HỘI NHẬP (Kale): 1-12

HoiNhap1Chương 1

“Xin lỗi, cô chọn món gì cho bữa ăn chiều nay?”

Tiếng nói của cô tiếp viên hàng không khiến Tâm giật mình lúng túng. Không hiểu cô ta muốn nói gì với mình, Tâm quay sang ông Tĩnh ngồi kế bên hỏi, “Ba ơi, cô ấy nói gì vậy?”

Thấy vẻ xấu hổ của con, ông Tĩnh vội chồm qua nói với người tiếp viên, “Cô có những món ăn nào?”

“Chiều nay ông có thể chọn hoặc là cá hồi, hoặc là thịt bò.”

“Vậy xin cô cho chúng tôi bốn phần thịt bò.” Ông Tĩnh đặt món ăn mà không cần phải hỏi vợ và hai đứa con ngồi gần bên.

“Ông muốn thịt chín hay tái?” Cô tiếp viên hỏi tiếp.

Do dự một lúc, ông Tĩnh trả lời một cách quả quyết, “Xin cho chúng tôi thịt chín, cám ơn cô.”

Nhưng cô tiếp viên vẫn chưa chịu bỏ đi, “Vậy ông dùng với cơm hay khoai tây nghiền?”

Lần này thì ông không tự ý chọn món ăn một mình nữa mà quay sang hỏi bà Tĩnh ngồi gần bên, “Bà thích ăn cơm hay ăn khoai tây?”

“Chắc xin họ cho cơm, dễ ăn hơn.”

Ông Tĩnh mĩm cười quay lại nói với cô tiếp viên, “Xin cô cho ba phần cơm và một phần khoai tây cho tôi, cám ơn cô.”

Cô tiếp viên đi chưa bao lâu thì một cô khác đến gật đầu chào rồi hỏi, “Ông muốn uống nước gì?”

“Xin cô cho bốn phần coca cola.”

“Vậy ông uống loại bình thường hay loại dành cho những người ăn kiêng?”

Ông Tĩnh hơi ngần ngừ, từ trước đến giờ ông chỉ biết có coca cola mà thôi. Ông đã gọi thức uống này cho dễ dàng vì thật ra ông không biết người ta có những loại nước uống nào trên phi cơ. Ông nghĩ đối với người Mỹ thì coca cola là thức uống thông thường, chắc họ có sẳn. Nếu gọi thứ khác sợ không có lại mất công phải nghe họ kể ra đủ thứ. Vốn tiếng Anh của ông dù sao cũng có giới hạn, nghe người Mỹ nói chưa chắc đã hiểu hết. Không ngờ bây giờ lại nghe nói đến hai loại coca cola khiến ông không khỏi ngạc nhiên. Bản tính vốn nhạy bén với tình thế, ông trả lời một cách tự nhiên, “Xin cô cho loại bình thường, cám ơn cô.” Nhớ lại mới ngày hôm qua ghé phi trường Narita ở Tokyo để chờ máy bay đi tiếp, các con ông cứ đứng dán mắt nhìn vào mấy cái máy bán nước ngọt mà ao ước một lon coca cola rồi lại phải ra vòi nước công cộng mà uống, ông thấy tội nghiệp làm sao.

Nhìn những hành khách chung quanh rồi nhìn lại mình và gia đình, ông cảm thấy mình “quê kệch” vô cùng. Mặc dù vợ chồng ông và hai con đều mặc quần áo mới may, nhưng khi nhìn quanh thì thấy mình không giống ai! Trông nó cứ cứng đơ ra làm sao ấy.

Ông quả thật là một sự đối nghịch với mọi người quanh mình. Da ông đen sạm, cháy nắng. Ông mới tới cái tuổi năm mươi mà trông già sọm; tóc đã lốm đốm bạc, và mặc dù mới cắt sạch sẽ nhưng vẫn không hết những khoảng còn dấu vết cháy xém. Hai bàn tay thô cứng, mốc thếch và nổi đầy gân xanh thò ra khỏi chiếc tay áo sơ mi trắng tinh. Cổ ông đen sạm tương phản với chiếc cổ áo trắng được ủi hồ cứng nhắc! Ông cao khoảng một thước sáu mươi bảy, người gầy gò, nhưng lại có dáng ngồi phảng phất một chút nào đó cái bản tính ngang tàng. Giọng nói tiếng Anh mặc dù hơi ngượng nghịu nhưng cũng khá chuẩn chứng tỏ ông cũng đã từng có một trình độ học vấn tương đối. Nét đặc biệt nhất của ông là đôi mắt đen sáng biểu lộ sự tự tin nằm bên dưới hai chân mày rậm. Ông mặc một bộ áo quần trông rất mới và được là ủi thẳng nếp. Chân mang đôi giày da màu đen được đánh bóng láng hợp với chiếc quần tây màu đen và chiếc áo sơ mi trắng bỏ vào quần trông rất chỉnh tề nhưng lại thấy thiếu đi sự thoải mái đối với một chuyến đi xa.

Ông bà Tĩnh và hai đứa con, một trai một gái ngồi cùng hàng ghế giữa trên chiếc phi cơ Boeing 747 của hãng hàng không United Airline đang trên đường bay từ phi trường Tokyo đến Chicago.

Bà Tĩnh ngồi bên tay phải ông, người nhỏ thó. Da cũng đen sạm chứng tỏ đã phải trải qua biết bao cực nhọc trong cuộc sống. Tuy nhiên nếu nhìn kỷ thì sẽ thấy gương mặt bà vẫn còn lưu giữ lại một vài nét đẹp của thời quá khứ. Cánh mũi thẳng, hai mắt to màu nâu đen nằm dưới đôi lông mày hơi rậm, nụ cười với hai lúm đồng tiền bên khóe miệng và làn môi vừa phải. Tóc để thẳng cắt ngang vai vẫn còn đen mặc dù đuôi tóc hơi bị cháy nắng. Bà ngồi hai chân vắt chéo có vẻ khá thoải mái như để được tận hưởng những gì đang xảy ra quanh mình. Đôi mắt chăm chú vào màn hình chiếc TV ở trước mặt, đôi lúc bà liếc qua chồng và các con mĩm một nụ cười mãn nguyện.

Cả bốn người đều rất yên lặng, chỉ thỉnh thoảng bà xoay mình ghé qua tai ông nói nhỏ điều gì đó rồi cả hai mĩm cười với nhau. Cậu con trai ngồi phía bên phải của mẹ nghẹo đầu ngủ vùi. Trông cậu khoảng mười sáu hay mười bảy tuổi, dáng người cũng giống cha, cao và gầy. Chiếc áo thun tay ngắn màu xanh đậm có cổ, bỏ ra ngoài quần đen nên trông cậu có vẻ giống như một công nhân. Chân cậu mang đôi giày vải màu xanh. Chiếc nón lưỡi trai cũng màu xanh đậm kéo xuống che gần hết mặt trong lúc ngủ.

Tâm, đứa con gái mười tám tuổi của hai ông bà ngồi phía bìa của hàng ghế, bên trái ông Tĩnh. Mái tóc dài ngang lưng được kẹp gọn về phía sau. Da cô màu nâu nhạt, thân người khá gầy trong bộ quần áo hơi rộng với chiếc áo thun xanh giống em trai và chiếc quần tây màu vàng đất. Trên người không một trang sức nào. Chân mang đôi giày da màu nâu gót thấp với hai dây chéo về phía sau gót. Tay cô giữ khư khư một phong bì lớn màu vàng. Thỉnh thoảng cô liếc nhìn về phía cha mẹ rồi quay nhìn chung quanh như muốn tìm hiểu hay khám phá những điều mới lạ. Đôi mắt to đen giống như mắt cha. Trông gương mặt của cô khá xinh dù không có điểm nào đặc biệt nổi bật. Hình như tất cả đều do sự cấu tạo hài hòa với nhau khiến khuôn mặt cô không có một điểm nào dư thừa hay khiếm khuyết. Chỉ có điều làm da nâu hơi bị tái, trông không có vẻ mạnh khỏe.

Tổng hợp cả bốn người tạo thành một gia đình nghèo nhưng hạnh phúc.

Bà Tĩnh ghé vào tai ông nói nhỏ, “Mấy cô tiếp viên phi hành người Mỹ này không đẹp lắm nhưng tốt quá phải không ông?”

“Ừ, người ta sống ở xứ sở văn minh mà. Không như mấy cô làm ở Hàng Không Việt Nam, đẹp thì có đẹp nhưng vô lễ quá. Ăn nói cộc lốc như ra lệnh cho khách vậy!”

“Ông biết không, lúc bay từ Việt Nam qua Thái Lan, tôi cứ sợ họ đổi ý trả mình về thì không biết phải làm sao.”

“Tôi cũng lo như bà vậy nhưng đâu dám nói ra sợ bà và các con lo lắng. Mãi đến lúc ra khỏi phi cơ vào trạm tiếp nhận tôi mới thở phào nhẹ nhỏm.” Ông vừa trả lời bà vừa mĩm cười.

“Từ lúc lên máy bay của Mỹ đi sang Nhật, tôi mới thấy thoải mái. Nhất là chuyến bay này, thấy các cô tiếp viên phi hành của họ tôi mừng quá. Họ tử tế vô cùng. Nhìn mình họ cũng biết ngay là những người di dân mà họ vẫn đối xử rất nhã nhặn.”

Rồi bà nói tiếp có vẻ lo lắng, “Không biết chú Nhân có biết ngày giờ mình đến nơi để ra đón hay không?”

“Tôi đã viết thư cho chú ấy rồi, chắc chú ấy sẽ đón mình thôi. Dù sao tôi và chú ấy trước kia cũng khá thân với nhau.” Ông trấn an bà.

“Biết vậy rồi, nhưng người ta với mình bây giờ cách xa một trời một vực, tôi rất sợ mình làm phiền người ta chứ.” Bà lo ngại nói.

“Bà đừng lo, nếu chú ấy không nghĩ tới mình thì đã không nhận mình đến nơi chú ấy đang ở.”

Bà Tĩnh không trả lời chồng mà quay mặt trở lại nhìn lên màn ảnh chiếc TV nhỏ trên lưng chiếc ghế phía trước mặt đang chiếu một phim hoạt hình của Walt Disney. Mắt bà dán vào màn ảnh mà tâm trí bay bổng tận đâu đâu.

Ngày đó, bà là một cô nữ sinh lớp đệ nhị trường Bùi Thị Xuân ở Đà Lạt có cái tên thật êm đềm là Trần Thu Thủy, nước mùa thu. Sắc đẹp thuộc hạng trung bình, sức học cũng bình thường, không đến nỗi dở tệ nhưng cũng không được xuất sắc. Tóm lại ngày ấy bà chỉ thuộc loại ‘thường thường bậc trung’ về mọi phương diện. Tuy nhiên ở cái tuổi bắt đầu lớn có cô gái nào không mơ mộng, nhất là mong gặp được một người tình với những đặc tính và dáng dấp mà mình luôn luôn nghĩ đến.

Rồi việc đó cũng đã đến. Vào mùa hè cuối năm ấy, sau khi đậu được văn bằng Tú Tài phần một, Thủy được một người bạn gái rủ đi dự lễ gắn alpha của bạn trai cô ấy ở trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Trong buổi tiệc sau đó, người bạn đến chào và giới thiệu với Thủy một anh bạn cùng khóa có tên là Tĩnh, người gốc ở Sài Gòn để hai người vào dự buổi dạ vũ đêm ấy.

Thủy chưa bao giờ học khiêu vũ, và cũng chưa hề bước vào một nơi nào có khiêu vũ nên rất lúng túng. Tĩnh bèn trấn an Thủy, “Nếu cô không biết nhảy thì vào ngồi nói chuyện chơi cũng được. Còn nếu muốn thử thì tôi có thể giúp dìu cô bước những điệu đơn giản.”

Nhìn dáng dấp của anh con trai mới quen, không hiểu sao Thủy bỗng cảm thấy yên tâm nên e lệ gật đầu.

Buổi tiệc diển ra thật vui nhộn. Năm đó là lúc mà điệu twist mới vừa du nhập vào Việt Nam không lâu nên hầu như những bản nhạc twist chiếm phần lớn đêm dạ vũ. Thủy bỗng nhiên bị cuốn hút vào cái không khí trẻ trung vui nhộn cho nên khi Tĩnh mời cô ra sàn nhảy thì Thủy nhận lời ngay. Thủy chú ý nhìn những người xung quanh rồi uốn éo theo một cách dễ dàng. Rồi tiếp theo những điệu mà cô chưa hề biết như Rumba, Blue, vân vân, cô cũng không từ chối lời mời của Tĩnh. Sau đêm ấy hai người quen nhau và rồi tình yêu đã đến một cách rất tự nhiên.

Đà Lạt quả là thành phố của những người yêu. Những ngày nghỉ phép cuối tuần, hai người tha hồ tung tăng trên đồi cù, thác Cam Ly, hồ Xuân Hương, quán Thủy Tạ, có khi đi vào tận thác Prenn, Thủy dẫn Tĩnh đi thăm viếng các thắng cảnh ở nơi mà cô rất thông thạo vì đã từng sống từ lúc mới lọt lòng mẹ.

Gia đình Thủy là một gia đình mô phạm, cả ba mẹ của Thủy đều là nhà giáo. Ba Thủy là giáo sư trường trung học Bùi Thị Xuân, nơi Thủy học từ lớp đệ thất đến cuối năm đệ nhất còn mẹ Thủy là giáo viên trường tiểu học ở gần nhà trong khu Trại Hầm. Do vậy gia đình Thủy chỉ là một gia đình trung lưu. Tuy nhiên cũng nhờ đó mà Thủy và hai em trai đều có môi trường để phát triển học vấn.

Sau khi quen nhau một thời gian, Tĩnh mới cho Thủy biết về gia thế của anh. Gia đình Tĩnh thuộc loại khá giả ở Sài Gòn, ba Tĩnh là một đại tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thuở nhỏ anh học trường Lasan Taberd, đến khi đậu xong Tú Tài phần hai chương trình Pháp và sắp bị động viên, anh nghe theo lời ba xin gia nhập vào trường Võ Bị để nối gót cha theo đường binh nghiệp. Anh là con trai một trong gia đình ngoài người chị đã có chồng và hai con.

Ngày Tĩnh ra trường, ba má của anh đến dự lễ và nhân đó được anh đưa đến gặp mặt gia đình Thủy để định ngày cưới. Rồi cũng trong kỳ nghỉ phép trước khi nhận đơn vị, hai người đã sống với nhau sau một lễ cưới tổ chức đơn giản ở Đà Lạt và Sài Gòn.

Tĩnh theo đơn vị bộ binh của anh về đóng ở Phong Điền. Và kể từ đó Thủy cũng theo chồng vào ở trại gia binh của Trung Đoàn.

Bốn năm sau khi ra trường, cũng là lúc bé gái đầu lòng chào đời, Tĩnh được thăng cấp bậc đại úy và giữ chức vụ trưởng phòng hành quân của Trung Đoàn. Đó là đầu năm 1974, khi mà các mặt trận khắp nơi đều rất ác liệt. Phụ tá của Tĩnh lúc đó là trung úy Nhân, một đàn em của Tĩnh cũng xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt. Nhân có gia đình ở Cần Thơ nên mặc dù đã có vợ và con nhưng anh không ở cùng khu gia binh như Tĩnh. Gia đình Nhân có vựa lúa và làm chủ nhiều chiếc ghe thương hồ nên thuộc vào hạng khá giả.

Năm 1975, khi bé Tâm mới được một tuổi thì Thủy lại có mang lần thứ hai.

Cuộc chiến càng lúc càng khốc liệt. Ngày 30 tháng tư đã đến với việc Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trong khi ở quân đoàn 4 nơi Tĩnh phục vụ vẫn còn đang chiến đấu. Trong lúc hỗn loạn ấy thì những người có gia đình ở gần hậu cứ trung đoàn đều xin về nhà để lo cho gia đình, trong đó có Nhân, và sau đó thì Tĩnh biết rằng Nhân đã ra đi trong ngày 30 tháng tư năm ấy. Tĩnh đã ở lại đến giây phút cuối cùng để rồi phải bỏ chạy tìm cách đưa vợ con về Sài Gòn tìm lại gia đình. Đến nơi thì mới biết ba má Tĩnh đều đã bỏ ra đi và nhà cửa đã bị tịch thu vì nằm trong cư xá sĩ quan. Vậy là bơ vơ, không nơi cư ngụ, Tĩnh phải mang vợ đến xin ở tạm ở nhà chị của anh để tìm đường ra đi.

Tiếng cô tiếp viên hàng không làm cắt đứt dòng suy nghĩ của bà Tĩnh, “Xin các ông bà bỏ bàn xuống để nhận phần ăn chiều.”

Ông Tĩnh giúp con gái buông cái mặt bàn từ lưng ghế đối diện xuống và chỉ dẫn cô cách xử dụng các chiếc nĩa và dao bằng nhựa để ăn các món ăn Mỹ. Ông cảm thấy tội nghiệp cho các con ông, chúng đã đến tuổi thành niên hết rồi mà vẫn còn vụng về lúng túng trong mọi cách hành xử.

Ngày ông vào trại ‘cải tạo’ của Việt Cộng thì Tâm mới hơn một tuổi còn Trí, con trai ông, còn trong bụng mẹ.

Sau khi về đến Sài Gòn ông phải ở tạm nhà chị ông một thời gian để tìm cách trốn đi, nhưng mọi cố gắng đều thất bại. Không nhà cửa, không tiền bạc, không còn ai giúp đở vì gia đình chị ông cũng thuộc loại bình thường như mọi người dân khác. Ông phải lăn lóc kiếm sống bằng mọi cách từ buôn bán lặt vặt ở chợ trời đến khuân thuê vác mướn cho đến khi ông phải đi trình diện ‘học tập cải tạo’.

Ông ra đi mà lòng nặng trĩu. Vợ ông với cái bầu chưa được bốn tháng, với đứa con gái vừa mới dứt sữa mà trong túi không một đồng một cắt, lại không có một nơi để cư ngụ thì làm sao để nuôi thân và nuôi con. Nhưng tất cả đều vượt ra ngoài tầm tay của ông rồi. ‘Nước mất thì nhà tan’ đó là một quy luật không thể cưỡng lại được.

Thế rồi suốt tám năm đăng đẳng qua hết các trại tù từ Nam ra Bắc, ông đành làm một người tù ‘mồ côi’. Những lần viết thư về thăm gia đình, ông không hề đòi hỏi một gói quà nào như các bạn tù quanh ông vẫn thường làm. Mà có muốn thì cũng không được. Vợ ông với hai đứa con nhỏ đang phải tranh đấu với bao nhiêu nghịch cảnh của một xã hội thù hằn, phân biệt đối xử với những gia đình của kẻ bại trận thì sống sót được đã là một điều may mắn rồi lấy gì để nuôi thêm một tên tù không có án, cũng chẳng có ngày về như ông?

Tiếng máy phát thanh trên phi cơ vang lên làm sự hồi tưởng của ông gián bị đoạn. Phi công chính cho biết phi cơ sắp đáp xuống phi trường Ted Steven ở Anchorage, Alaska. Yêu cầu quý khách thắt dây an toàn, kéo ghế ngồi thẳng lên và xếp bàn về phía lưng chiếc ghế trước mặt. Như vậy là gia đình ông đã bắt đầu vào tới lãnh địa của Hoa Kỳ rồi! Mặc dù đường bay vẫn còn xa nhưng bước đầu cũng đã đến được bến bờ tự do. Cuối cùng ông và gia đình cũng đã thoát được một chính quyền do một tổ chức khủng bố ghê rợn mệnh danh là Đảng Cộng Sản lãnh đạo, trong khi cả thế giới đã phải từ bỏ vậy mà ác hại thay đất nước ông vẫn cứ tiếp tục lao đầu vào.

Nhớ ngày rời trại tù Thanh Phong về đến nhà ba mẹ vợ ông ở Đà Lạt, nhìn thấy vợ con, ông chua xót làm sao! Còn đâu cô học trò tên Thu Thủy của trường Bùi Thị Xuân ngày xưa nữa? Vợ ông bây giờ trông như một người đàn bà nhà nông chính hiệu! Ăn mặc xốc xếch, đầu tóc rối tung, da đen sạm, không còn một chút hình ảnh nào của cô gái mà ông đã từng một thời say mê. Nhìn vợ rồi nhìn lại mình, ông mới biết thời gian và sự đày đọa khổ sở đã biến cả hai thành như thế đó. Hai đứa con ông một lên mười, một đứa tám tuổi mà lôi thôi lếch thếch, trông không khác gì những đứa trẻ mà ông nhìn thấy ở những vùng rừng núi miền Bắc khi ông bị đi đày. Gần mười năm ‘giải phóng’ họ đã biến miền Nam trở lại thời kỳ hồng hoang như thế đó hay sao?

Vợ ông bấy giờ ngoài việc chăm sóc mảnh vườn rau nhỏ của ba mẹ còn phải gánh rau quả ra chợ bán. Con gái ông dù mới lên mười ngoài những giờ đi học ở trường tiểu học ở gần nhà cũng phải hàng ngày gánh nước tưới rau, lo phụ chăm sóc đàn gà và mấy con heo nuôi phía sau nhà ông bà ngoại. Ba mẹ vợ của ông không còn được dạy học như xưa mà chỉ mở một cửa hàng xén nho nhỏ tại nhà để buôn bán. Trong nhà rất túng quẩn, ăn bữa trước lo bữa sau, mọi người đều phải dựa vào nhau để sống. Trong hoàn cảnh như vậy, ông không có con đường nào khác ngoài việc bắt tay vào phụ giúp gia đình. Hơn thế nữa ông làm được gì trong cái xã hội mới mà ông là kẻ thù của những kẻ đang nắm quyền.

Phi cơ tiếp tục lên đường. Trời bên ngoài vẫn có ánh sáng le lói ở phía đông dường như mặt trời đang lên mặc dù trong phi cơ mọi người bắt đầu yên ngủ. Bên cạnh ông Tĩnh, Tâm cũng đã dựa người ra băng ghế nhắm mắt. Vợ ông không còn xem TV mà cũng nhắm mắt dựa người vào lưng ghế một cách mệt mỏi. Ông Tĩnh không thể nào chợp mắt được. Dường như ông đang hồi hộp suy nghĩ về những ngày sắp tới. Nhìn hai đứa con, ông cảm thấy an lòng vì dù sao thì những hy sinh đau khổ của vợ chồng ông rồi cũng có ngày vợ chồng ông có thể cứu lấy cuộc đời tưởng như không còn một hy vọng gì cho tương lai của con cháu ông sau này. Chưa biết cuộc sống ở nơi sắp đến rồi sẽ ra sao nhưng ông tin rằng dù thế nào thì cũng không còn những phân biệt đối xử, không còn những bất công mà gia đình ông phải chịu đựng như suốt thời gian qua nữa.

Ngày nghe tin có chương trình HO cho những người tù cải tạo như ông được lập hồ sơ để sang Mỹ theo thỏa thuận của hai chính phủ Mỹ và Việt Cộng, ông không dám tin. Cái chính quyền mới ở đất nước Việt Nam đang dùng sự dối trá và khủng bố như một quốc sách là một mối ám ảnh nặng nề đối với những người dân trong nước nên ai cũng tỏ ra dè dặt. Nhưng rồi ông cũng phải quyết định liều một lần để may ra còn có thể cứu được vợ con khỏi cái địa ngục ấy. Vượt biên thì không còn cơ hội, hơn nữa gia đình ông không có phương tiện cũng như tiền bạc thì làm sao làm được việc đó. Nếu không liều làm thử thì chắc gia đình vợ con ông đành phải chịu đựng hoàn cảnh sống không lối thoát suốt đời hay sao. Nếu có gì không may xảy ra thì ông sẽ chịu một mình ông. Nhờ quyết định dứt khoát như vậy mà ông đã được chấp thuận vào chương trình HO7, khá sớm so với nhiều bạn bè.

Ba má ông ra đi vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng rồi bặt tin luôn. Chị ông cho biết có lẽ hai ông bà đã không thành công mà đã bị nạn trên đường đi. Vợ chồng ông không có thân nhân nào ở Mỹ hay ở bất cứ quốc gia nào. Ông nhớ đến Nhân, người phụ tá cũ của ông, do đó ông tìm cách liên lạc với ông Nhân để cho biết tin gia đình ông đã được chấp thuận đến Mỹ. Ông cũng biết dù không có ai bảo trợ thì gia đình ông cũng sẽ được chính phủ hoặc những cơ quan thiện nguyện Hoa Kỳ giúp đỡ, nhưng dù sao có người quen biết cũng thuận lợi hơn trong lúc đầu. Khi ông Nhân cho biết ông không bao giờ quên được thời gian làm việc chung với ông Tĩnh và hứa sẽ giúp đở ‘sếp’ và gia đình, Tĩnh rất vui. Nơi xứ lạ quê người mà có bạn vẫn tốt hơn là chẳng có ai.

Riêng bà Tĩnh thì lúc nào cũng lo ngại bởi vì theo bà thì hiện tại giữa gia đình ‘chú’ Nhân và gia đình Tĩnh, khoảng cách giai tầng và sự giàu nghèo quá chênh lệch. Người ta sang Mỹ từ năm 1975, đã có cơ sở vững chắc trong khi mình mới đến nơi với những bàn tay trắng!

Thật ra ông Tĩnh cũng có nghĩ đến điều này, nhưng theo ông thì dù sao cái tình ‘huynh đệ chi binh’ chẳng lẽ lại không còn, và nếu có sự việc gì đó xãy ra thì ông và gia đình chỉ có việc xin phép được ra ở riêng là xong, cũng chẳng có gì đến nỗi phải lo lắng nhiều. Ở Việt Nam mà còn sống được chẳng lẽ sang đến một đất nước như Hoa Kỳ mà lại chết đói, chết rét hay sao? Với suy nghĩ như vậy ông đã nhận sự giúp đỡ của ông Nhân và đưa gia đình đến nơi mà gia đình ông Nhân đang sinh sống ở một thành phố có cái tên rất lạ, đó là thành phố Kalamazoo thuộc tiểu bang Michigan.

Cô tiếp viên phi hành lại đưa cà phê đến mời khách. Ông xin cô một tách cà phê và ngồi vừa nhâm nhi vừa suy nghĩ. Đã lâu lắm rồi ông không còn có dịp uống cà phê vào buổi sáng như thế này. Một thói quen mà ông rất thích vào những ngày trước năm 1975. Không ngờ hôm nay chưa bước chân lên đất Hoa Kỳ ông được hưởng lại hương vị của những ngày xưa cũ. Chỉ tiếc ở trên phi cơ người ta không cho phép hút thuốc, nếu có thêm một điếu thuốc nữa thì không còn gì bằng! Gia đình ông ra đi mà chỉ có một chiếc túi xách tay nhỏ đựng vài chiếc áo ấm cũ. Không biết áo ấm của Đà Lạt có chịu đựng được với cái lạnh của nơi ông sắp đến hay không? Ông có hỏi việc này với ông Nhân thì được ông Nhân cho biết ông khỏi phải lo việc ấy vì ông Nhân đã chuẩn bị sẳn những thứ cần thiết cho cả gia đình ông.

Ông Tĩnh nhớ đến cái giá rét của vùng rừng núi Việt Bắc, những địa danh không thể nào phai được trong trí ông như Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, rồi sau đó lại đến Thanh Hóa, nơi nào mùa đông cũng rét căm căm. Thêm vào đó lại mặc không đủ ấm, ăn không đủ no; cái đói với cái rét cộng với nhau hành hạ ông và các bạn ông không lúc nào ngơi.

Ông Tĩnh cứ suy nghĩ miên man, hết chuyện trước mắt đến chuyện sau lưng mà trời sáng lúc nào không hay. Cô tiếp viên lại mang thức ăn sáng mời gọi. Sao cứ ăn với uống mãi thế này không biết nữa? Ngày nào một mẫu khoai mì vụn kiếm không ra lại phải làm việc quần quật như trâu. Hết vào rừng đốn gỗ đến lên núi đập đá, hết xuống ruộng đào mương đến vô đồng cuốc đất trong lúc bụng đói meo, còn giờ đây ngồi một chỗ trên phi cơ để được người ta lại phục vụ từng món ăn thức uống sáng trưa chiều tối. Cuộc đời quả thật kỳ lạ, khi thì bất cập, lúc lại thái quá! Không biết làm sao để cân bằng cho được.

Tiếng nói từ loa phát thanh loan báo phi cơ sắp đến phi trường O’Hare ở Chicago, yêu cầu hành khách thắt dây an toàn và chuẩn bị để phi cơ đáp xuống. Bây giờ là bốn giờ mười lăm phút chiều, giờ địa phương. Thời tiết ở Chicago tốt, nhiệt độ ba mươi độ, vân vân.

Ông Tĩnh ngạc nhiên, sao lại nóng thế? Vậy mà ông Nhân bảo rằng mùa này ở vùng ông ở đã có tuyết rơi rồi! Ba mươi độ thì làm sao lạnh được. Ông đoán là mình nghe lầm.

Phi cơ bắt đầu vào phi đạo rồi từ từ dừng lại. Ông Tĩnh và gia đình theo chân các hành khách khác tiến ra cửa phi cơ. Các cô tiếp viên và nhân viên phi hành đứng chào khách ở cửa và nói lời cám ơn. Ông cảm thấy sao mà họ lịch sự đến thế không biết! Chẳng bù với nhóm phi hành đoàn của Hàng Không Việt Nam, họ chỉ đứng trơ trơ như tượng gỗ không thèm ban cho một nụ cười!

Đi vào trong phi trường rồi, ông Tĩnh cố gắng trấn tĩnh để vợ và các con khỏi lúng túng nhưng chính ông thì đang rất lo lắng, không biết phải đi về hướng nào. Bà Tĩnh xoay qua hỏi chồng, “Không biết mình phải đi đâu và làm gì nữa hả ông?”

“Thì cứ đi theo người ta, tới đâu thì mình cứ hỏi thăm chứ biết sao bây giờ!”

Rồi ông đi trước, theo chân các hành khách khác hướng về phía để làm thủ tục hải quan. Thấy một nhân viên phi trường đứng đó, ông bạo dạn đến hỏi bằng một thứ tiếng Anh mà ông đã học được từ lâu lắm rồi, “Thưa ông, đây là giấy tờ của tôi, xin ông cho biết tôi phải đi tới đâu và làm gì?”

Anh nhân viên phi trường cầm tập hồ sơ do ông Tĩnh trao cho, chỉ cần nhìn vào chiếc bìa có chữ IOM bèn trả lời ngay bằng một giọng rành rọt từng tiếng, “Ông đi theo những người khác đến chỗ làm thủ tục hải quan, nơi đó họ sẽ làm hồ sơ nhập cảnh cho ông.”

“Cám ơn ông.” Ông Tĩnh nói với giọng vui vẻ rồi xoay lại nói với vợ con, “Bà và các con thấy không, không biết thì cứ hỏi, họ sẽ chỉ dẫn cho mình chứ có gì mà phải lo lắng!”

Gần một giờ đồng hồ sau, gia đình ông Tĩnh mới xong hết các thủ tục nhập cảnh và giấy tờ để bước ra khỏi hải quan. Ông cố nhướng mắt nhìn xem có thể nhận ra được ông Nhân hay không trong số thân nhân đứng lố nhố trong phòng đợi. Bỗng ông thấy một người đàn ông giơ cao một tấm giấy viết chử “Nguyễn Thanh Tĩnh”. Mừng quá, ông vội giơ tay vẫy rồi la lên, “Phải chú Nhân đó không?”

Ông Nhân cũng giơ tay vẫy lại rồi la lớn lên, “Tôi đây, chào anh.”

Ông Tĩnh ngạc nhiên nhìn sững ông Nhân, ông không thể nhận ra được vì người đàn ông trước mặt mình thay đổi nhiều quá. Dáng điệu đường bệ, không còn cái vẻ nhanh nhẹn trẻ trung như anh chàng trung úy ngày xưa. Gương mặt giữ một vài nét phảng phất quen thuộc nhưng dáng người trông mập hơn nhiều, bụng đã hơi lớn, lại khoác chiếc áo nỉ dài đến nửa ống chân, cổ quấn chiếc khăn choàng nên trông bệ vệ như một ‘ông lớn’ nào đó. Cố gắng lắm ông Tĩnh mới tìm ra được một vài nét của người bạn đồng sự ngày xưa.

Ông Nhân trao cho ông Tĩnh một túi đựng đầy các áo ấm rồi nói, “Anh chị và hai cháu mặc áo lạnh vào, bên ngoài cũng khá lạnh, mặc như anh chị và hai cháu không chịu nỗi đâu.”

Ông Tĩnh ngạc nhiên, “Ủa, sao trên phi cơ họ loan báo là nhiệt độ ba mươi độ mà?”

“À, bên này họ dùng nhiệt độ F nên ba mươi độ là dưới không độ C đó.”

“À, thì ra là vậy. Tôi cứ tưởng tôi nghe lầm.” Ông Tĩnh cười trả lời.

“Vậy là tiếng Anh của anh cũng còn xài được chút đỉnh, vậy là tốt rồi.”

Rồi cả hai cùng cười xòa.

Giọng cười vui vẻ khiến cả hai mất đi những ngượng ngùng lúc đầu. Ông Tĩnh bỗng nhiên đổi cách xưng hô, “Toi sang đây rồi ở chỗ này từ đầu đến bây giờ hay sao?”

“Ừ, mọc gốc rễ rồi nên phải ở đây chứ đi đâu bây giờ. Ở đâu cũng vậy, nơi nào mình sinh sống được thì nhận nơi đó làm quê hương chứ sao!”

Thấy hành lý của gia đình ông Tĩnh quá ‘đơn giản’, ông Nhân hỏi, “Ồ, chỉ có bao nhiêu đó thôi sao?”

Ông Tĩnh có vẻ ngượng trả lời, “Chỉ có vậy thôi, moi đâu có gì mà mang theo.”

Ông Nhân sợ bạn hiểu lầm bèn lên tiếng, “Không, moi cứ sợ bị bỏ sót thôi chứ. Qua đây mà mang nhiều cũng chẳng dùng được gì, rồi cũng phải bỏ hết thôi. Đồ đạc bên đó mang sang không phù hợp với ở đây.”

Rồi cả năm người cùng bước ra cổng phi trường.

Trời bên ngoài quả thật rất lạnh. Gió thổi ù ù đưa cơn lạnh tạt vào mặt khiến mọi người bước đi một cách lóng cóng. Mới hơn năm giờ chiều mà trời giống như đã về đêm. Ông Nhân nói, “Chicago được gọi là ‘windy city’ nên thường có gió lạnh, ra khỏi đây rồi sẽ đỡ hơn.”

“Sao mới hơn năm giờ chiều mà trời tối quá.” Ông Tĩnh hỏi bạn.

“À, mùa đông là như vậy đó. Chắc toi còn nhớ đây là bắc bán cầu, mùa hè thì ngày dài còn mùa đông thì đêm dài hơn.”

“À, moi nhớ rồi. Từ đây về nhà toi xa không?”

“Cũng không xa mấy, đi khoảng hơn hai tiếng.”

“Xa vậy à, vậy chắc toi tới đây sớm lắm?”

Ông Nhân không trả lời thẳng câu hỏi của bạn mà lại nói, “Hôm nay moi xin phép nghỉ làm, đợi gia đình toi cũng gần một tiếng mới thấy ra, chỉ sợ máy bay bị delay.”

Ông Tĩnh hơi ngạc nhiên về những tiếng Anh chêm vào câu nói của bạn nhưng cũng ráng hiểu chứ không hỏi. Ông nghĩ chắc ở bên này người ta xài tiếng Anh quen rồi nên đôi lúc không chịu suy nghĩ đến tiếng Việt nữa, do đó chỉ nói sao cho thuận miệng.

Từ đầu đến giờ bà Tĩnh và hai đứa con cứ im lặng đi bên cạnh để hai người bạn cũ tha hồ mà đấu hót. Bây giờ bà Tĩnh mới lên tiếng, “Chú Nhân cho tôi hỏi, thiếm và các cháu vẫn khỏe chứ?”

“Dạ, cám ơn chị, nhà tôi và ba đứa con của tụi này cũng bình thường.”

“Ồ, anh chị có tới ba cháu rồi à?”

“Dạ, lúc sang đây chỉ có thằng con lớn sinh ra ở Cần Thơ. Qua tới đây ít lâu tụi tôi cho ra thêm hai cháu gái nữa.”

Năm người đi vào tầng hầm nơi gởi xe. Đến nơi, Nhân mở thùng sau bảo hai cháu bỏ đồ đạc vào rồi đưa ba mẹ con ngồi vào băng ghế sau. Ông và ông Tĩnh lên ngồi ghế trước.

Lên xe, ông Nhân nhắc, “Thôi, bây giờ mình bắt đầu đi, xin toi thắt dây an toàn. Chị và các cháu ở phía sau thì tùy ý không bắt buộc.”

Nghe nói thế nhưng bà Tĩnh và hai con cũng kéo dây an toàn, nhìn theo cách làm của ông Nhân rồi bắt chước cài vào.

Xe bắt đầu vào xa lộ, ông Tĩnh nói với bạn, “Giờ này mà xe cộ còn đông quá, thấy xe chạy mà moi muốn chóng mặt. Moi cũng đã từng lái xe jeep lúc còn ở đơn vị vậy mà thấy toi lái xe moi muốn lên ruột, toi chạy nhanh quá.”

Ông Nhân cười trả lời, “Ở đây phải chạy theo dòng xe cộ, hơn nữa trên xa lộ họ cho chạy đến bảy mươi.”

Ông Tĩnh ngạc nhiên, “Moi thấy toi lái ít nhất trên một trăm cây số giờ chứ bảy mươi gì?”

“À, lại quên nói trước với toi rồi, ở bên này người ta dùng mile chứ không dùng kilometre. Thôi lần lần rồi toi sẽ quen với những đơn vị của Mỹ.”

Ông Nhân bèn đổi đề tài, “Chị và hai cháu có khát nước thì lấy mấy chai nước lọc mà uống, ở phía sau tôi có để sẳn mấy chai. Còn nếu thấy đói thì mình có thể ghé ăn tạm cái gì rồi về nhà tính sau.”

“Dạ, không đói đâu chú, tụi này ăn uống trên máy bay nhiều quá rồi.” Bà Tĩnh trả lời.

“Nếu vậy thì chúng ta đi thẳng về nhà. Phía sau tôi cũng có để sẳn mấy bịch snack, chị và hai cháu lấy ăn cho vui miệng.”

Bà Tĩnh không biết snack là gì nhưng thấy có mấy gói giấy nilon màu có đựng bánh kẹo gì trong đó nên cầm đưa cho hai con.

Xe chuyển qua một xa lộ khác vắng vẻ hơn. Trời đã tối hẳn. Ngồi phía sau cậu bé Trí đã bắt đầu nghẹo cổ ngủ, bà Tĩnh và cô con gái vẫn còn thức, dán mắt vào kiếng xe nhìn ra ngoài như muốn khám phá xem những cái mới lạ của nơi mới đến.

Ông Tĩnh nói với bạn, “Ở đây vắng vẻ quá!”

“Ừ, hết thành phố lớn rồi, bắt đầu đi vào vùng quê. Đây là xa lộ 131 đi vào tiểu bang Michigan. Từ đây đến nhà chỉ còn khoảng mười lăm phút.”

“Sao thành phố toi ở có tên lạ quá?” Ông Tĩnh tò mò.

Ông Nhân vừa cười vừa đáp lại, “Đó là tiếng của người da đỏ. Toi sẽ còn thấy nhiều cái tên theo thổ ngữ của người da đỏ nữa.”

Xe rẽ vào đường nhỏ rồi len vào những khu xóm vắng lặng, cuối cùng vào một căn nhà khá lớn.

Ông Nhân cười nói với bạn, “Tới rồi, chào toi và gia đình đến với xứ Mỹ.”

Ông Tĩnh đáp, “Cám ơn toi rất nhiều, tụi này sẽ làm phiền toi trong những ngày sắp tới.”

Ông Nhân cười, “Welcome to America, thấy được toi và gia đình thoát được bọn Cộng Sản là moi rất mừng. Mọi việc từ từ rồi tính, đâu cũng vào đó hết thôi.”

—-> Chương 2

This entry was posted in KALE, KALE, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

One Response to HỘI NHẬP (Kale): 1-12

  1. Ngoc Nu says:

    ( Nuoc mat thi nha tan – Cuoc doi qua that ky la, khi thi bat cap luc lai thai qua ! Khong biet lam sao can bang cho duoc. )

    Nguoi Mien Nam da di qua canh dia nguc Nuoc mat nha tan ma van song sot, trong ca y nghia the chat lan tinh than, di nhien khong the loai tru mot so truong hop danh mat linh hon.

    Cuoc doi ,thoat trong, qua that ky la, vi co khi bat cap, co luc lai thai qua. Tuy nhien, le Vo Thuong cua Troi Dat giai thich thoa dang dieu co ve nhu ky la nay. Le Vo Thuong dua chung ta ra khoi nhung noi tuyet vong cung cuc.
    Mau nhiem thay le Vo Thuong cua Troi Dat.

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s