia Long…Người không phân biệt được giả chân thành bại ư?”

Vẫn với nụ cười, Ngọc Hân từ tốn nói:

“Giả chân thành bại là như thế nào? Nguyễn Ánh, ngươi phải nhớ, một ngày Đức Quang Trung ta còn sống là một ngày ngươi phải trốn chui như con chó. Chẳng qua, vì trời già cay nghiệt cướp mất Đức Quang Trung đi, nên kẻ tiểu nhân ty tiện là ngươi mới ngóc đầu lên tập tểnh nghề vương bá. Một kẻ từng rước ngoại bang về toan dày xéo quê hương như ngươi, ngẫm ra còn thua loài súc vật!”

Gia Long gầm lên, nhảy bổ xuống Ngọc Hân. Nhà vua đấm, tát túi bụi nàng công chúa. Ngọc Hân trân người , lặng yên…

Khắp mặt mũi và thân thể Gia Long đã đẫm ướt mồ hôi. Hốt nhiên, nhà vua ngừng tay tê điếng nhìn đắm đuối khuôn mặt đẹp não nùng vì bê bết máu của Ngọc Hân, và nụ cười trên đôi môi hồng đã bầm dập của bà…Cơn khoái cảm bệnh hoạn lại dâng cao, dâng cao. Nhà vua nắm ngực áo của Ngọc Hân xé toạt. . Rồi Gia Long bắt đầu cởi chiếc áo thêu rồng bằng gấm vàng đã dính những đốm máu đỏ của Ngọc Hân công chúa…

****

Toàn thân Gia Long co quắp trên người Ngọc Hân, trong khi hai cánh tay nhà vua siết chặt lấy bà. Ngọc Hân có cảm tưởng xương cốt mình sắp gãy vụn trong vòng tay cuồng nộ của kẻ thù. Bà vẫn nằm im, buông xuôi như một xác không hồn. Hốt nhiên, Gia Long chống mạnh hai bàn tay xuống nền thư phòng, chỏi cao thân thể lên trong tư thế mặt nhìn mặt với Ngọc Hân. Sự đau đớn và căm hận trên dáng sắc Gia Long như bùng vỡ ra khi nhà vua nhìn thấy nụ cười trên đôi môi Ngọc Hân công chúa. Vẫn nụ cười miệt thị và thách đố. Trước mắt Gia Long bỗng chập chờn nụ cười của Bùi Thị Xuân ẩn hiện cùng nụ cười của Ngọc Hân. Một là nữ tướng của Tây Sơn, một là Bắc Cung Hoàng Hậu của Nguyễn Huệ. Tiếng Ngọc Hân cất vang lên, dõng dạc:

“Đáng lý ta phải tự sát ngay lúc này để tạ tội với Đức Quang Trung ta, vì ta đã cố tình cho ngươi xâm phạm vào ngọc thể của ta. Nhưng ta muốn chứng minh ngươi biết một điều, dù ngươi có “lấy” được thân thể ta, ta vẫn là người của Đức Quang Trung. Ta đã thuộc về Ngài và bởi thế, trong ta có sự hiện diện của Ngài, của Long Nhưỡng tướng quân, của Bắc Bình Vương, của Quang Trung Hoàng Đế. Người mà chỉ nghe tên, ngươi đã bay hồn bạt vía. Cũng như đất đai và thiên hạ Đại Việt này, dù có nằm trong tay ngươi, hay bất cứ ai, vẫn muôn đời có sự hiện diện của Thái Tổ Võ Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ. Ngươi đã hiểu rõ cái giả chân của thành bài chư, hở tên hèn hạ, tiểu nhân ty tiện… Rồi đây, sử sách của đời sau, tên họ ngươi là để cho cháu con Đại Việt phỉ nhổ, kinh ghê… Ha ha… “

Trong tiếng cười của Ngọc Hân, Gia Long vụt đứng dậy chụp chiếc long bào, phủ lên người rồi ôm đầu chạy băng ra khỏi thư phòng của Kiến Trung Lâu.

tnh_title
23 tháng 3 năm 1992
(trích truyện dài “Máu Kẻ Sĩ”)

CHÚ THÍCH:

1) Giải nạp tù binh về triều, đem đến trước nhà tôn miếu xử hình để làm lễ thắng trận

2) Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Viên Sử Học, Hà Nội 1962, trang 451

3) Những Khám Phá Mới Về Hoàng Đế Quan Trung. Đỗ Bang. Sở Văn Hoá và Thông Tin Bình Trị Thiên 1988 (Chương 10)- “Cái chết của Hoàng Đế Quang Trung Và Vấn Đề Lăn Mộ Của Ông Ở Huế.” Từ trang 97. Theo Đỗ Bang, đến nay vẫn chưa xác quyết được ngôi mộ đích thực của Quang Trung. Ngay cả ngôi mộ tục gọi là “Ba Vành”, thuộc làng Cự Chánh, tỉnh Thừa Thiên mà giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu cho là lăng mộ đích thực của Quang Trung cũng không có căn bản chứng minh vững chắc.

4) La Sơn Phu Tử, Hoàng Xuân Hãn, Hà Nội 1950, trang 160. Quang Trung trước khi mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý, giờ Dạ Tý (11-12 giờ khuya 16 tháng 9 năm 1792), đã đời Trần Quang Diệu về trối trăn….

5) Theo Những Khám Phá Mới Về Hoàng Đế Quang Trung do Đỗ Bang biên soạn, Sở Văn Hoá và Thông Tin Bình Trị Thiên, 1988, trang 36- thì Quang Trung có ít nhất 17 người con, 11 người trai, 6 người gái. Sau khi Gia Long toàn thắng, có bắt được bà Ngọc hân và hia người con của bà với Quang Trung là Nguyễn Văn Đức (7 tuổi) và Nguyễn Thị Ngọc (10 tuổi).

Theo Tập San Sử Địa số 21 tháng 1-3 năm 1971, Khai Trí, Sài Gòn xuất bản, bài “Công Chúa Ngọc Hân, Bắc Cung Hoàng Hậu Triều Quang Trung”, tác giả Nhất Thanh, thì tờ Trung Bắc Chủ Nhật số 53, Sở Bảo viết có về làng Phù Ninh, được mấy vị bô lão kể cho nghe về thân thế bà Ngọc Hân. Theo lời ông này thì sau khi nhà Tây Sơn mất, Ngọc Hân công chúa đem hai con về ẩn trốn một nơi trong tỉnh Quảng Nam, con trai đổi tên là Trần Văn Đức, con gái đổi tên là Trần Thị Ngọc Bảo. Chẳng bao lâu tông tích lại bại lộ, cả ba mẹ con bị bắt và xử “tam ban triều điển”. Năm ấy bà 30 tuổi, con gái 13, con trai 10.

6) Viết Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn , trang 572. Khi Vũ Văn Dũng và Trần Quang Diệu hợp sức vây thành Bình Định, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tự sát, có khẩn cầu Trần Quang Diệu tha chết cho mọi phần tử quân dân trong thành, Diệu đã chấp thuận, lại còn làm lễ mai táng trọng thể cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.

7) Việt Nam Giáo Sử, Phan Phát Huồn, quyển I, Cứu Thế Tùng Thư, Sài Gòn , 1965, trang 261.

8) Những Khám Phá Mới Về Hoàng Đế Quang Trung, Đỗ Bang, Sở Văn Hoá và Thông Tin Bình Trị Thiên, 1988. Trang 121, 122

9) Ibid

10) Ibid

11) Ibid

12) Việt Nam Giáo Sử, Phan Phát Huồn, quyển I, Cứu Thế Tùng Thư, Sài Gòn , 1965, trang 261

13) Ibid

14) Ibid

15) Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường, An Tiêm tái bản, Hoa Kỳ 1991, trang 118.

16) Tên quan Pháp làm dấu thánh giá.

17) Dựa theo các tài liệu sau:

Ngọc Hân Công Chúa Dật Sử, Nam Phong Tạp Chí số 103, năm 1926. Bản dịch đánh máy của ông Trần Quý Đông.

Những Khám Phá Mới Về Hoàng Đế Quang Trung của Đỗ Bang, do Sở Văn Hoá và Thông Tin Bình Trị Thiên, 1988, trang 47.

Năm1941, Tập San B.A.V.H. tức Đô Thành Hiếu Cổ, Huế, có bài viết của Phạm Việt Thường:”Les caprices du génie des Mariages ou extraordinaire destinée de la Princesse Ngọc Hân” tức “Sự Trớ Trêu Của Ông Tơ Bà Nguyệt hay Duyên Số Kỳ Lạ Của Ngọc Hân Công Chúa”.

18) Ibid

19) Ibid

20) Đại Nam Thực Lục Chính Biên Sử Học, Hà Nội, 1962, tập III, trang 85.

This entry was posted in Thông Biện Tiên Sinh, Trần Nghi Hoàng, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s