NGÀY VỀ (Lê Anh Dũng)

NGÀY VỀ

giotnangxien_frontChuyến tàu lửa chậm chạp chui vào hầm đèo Bình Đê. Dân đứng bên cửa sổ goong tàu hít thở bầu không khí trong lành và nhìn về phía biển, nơi đó loáng thoáng dãy Trường Sơn bò ra tắm những ngọn sóng cuối cùng và tầm mắt chàng bị mất hút vào khung tối tăm dưới đường hầm. Dân có cảm giác lâng lâng khi con tàu ra khỏi đường hầm ngắn để bắt đầu từ ấy, anh nhìn quê hương mình đang yên ngủ dưới những tàng dừa xanh ngút ngàn. Lúc đó khoảng ba giờ sáng. Con tàu suốt từ Hà Nội, đã hai ngày một đêm đưa Dân về với miền Nam đầy nắng ấm. Suốt bao nhiêu năm từ các trại miền Nam, bị đưa xuống tàu biển lưu đày đến vùng thượng du xứ Bắc; giờ chàng lại được con tàu suốt “thống nhất” đưa trở về!

Con tàu giống như con rắn bò trong đêm, tiếng bánh xe chạy trên đường rầy muôn đời vẫn là tiếng xình xịch, những bánh xe và đường rầy bằng kim loại cọ xát khi qua những chặng quanh co… Trong bóng đêm Dân cố nhớ những dấu ấn ngày xưa để định vị được đâu là ga Chương Hòa, đâu là Cầu Chun, đâu là ngã Ba Gác nhíp, mả Cô Xíu! Kia là đường xuống phố và con tầu đang vào sân ga ngày cũ! Thế nhưng con tàu vẫn chạy hơi chậm lại một chút rồi kéo còi tiếp tục lao vào bóng đêm. Dân không kịp nhận định được những khác biệt gì sau bao nhiêu năm anh rời Tam Quan. Con tàu chở anh lượn qua quê hương như thoáng chốc trong hồn thơ thẩn. Có người ngồi trong toa nói với nhau rằng tàu suốt bây giờ chỉ đậu lại các ga tỉnh mà thôi. Nếu ai là người Tam Quan hay Bồng Sơn thì cũng phải chờ đến ga Diêu Trì, tàu đỗ lại đó rồi mới lên xe đò trở ra…

Dân tiếp tục đếm từng chặng con tàu lướt qua, Hoài Thanh, Hoài Tân rồi khu vực Bồng Sơn. Đêm gần sáng, khi tàu vượt qua trường Tăng Bạt Hổ, chàng chồm ra cửa sổ, cố căng mắt trong đêm để nhìn ngôi trường một thời tuổi thơ thân thuộc. Loáng thoáng cây khuynh diệp trước sân trường còn đó, loáng thoáng những dãy hành lang … Nhưng nhạt nhòa như trong giấc mơ không tưởng. Rồi con tàu vuợt sông Lại Giang đầy sương mù buổi sáng. Dân không nhìn được gì ngoài những ý tưởng trong đầu về một dòng sông kỷ niệm ngày xưa…

Hít một hơi khí thoáng mát buổi sớm mai, chàng cảm thấy như mình đang là con chim vừa được sổ lồng sau bao nhiêu năm dài cùm gông tù tội! Trải rộng tâm hồn trong một trạng thái đầy phấn khích, Dân hát nho nhỏ một bài hát mà anh chợt bỗng hứng khởi thoát ra từ một ý tưởng mơ hồ rất kỳ diệu về ý nghĩa của hai chữ tự do! Chàng trải rộng lòng đón nhận hạnh phúc miên man đang tràn ngập tâm hồn. Nó âm ỉ nhưng như sóng triều dâng về đủ mọi ký ức cùng một lượt và cùng một lúc hiện ra trong đầu làm cho anh như ngợp thở trong sung sướng hân hoan…

Trong cái hạnh phúc đang trào dâng ấy, Dân vẽ ra tương lai khi anh găp lại vợ con và gia đình cha mẹ! Ừ! mình sẽ, mình sẽ… Trong những hạnh phúc đang vẽ ra một tương lai, rõ nét nhất là anh sẽ ôm người vợ chung thủy và ba đứa con vào lòng, nói thầm vào tai vợ rằng:

– Anh đã về, chúng ta lại bắt đầu những ngày mới!

*****

Chiếc xích lô máy chạy xen qua nhiều loại xe, nó lách qua lách lại như đầu con rắn. Người tài xế đội một chiếc nón lá, những vành ngoài không biết gãy nát hồi nào, nên những tua lá cọ cong theo chiều gió đánh vào nhau phành phạch. Chiếc quai nón màu bùn đất phủ cả cái cằm và hai má ốm o đen thui của anh tài xế, hai mắt sâu hóm cố nhìn về phía trước, hai tay cầm càng, lách qua lách lại cộng với hai chân giữ ga và thắng, chiếc áo nhà binh rách bạc màu…

Dân ngồi phía trước, ghế có nệm, màu nệm hình như chưa bao giờ được giặt. Hai chân chàng dạng ra trên chiếc càng xe chứa bao áo quần và mùng mền được mang về từ trại tù xa xứ Bắc. Hai tay Dân bám vào thành xe, lắc lư… thỉnh thoảng xe lướt qua những ổ gà, tung chiếc xe và Dân lên xuống giống như chiếc thuyền giữa cơn phong ba ngoài biển…

Anh tài xế cố lách qua một ổ gà bự trấn ngay giữa đường, một bánh xe sụp xuống lắc mạnh khiến đầu của Dân va vào mấy miếng sắt sườn mui xe đau điếng. Chàng quay ra sau càu nhàu:

– Anh làm ơn chạy chầm chậm và cẩn thận một chút. Tôi không chết trong tù mà chết lãng nhách vì tai nạn trên đường về thì thật là vô lý…!

Bỗng nhiên anh tài lách qua mặt một chiếc xích lô đạp và thắng gấp vào lề. Chiếc xe bị giựt, tiếng máy kêu xình xịch đứt quãng như nghèn nghẹn uất ức chuyện gì.

Cuối cùng tiếng máy tắt ngấm đột ngột. Hai tai Dân đang bị ù và khó chịu thì nghe anh tài xích lô máy vừa hét lên phía sau vừa nhảy xuống đất:

– Xin lỗi, anh có phải là Thiếu Úy Dân, hồi trước ở ĐĐ 2/… tiểu khu Bình Định không?

Chàng quay qua nhìn anh, lúc nầy anh ta đã lấy chiếc nón lá ra cầm tay làm quạt. Dân nhảy vội xuống đất ôm chầm lấy anh ta và la lên:

– A! Quang đây, có phải là em không!

– Còn ai nữa, ông thầy! Trông ông thầy ốm và già đi nhiều lắm. Nghe ông thầy nói mới ra tù, lại nói giọng nẩu nên em mới để ý nhận ra…

– Lúc mặc cả tiền bạc và khi leo lên xe, tôi cũng ngờ ngợ, nhưng không nhận ra chú. Chú trông ốm và đen, hình dạng đổi khác nên không thể nào…

Quang ngắt lời:

– Ông thầy tính coi, bao nhiêu vật đổi sao dời… Ông thầy cũng già đi quá và ốm trông như bộ xương. Em đâu có ngờ là ông thầy…

Hồi mới ra trường, Dân chọn về Bình định, quê hương một thời đầy kỷ niệm. Đó là ước nguyện có dịp làm một cái gì và cũng là tìm lại dư hương những ngày còn cắp sách… Những ngày sau tết Mậu Thân, khóa 26 Thủ Đức ra trường không được đi phép mà phải trình diện thẳng đơn vị. Dân được phân phối về đại đội tân lập, lúc ấy đang thụ huấn tại quân trường Phù Cát. Quang là một thanh niên mới lớn, đến tuổi quân dịch, vì không muốn xa người vợ mới cưới nên cậu ta đầu quân vào đại đội địa phương. Thấy anh lính có gương mặt đẹp trai và lanh lợi, Chàng đề nghị cho đi học khóa truyền tin. Khi về lại đơn vị anh ta là người mang máy theo sau Dân từng bước… Cho đến một ngày Dân đổi đi Pleiku. Từ đó chàng không gặp lại Quang…

– Mừng chúng ta gặp lại nhau!

Dân vừa ôm Quang vừa cười, lòng tràn đầy kỷ niệm. Quang cũng ôm Dân, trên mi rươm rướm đôi dòng lệ. Quang rủ chàng vào quán cà phê bên đường. Hai người vừa hỏi thăm về nhau vừa nhâm nhi ly cà phê đá đầu tiên sau bao nhiêu năm xa cách.

Quang múc đường vào ly, lấy muỗng quậy cho đường tan. Tiếng ly và muỗng chạm nhau kêu lanh canh vụn vỡ, đều đều. Vừa nhìn Dân, Quang vừa lấy tay nhặt mấy cục nước đá bỏ vào ly vừa nói:

– Ông thầy! Thằng con lớn của em năm nay được 14, nó cũng đang đạp xích lô. Vợ em bị trúng đạn và chết trên đường di tản từ Bình Định vào Nha Trang… Thằng nhỏ mà ông thầy đặt tên khai sanh là Long đó… Nhớ hồi đó…

Tự nhiên Quang khóc và khóc rất lâu, không cần để ý gì đến những người chung quanh trong quán. Hình như lúc nầy anh ta quên hết hiện tại và đang sống trong kỷ niệm. Có lẽ lâu nay không có ai để anh ta tâm sự về những uất nghẹn thầm kín. Gặp lại nhau trong một hoàn cảnh trớ trêu, đất nước chuyển mình qua một giai đoạn lịch sử mà tất cả mọi người đều hứng chịu, không phân biệt một ai. Dân yên lặng ngồi nghe Quang khóc, cũng là để nghe mình khóc. Những giọt nước mắt từ những giằng xé theo thời gian có thể sẽ gột rửa phần nào những uất ức ẩn chứa bao lâu nay…

Lấy vạt áo chùi những giọt lệ, cố nén tiếng nấc, Quang cho Dân biết là tất cả mấy đứa con đều không đứa nào còn có dịp cắp sách đến trường. Hiện tại gia đình đang chen chúc nhau dưới gầm cầu Nhị Thiên Đường trên Chợ Lớn. Sau khi chôn vội vợ bên đường gần đèo Cả, giữa Tuy Hòa và Đại Lãnh, Quang đem hết gia đình vào Sài gòn.

– Ông thầy còn nhớ Thiếu úy Ca không! Sau khi ông thầy đi rồi, ông ta lên làm Đại đội trưởng. Em mang máy theo bên cạnh với thằng Ty mang thực phẩm và ba lô đồ ngủ cho ông… Thế mà lúc ông trúng một viên bắn sẻ sát sườn núi phía Bắc đồi 30 đường lên An Lão; khi ông la lên và ngã xuống, tụi em còn chưa biết là chuyện gì xảy ra. Viên đạn đi ngọt xớt từ má phải tống qua lỗ tai trái… Trong trường hợp vợ của em cũng y như vậy. Khi nàng đang ôm thằng Xí, con út trong lòng, ngồi trên xe đò, có em cùng mấy người bạn và ba đứa con chung quanh… Vậy mà không hiểu làm sao viên đạn từ đâu kêu vèo một cái, vợ em lăn ra không kịp nói với em một lời…

Mới ra khỏi cái nhà tù được canh giữ bao nhiêu năm, những háo hức tự do chưa kịp thành hình thì hình như Dân lại đang ngồi vào một nhà tù khác trong đó có Quang, Dân và tất cả mọi người. Dân đưa tay bưng ly cà phê bóp mạnh. Chất nước đá thấm qua thành ly làm tê tê các đầu ngón tay. Nó lan dần như xoa dịu bớt một phần nghèn nghẹn trong cổ họng. Dân ực vội vào cổ như giằn xuống nỗi ưu phiền bất chợt làm tắt nghẽn các mạch máu về tim…

– Thôi Quang! Em đã làm cho anh muốn khóc. Anh mới ra khỏi tù, vợ con và gia đình đang chờ. Bao nhiêu năm cách biệt nhau, anh ngồi tù trong vòng rào vẫn sướng hơn em và gia đình bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại… Dĩ nhiên có cả gia đình của anh và của mọi người. Thôi cho anh về. Hôm nào anh sẽ ghé cầu Nhị Thiên Đường thăm các cháu!

– Ông thầy chưa nói gì về những năm tù cho em nghe. Mà thôi để hôm khác. Xin lỗi! Em bậy quá, em đã chận ngang nỗi vui mừng của những ngày đầu tiên con chim được sổ lồng…!

Dân mỉm cười nhìn Quang:

– Nhưng con chim ra khỏi cái lồng nhỏ lại bị nhốt vào cái lồng lớn khác, trong đó có cả Quang, cả đại dân tộc chúng ta!

Quang nhìn chung quanh… vơ vội chiếc nón lá trên bàn, đến quày trả tiền. Vừa đi vừa quay đầu lại nói to:

– Bài thơ ngày trước ông thầy đề tặng lúc sinh nhật thằng con em một tuổi, em vẫn còn thuộc lòng. Câu “giống ai nè, giống ba hay giống má”… Mỗi khi em nhìn con là em nhớ vợ em…! Nó là con trai mà giống má nó hơn giống em. Đẹp trai lắm. Mới chừng ấy tuổi mà đã biết lo cho gia đình…

Dân ngắt lời:

– Thôi tính tiền rồi về. Hôm nào rảnh anh em mình sẽ lai rai vài xị rồi tha hồ mà nói…

*****

Chiếc xe lại tiếp tục rồ máy, lại tiếp tục vượt qua hằng hà sa số ổ gà. Từ ga Bình Triệu về Ngã Bảy Chợ Lớn, chiếc xe phải chen qua những người bộ hành, những chiếc xe đạp, những chiếc xích lô đạp, những xe hàng bóp kèn inh ỏi… Đôi khi tiếng máy nghẹn lại và nhả khói mù trời vì bị thắng gấp trước mấy em bé bán dạo, lượm bao ni lông, trước những bà già lưng còm chống gậy đi xin độ nhật, trước những thương phế tàn tật lết qua đường… Lòng đường thì nhỏ mà người thì đông, chen nhau vì miếng ăn và cuộc sống. Họ băng qua đường bất kể những nguy hiểm chực chờ.

Chiếc xe xích lô máy nhả khói hàng cụm lên không trung, tiếng kêu khô và nghèn nghẹt. Quang luôn đạp thắng nhưng ấn ga cao, chờ có dịp là vọt qua mặt… Thế cho nên chiếc xe lúc nào cũng giống như con thú bị thương, gầm gừ muốn nhảy xổ về phía trước. Đến gần chợ Bà Chiểu thì chiếc xe chạy rất chậm. Lượng người đi bộ và xe đạp chen nhau như hai dòng chảy ngược xuôi. Dân đảo mắt chung quanh một lượt và nhìn theo một người cụt cả hai chân đang lết qua đường, không cần biết có người và xe đang chen chúc. Chàng đang suy nghĩ vẩn vơ thì từ trong chợ có tiếng la và một tốp người vận đồng phục vừa đi vừa lấy chân đá những thúng gạo, những gánh rau cải, những thứ vật dụng của người bán hàng ngồi bên vỉa hè hoặc bên hông chợ… Gạo, mắm, rau quả, củi, trái cây… theo bước chân đá của đoàn người đó vung vãi khắp nơi!

Quang hét vào tai Dân:

– Quản lý thị trường đó ông thầy! Tụi nó không cho bà con buôn bán cá thể… Chúng nó đạp đổ hết. Không cho người ta bán thì dẹp đi hay bắt về cơ quan chứ ai mà nhẫn tâm đạp đá vung vãi của trời! Người người đang đói mà chúng đâu có cần biết…!

Dân ra dấu bảo Quang im, tiếng máy nổ và tiếng hét của Quang làm chàng đau nhức từng thớ thịt… Lúc còn trong tù, thỉnh thoảng đọc báo Nhân Dân, trên các mục thi đua và khen ngợi về bước nhảy vọt trong công cuộc cách mạng tại miền Nam là đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp và quản lý thị trường để theo kịp Xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc… Đánh tư sản mại bản cho sụm để san bằng giai cấp! Cảnh vừa xãy ra phản ảnh đúng những bài viết ca ngợi trong báo làm cho Dân rùng mình. Ta sẽ về đâu, làm gì khi trong tay không có một xu, mới ra tù và sẽ còn trong thời kỳ quản thúc! Nhớ đến vợ con và nhớ đến cảnh vui mừng của cha mẹ anh em đang chờ… mồ hôi chàng bỗng ươm ra ướt cả áo.

Xe thoát ra khỏi khu chợ đầy ruồi nhặng và tiếng ồn ào, con đường về Chợ lớn giữa trưa hè nắng gắt và đầy tiếng người, tiếng xe, tiếng rao hàng lẫn tiếng ăn xin. Hình ảnh những người tuổi trẻ đá đạp tung tóe gạo và thực phẩm trước chợ Bà chiểu hồi nãy cứ lẩn quẩn trong đầu Dân. Hình như các động tác của đám quản lý thị trường ấy làm chàng nhớ đến những ngày tù xứ Bắc mới vừa được giải thoát. Bao nhiêu năm bị mất tự do, bao nhiêu năm đứng trước các cán bộ bộ đội và công an tuổi đáng con cháu mình, nạt nộ đòi dạy dỗ mình từng tí. Họ còn lên giọng rằng thay mặt gia đình vợ con đã gởi gấm chàng cho họ. Họ thay mặt nhân dân giáo dục những sĩ quan miền Nam từ tính thú trở thành tính người…

Mới ra khỏi nơi tù đày viễn xứ, Dân chưa kịp mừng thì những hình ảnh trước mắt đã làm anh choáng váng. Tương lai là thế đó, nó cũng là một trại tù mà thôi. Anh sẽ phải sống và làm việc với gia đình vợ con anh trong một trại tập trung khổng lồ của cả một đất nước mất tự do. Thay vì hàng ngày ra vào trình diện cán bộ trại sau khi lao động khổ sai thì hàng tuần anh sẽ phải đến đồn công an phường trình diện, làm bản tường trình trong tuần đi đâu làm gì, tư tưởng thế nào…

Lúc còn ở trại Tân Lập Vĩnh Phú, Dân đã phải theo học một khóa đặc biệt về chính sách định cư những người tù cải tạo. Các cán bộ giảng huấn cho biết kế hoạch đó do chính trung tướng Nguyễn Hữu Có, cựu Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng quốc phòng thời chính phủ Nguyễn Cao Kỳ… đề nghị và soạn thảo! Theo kế hoạch ấy thì tất cả những người tù đang ở trên đất Bắc sẽ được định cư tại vùng Thanh Hóa, vợ con của họ sẽ được nhà nước di chuyển từ trong Nam ra “đoàn tụ” với họ và sống với họ để trở thành một công nông trường. Trong công nông trường nầy có đủ trường học, chợ búa, hội trường, nhà ở cho từng hộ. Chính Tướng Có sẽ là Giám đốc nông trường nầy… May là kế hoạch “anh Có” không biết vì lý do gì đã không thực hiện được!

Dân đang miên man suy nghĩ phân vân trước một tương lai mờ mịt và một quá khứ đau thương thì xe ngừng trước nhà. Một cảnh tượng trái ngược và đau lòng hiện ra làm Dân choáng váng, không biết đó là nhà cha mẹ mình hay đã dọn đi! Những người ngồi và đứng trong nhà đều mặc áo quần tang chế, trên bàn thờ nghi ngút khói hương. Dân nghi hoặc ngoái ra sau bảo Quang:

– Em làm ơn vào nhà hỏi có phải nhà của ông L… không! Nếu đúng thì là ba má anh còn ở đó.

Quang xuống xe đi chậm chậm vào nhà. Dân nhìn quanh một lượt xem có còn gì quen thuộc sau bao nhiêu năm xa cách. Có thể những người thân của anh sẽ vui mừng chạy ra, hàng xóm láng giềng sẽ cùng reo lên bày tỏ nỗi vui khi gặp lại người sống sót trở về… Nhưng hình như có cái gì đó không ổn trong căn chung cư thân thuộc. Nó mang một màu tang không thể nào ngờ là sự thật nếu không muốn nói chủ nhân đang ở trong ấy không phải là gia đình của Dân. Làm sao chàng có thể tưởng tượng ngày về của mình lại chứng kiến cảnh tang tóc nào đó của gia đình…

Mọi người trong nhà đổ xô chạy ra chiếc xích lô máy. Dân hoa mắt lên không phải vì bao nhiêu người vừa khóc vừa la to: “Con đã về… Anh đã về… Cháu đã về… Ba về, ba về…” mà chàng sững sờ bởi những người đang bận quần áo tang chế chạy về phía mình! Anh há hốc, miệng không nói được, ngồi yên không thể nào nhúc nhích, mắt mở to thất thần. Có một giọng nói rất to đập vào tai Dân:

– Anh Hai! Nghe trên phường thông báo anh được về, ông nội mừng quá lên máu cao… Chết trước khi thấy mặt anh…!

Dân cố bình tĩnh bước xuống xe. Khi anh ngước nhìn lên thì đứa con lớn lên mười tuổi đã sà vào lòng. Người vợ yêu của anh đang vận đồ tang yên lặng lau đôi dòng lệ, đứng bên hiên nhà nhìn anh khuyến khích… Ba má Dân bận toàn đồ trắng, chít khăn tang đứng trước nhà đưa tay đỡ lấy tay Dân dẫn vào nhà. Trên bàn thờ đầy nhang khói, tấm hình ông nội Dân mặc áo dài khăn đóng mỉm cười nhìn Dân… Đứa cháu mà ông hằng yêu mến vừa trở về. Dân nhớ rất rõ bức thư viết ngắn của ông gởi ra Bắc cho chàng cách đây hai tháng: “Ông nội năm nay đã già mắt đã mờ, tai nghe rất khó. Nhưng ông ráng chờ cháu về ông mới chết…!”

Thế mà ông đã đi trước khi thấy được mặt cháu chỉ vì cái tin cháu của ông được thả ra, được về với ông. Dân đến trước bàn thờ, thắp hương và quì xuống. Bộ đồ tang của Dân đang chờ ngay trên bàn thờ. Chàng với tay lấy và mặc vào, chính thức để tang ngay giờ đầu về với người thân. Chàng quay lại nhìn mọi người đang khóc nhìn chàng. Dân ngồi xuống ôm thằng con út, xoa đầu nó trước cặp mắt tròn của nó nhìn chàng xa lạ. Vợ Dân vừa lấy khăn lau nước mắt vừa nói với nó:

– Ba con đó, hôn Ba đi!

Leanhdung
Trích tuyển tập truyện ngắn GIỌT NẮNG XIÊN của Lê Anh Dũng và Diệp Thế Mỹ

This entry was posted in Lê Anh Dũng & Diệp Thế Mỹ, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s