MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT DÒNG SÔNG (Kale): 1-10

DNDSaChương 1

Toàn bước ra khỏi lớp học, cùng với Bích Ty đi lang thang đến nơi anh thường để xe. Sân trường đông một cách khác thường dù hôm nay mới chỉ là những ngày đầu tiên của buổi khai giảng.

“Anh Toàn này. Năm nay anh ghi danh bao nhiêu chứng chỉ?” Tiếng Bích Ty vang lên bên tai anh.

“À, tôi chỉ còn hai chứng chỉ nữa là xong. Mùa này tôi học Hoá Lý 2 và Hoá Ứng Dụng, mùa sau có thể tôi sẽ học Hoá Hữu Cơ Mô Tả cho có thêm một ít hiểu biết về Hoá Hữu Cơ! Còn Bích Ty thì thế nào?” Toàn xoay qua nhìn cô bạn đi bên cạnh hỏi lại.

Bích Ty cười nói, “Tôi ấy à? Còn nhiều! Năm nay tôi định học ba chứng chỉ nhưng chưa biết kham nỗi không, nếu đậu hết thì phải học thêm một năm nữa, còn nếu không thì cũng phải hai năm!”

“Vậy tại sao Ty lại chọn lớp Hoá Lý 2 trong khi có thể chọn các chứng chỉ bắt buộc trước?” Toàn tò mò.

Bích Ty cúi đầu bước đi không trả lời Toàn cho đến một lúc sau mới nói, “Cũng không có gì lạ, tôi mới xong Hoá Lý 1, sẳn đà học luôn Hoá Lý 2 cho dễ dàng rồi sau đó trở lại với các chứng chỉ bắt buộc, như vậy tôi nghĩ tiện hơn.”

Toàn gật đầu đồng ý và suy nghĩ, đúng là các cô gái học khoa học có khác, tính toán thật chi li.

Nhìn dáng Bích Ty tha thướt trong chiếc áo dài màu xanh nhạt đi bên cạnh, Toàn cảm thấy mình vụng về làm sao. Giữa một nơi công cộng như thế này mà đi bên cạnh một ‘người đẹp’ khá nỗi tiếng của trường Đại Học Khoa Học, Toàn càng có cảm giác lúng túng nhiều hơn, anh tự hỏi không biết có nên đi thẳng về phía chiếc xe đạp ‘cà tàng’ mà anh đã khoá rất cẩn thận ở chổ để xe kia hay không? Hay là thôi vậy, anh sẽ cố tìm cách chia tay với Bích Ty để cô nàng rời trường trước khi anh lấy xe đạp ra về. Toàn không mặc cảm về cái nghèo của anh vì dù sao thì bạn bè cũng đã biết ít nhiều về hoàn cảnh của anh rồi, nhưng anh vẫn cảm thấy rất khổ sở mỗi khi phải ‘biểu diển’ hoàn cảnh ấy trước các bạn, nhất là trước mặt một cô bạn học có một gia đình giàu có như Bích Ty.

Toàn, một thanh niên trông bình thường về mọi phương diện. Làn da ngâm đen, dáng người gầy và hơi cao, tóc dài chấm ót và để bồng bềnh theothời trang của những thanh niên khác trong lứa tuổi của anh. Khuôn mặt Toàn không có một nét gì đặc biệt, mặt vuông với hai hàm hơi bạnh ra, môi dày, mắt đen và to nằm dưới đôi lông mày rậm. Mũi không thấp nhưng khá to với hai cánh mũi hơi bè ra hai bên. Tóm lại Toàn không đẹp trai theo cái kiểu của một tài tử điện ảnh, nếu mới nhìn qua trông anh cóvẻ hơi thô cứng, tuy nhiên không dấu được cái nét cương nghị của một người đàn ông có đầy nghị lực. Cách ăn mặc của Toàn trông thật giản dị, bình thường, nếu không muốn nói là rất tầm thường. Chiếc quần kaki màu xanh đậm đã hơi bạc màu với chiếc áo sơ mi màu xanh nhạt bỏ ngoài quần, chân mang đôi dép da củ. Có thể nói đó là bộ quần áo khá nhất mà anh có được để mặc lúc ra ngoài!

Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê miền sông nước Hậu Giang, một quận lỵ có tên Cái Răng. Gia đình Toàn xuất thân từ ruộng đồng nơi mà lúa, chuột đồng, muỗi và đỉa tranh nhau từng tấc đất để sinh tồn. Cha anh đã chết từ khi anh còn là một cậu bé chưa được tám tuổi. Gần như anh không nhớ gì về người cha ngoài một tấm ảnh được đặt trên bàn thờ ở giữa nhà, anh đã nhìn thấy tấm hình này từ khi còn tấm bé, từ khi mẹ anh bảo anh phải quỳ lạy trước bàn thờ mỗi lần giỗ kỵ hay vào ngày tết. Gia đình anh hiện có bốn mẹ con mà anh là đứa con trai lớn, đứa em gái kém anh ba tuổi và đứa em trai út sinh ra sau khi cha anh đã bị giết chết. Từ lúc bắt đầu đủ lớn cho tới tuổi trưởng thành, anh đã phải xữ sự như một người đàn ông trong gia đình, phải gánh trọng trách trông nom và dạy dỗ hai em, phải thay cha làm các công việc đồng áng! Tuy nhiên, nhờ ham học và khá thông minh, Toàn cũng đã đậu được mãnh bằng Tú Tài phần hai khi đến tuổi mười tám. Gia đình tuy có vất vả nhưng cũng không đến nỗi quá cùng khổ nên một năm sau khi tốt nghiệp trung học anh quyết định từ giã mẹ và hai em để lên Sài Gòn tìm chút công danh hầu thoát được số kiếp cũng như giúp đở gia đình về sau. Anh ghi tên vào trường Đại Học Khoa Học và bắt đầu cuộc đời sinh viên mà anh hằng mong ước.

Thời gian này là lúc mà trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn bắt đầu chuyển tiếp từ chương trình học tính theo từng năm sang chương trình học tính theo từng chứng chỉ, nghĩa là chuyển dần từ đường lối giáo dục theo khuôn mẫu của Pháp sang khuôn mẫu của Mỹ, và nhiều ngành học tương đối mới được hình thành. Trước đây các sinh viên chỉ có thể chọn hoặc là chương trình cử nhân lý hoá, toán, hoặc sinh vật, thì bây giờ còn có thêm các văn bằng chuyên môn hơn mà từ đó Toàn đã chọn để học ngành hoá học. Muốn lấy cho được văn bằng cử nhân hoá học, ngoài cái chặng đầu khá gian nan là chứng chỉ dự bị ‘Toán Lý Hoá’ thường được gọi tắt là chứng chỉ MPC, anh phải qua cho được sáu chứng chỉ khác mà trong đó có những chứng chỉ bắt buộc như Hoá Học Vô Cơ, Hoá Học Hữu Cơ Cơ Cấu, Hoá Lý 1 và Sinh Hoá 1. Toàn đã hoàn tất hết các chứng chỉ bắt buộc này và năm nay là niên khoá cuối cùng anh phải cố gắng cho được hai chứng chỉ tự chọn là Hoá Lý 2 và Hoá Học Ứng Dụng hoặc Hoá Hữu Cơ Mô Tả.

Về cái chết của cha, Toàn cũng chỉ nghe mẹ kể lại khi anh đã có đủ trí khôn. Cha anh, một người nông dân vô danh của miền Nam, suốt bao nhiêu đời sinh sống với đồng ruộng, với cái cày và con trâu. Người nhỏ thó và đen đúa vì suốt ngày dù mưa hay nắng đều trần mình trên đồng ruộng, hết cày bừa đến gặt hái. Theo lời mẹ anh thì cha anh tính tình rất hiền lành chất phác. Khi đến cưới mẹ, cha anh theo tục lệ đã phải ở rễ để giúp gia đình bên đàng gái làm việc đồng áng. Do phải cố gắng làm việc vất vả để ‘lấy điểm’ với gia đình cô vợ tương lai, đến trưa ông rất mệt và đói bụng, khi được dọn cơm lên ăn, ông đã không ngần ngại cúi gầm đầu làm một hơi gần hết nồi cơm chỉ với chén cá kho tiêu và dĩa rau dền luộc khiến ông bà ngoại anh ngồi trố mắt mà nhìn. Tuy nhiên với bản chất chân thật vốn có của người dân miền Nam, ông bà ngoại anh không ngần ngại gì khi chấp nhận cha anh vào làm rể trong gia đình, còn khen rằng cha anh có tính tình thật thà. Có lẽ đây là một giai thoại mà mẹ anh luôn nhắc tới một cách vui vẻ mỗi lần nói về cha.

Sống trong vùng được gọi là ‘xôi đậu’ của chiến tranh, nghĩa là vùng đất không bên nào dù là Quốc Gia hay Cộng Sản hoàn toàn kiểm soát, ban ngày thì lính Quốc Gia lui tới, ban đêm thì du kích Cộng Sản hoành hành, gia đình Toàn phải hứng chịu tất cả những áp lực của cả hai phía. Cha anh không có một ý thức chính trị nào ngoài việc lo cày cấy để nuôi gia đình, cũng không muốn ngả về phía nào. Nhưng sự ruồng bố của du kích Cộng Sản đã không tha cho ông, nhiều lần họ đến nhà ngoài việc thu thuế để nuôi quân còn khuyên nhủ ông ‘thoát ly’ để vào ‘bưng’. Cha Toàn luôn viện cớ nặng gánh gia đình để thoái thác cho đến một buổi tối họ đến buộc cha anh phải đi theo họ, và sáng hôm sau xác cha anh được bà con trong xóm tìm thấy giữa cánh đồng với những nhát chém ngang lưng.

Cũng vì tình trạng này nên khi anh có ý định rời gia đình để lên Sài Gòn học, mẹ anh không những không ngăn cản mà còn có ý khuyến khích mặc dù nếu vắng anh thì gia đình anh sẽ rất khó khăn bởi thiếu người lo việc đồng áng. Vùng đất nơi gia đình anh cư ngụ sau khi người Pháp rút về nước thì bây giờ lại tiếp tục trở thành vùng xôi đậu sau khi cái gọi là ‘Mặt Trận’ được thành lập để chống lại chính quyền Sài Gòn. Gia đình anh sợ lịch sử sẽ lập lại một lần nữa khiến anh có thể trở thành một nạn nhân như cha anh…

Bích Ty bỗng lên tiếng hỏi, “Anh Toàn về nhà chưa? Nếu chưa thì tôi về trước nhé!”

“Ừ, vậy Ty về trước, tôi đi sang phòng thí nghiệm lát nữa sẽ về sau.” Toàn nói dối với Bích Ty rồi giơ tay khẻ vẫy chào cô bạn học. Anh đi lững thững về phía chiếc xe đạp của mình, không quên nhìn theo chiếc xe Honda của Bích Ty vừa rời khỏi cổng trường.

Khi lên đến Sài Gòn, Toàn thuê được một căn gác xép ở chung với một người bạn trong khu hẻm Bàn Cờ, đường Phan Đình Phùng, cách trường Đại Học Khoa Học cũng không xa. Gọi là khu Bàn Cờ quả thật đúng với cái tên của nó. Hẻm ngang, hẻm dọc đan chéo với nhau không khác gì những ô vuông trên bàn cờ tướng. Nhà cửa nhỏ hẹp và chen chúc với nhau, có những con hẻm chỉ vừa một chiếc xe đạp lách qua. Căn gác Toàn ở là một căn gác bằng gỗ mỗi chiều khoảng ba mét chỉ vừa đặt hai chiếc chiếu đơn ở hai bên tường và một thùng gỗ vừa làm tủ đựng đồ đạc vừa làm bàn học, mái lợp tôn thiếc không có trần nên cả ngày lẫn đêm đều nóng như thiêu. Phía dưới nhà là một tiệm tạp hoá nhỏ, bán đủ thứ từ quả trứng cho đến cây kim sợi chỉ. Từ sáng sớm tới tối mịt, tiếng trẻ con khóc la hay đùa nghịch inh ỏi, tiếng người lớn cãi nhau bên cạnh chiếc bơm nước công cộng không lúc nào ngớt. Mỗi lần muốn ôn tập bài vở, Toàn đều phải nhét chặt hai tai lại, nhưng nếu không ở đây thì anh làm gì có thể chọn lựa nơi nào khác hơn được với cái túi tiền lép xẹp như túi của Toàn trong lúc này?

Ngoài thời gian đi học, Toàn còn tìm được ba chổ dạy kèm cho các em học sinh con nhà khá giả, và đó cũng là nguồn thu nhập của anh để trang trải tiền thuê nhà và tiền ăn uống, sách vở.

Ngang qua căn hẻm nhà mình, nhớ tới cái cảnh bát nháo trong đó, Toàn lắc đầu chán ngán rồi đạp xe đi thẳng. Anh định sẽ đến thư viện học ôn bài vở cho dù có phải ra sức đạp xe đi thêm một đoạn đường khá xa.

Xe cộ trên đường qua lại như mắc cưởi. Những dãy nhà hai bên đường nằm san sát nhau, mặt tiền các căn nhà rất hẹp và hầu như chỉ là những cửa hiệu buôn bán đủ các thứ tạp nhạp. Đường Phan Đình Phùng rất ít cây cối nên nắng buổi trưa khiến Toàn có cái cảm giác càng nóng bức hơn, mồ hôi thấm ướt cả trên lưng. Tiếng còi xe vang lên inh ỏi phía trước lẫn phía sau khiến anh không biết phải tránh vào đâu. Anh cố gắng đạp xe gần sát lề đường cho qua hết đoạn đường xô bồ này, phía trước kia là công viên ‘Duy Tân’ có nhiều cây cối sẽ mát mẻ hơn đôi chút.

Con đường Lê Quí Đôn thoáng mát với những hàng cây hai bên đường toả tán rộng ra tận giữa đường khiến Toàn cảm thấy dể chịu hơn sau khi phải đạp xe trên đường Phan Đình Phùng đầy bụi và khói xe. Những ngôi biệt thự kiến trúc theo lối tây phương cổ kính nằm im lìm sau những lùm cây, những bụi hoa rực rỡ đủ màu trong các sân nhà càng tô đậm thêm cho cảnh vật một không gian yên tĩnh. Ngôi trường nữ trung học Marie Curie ngạo nghễ nằm chiếm cả một góc đường với những cô học sinh ‘trường đầm’ nhí nhảnh, sinh động. Gần đó chễm chệ một toà nhà khá lớn dùng làm trụ sở cho một thư viện có tên là thư viện Abraham Lincoln. Trước đây thư viện này nằm ở khu trung tâm Sài Gòn, Toàn cũng có đến vài lần nhưng anh thấy không thích vì phải đạp xe khá xa và phải gởi xe một cách khó khăn. Đến khi nó được dời về đường Lê Quí Đôn để tránh những cuộc đặt bom của đặc công Cộng Sản thì thư viện này là nơi mà Toàn thường lui tới nhiều nhất vào những lúc cần có sự yên lặng để ôn tập bài vở. Một không gian yên tĩnh, một không khí mát mẻ nhờ vào hệ thống máy điều hoà nhiệt độ tối tân của một cơ sở văn hoá Mỹ giúp anh tránh được bao nhiêu khó chịu trong căn gác hẹp, nơi anh vừa ngồi học lại vửa phải phe phẩy chiếc quạt bằng nan cho mát và cũng để xua đuổi ruổi muỗi cứ vo ve quanh mình!

Toàn cẩn thận khoá xe vào vòng sắt trong khu để xe trước cổng ngoài rồi đi vào toà nhà bên trong, mở cửa thư viện bước vào. Một làn gió mát lạnh thổi nhẹ vào mặt, vào người, khiến Toàn thấy như vừa trút bỏ đi bao nhiêu nhọc mệt của thời tiết nóng bức của Sài Gòn. Trời đã bắt đầu vào thu nhưng không khí vẫn còn oi bức, có lẽ đây chính là đặc điểm của một thành phố lớn ở vùng nhiệt đới. Quen sống ở miền quê thoáng mát nên khi mới lên đến Sài Gòn, Toàn rất khó chịu vì sự ngột ngạt của thành phố. Sau ba năm sinh sống, rồi anh cũng phải quen dần.

Toàn liếc nhìn về phía chiếc bàn quen thuộc mà anh vẫn thường ngồi ở nơi góc phòng, giữa hai giá sách. Đã có người chiếm chổ! Đó là hai cô gái còn rất trẻ, và lại rất đẹp theo sự nhận xét đầu tiên của anh.

Hình ảnh của một trong hai cô gái đập vào mắt anh ngay tức khắc, cô bé có dáng cao và hơi gầy, mái tóc đen mượt, dài buông xoả xuống ngang lưng, rẻ đường ngôi lệch về bên trái. Cô ngồi bên trong góc phòng, mặt xoay ra ngoài nên anh nhìn rất rõ một khuôn mặt thon nhỏ, da trắng hơi xanh thoa một ít phấn hồng, làn môi vừa phải, không dày cũng không quá mỏng có tô một ít son màu hồng nhạt. Cặp kính trắng có gọng vàng rất mảnh che một phần đôi mắt to đen với đôi mi dài và cong rất đẹp. Cánh mũi thon và thẳng. Cả gương mặt cô gần như không một chút gì dư thừa hay khiếm khuyết khiến nhan sắc cô trở nên khá hoàn hảo. Cô gái đang chăm chú đọc một quyển sách gì đó đặt trước mặt, thỉnh thoảng ngước nhìn về phía cửa thư viện như chờ đợi một người nào. Cô mặc một chiếc váy dài ngang gối màu xanh nhạt và chiếc áo thun tròng đầu màu đỏ huyết dụ hơi rộng để bỏ ra bên ngoài, trên ngực áo có gắn phù hiệu của trường Marie Curie.

Một cô gái khác ngồi cạnh bên lại có một hình ảnh rất trái ngược. Đó là một cô bé khoảng mười lăm hay mười sáu tuổi vì trông rất trẻ từ dáng dấp đến cách phục sức. Cô bé có khuôn mặt hơi bầu bĩnh với nụ cười thường nở trên môi khoe chiếc răng khểnh và đôi má lúm đồng tiền. Làn da hồng hào tràn đầy nhựa sống. Không một chút trang điểm nhưng khuôn mặt lại rất linh động. Tóc uốn dợn sóng cắt ngắn ngang vai nhưng không để xoả ra mà lại cột thành hai chùm ở hai bên phía sau đầu. Phía trước lại bỏ buông lơi một chùm tóc ngắn kéo về phía bên phải khiến khuôn mặt trông đã trẻ con lại càng trẻ con nhiều hơn. Bộ đồng phục của cô bé hoàn toàn phản ảnh một cô học sinh ‘trường đầm’: áo sơ mi trắng có cầu vai bỏ vào trong một chiếc váy có xếp nếp màu xanh dương đậm với hai quai quàng qua vai. Chân mang đôi giày vải trắng với đôi vớ cũng trắng lên gần tới gối. Ngực áo phía bên trái cũng mang phù hiệu của trường Marie Curie.

Có lẽ đây là hai chị em chứ không phải bạn bè, Toàn đoán thầm khi nhìn vào khoảng cách về tuổi tác của hai cô gái mặc dù cả hai không thể hiện được một điểm tương đồng nào cả. Toàn đến đây khá thường xuyên nhưng chưa hề gặp ai trong hai cô gái này. Họ còn quá trẻ sao không đùa nghịch với các bạn bè ngoài kia mà lại chịu vào ngồi ở một nơi vắng vẻ như thế này, lại chọn vào ngồi ở một góc phòng vắng nhất của thư viện. Toàn thoáng có suy nghĩ như vậy rồi đến một bàn khác gần đó để bắt đầu xem bài vở chuẩn bị cho giờ học buổi chiều. Để tránh bị hai cô gái chi phối việc tập trung vào bài vở, Toàn chọn chiếc ghế ngồi xoay lưng về phía họ. Tuy nhiên anh vẫn không thể nào không nhớ đến dáng dấp của cô bé tóc dài đang ngồi phía sau lưng anh. Toàn không ngờ trên đời có thể có một cô gái có nhan sắc khiến có thể mê hoặc lòng người đến như vậy!

Là một thanh niên ‘nhà quê lên tỉnh’ để tìm chút công danh, Toàn không bao giờ dám tơ tưởng đến các cô gái của xứ Sài Thành hoa lệ! Không phải anh chưa hề gặp một cô gái đẹp nào, nhưng anh tự biết thân phận mình bởi khi nhìn các bạn bè xung quanh anh thấy anh không thể chen chân được với họ. Trong lớp học cũng như ngoài xã hội, bao giờ anh cũng sống một cách lặng lẽ cố gắng thu mình lại để làm việc và học hành. Nhưng không hiểu tại sao cái sắc đẹp có thể nói là liêu trai của cô gái đang ngồi sau lưng anh khiến anh không thể không chú ý. Và rồi dù cho cố gắng dán mắt vào quyển tập trước mắt, anh cũng không thể nhận ra được một chử nào.

Bỗng anh nghe tiếng kéo ghế nhẹ nhàng ở bàn phía sau. Toàn biết hai cô gái đang rời thư viện, nhưng anh không dám quay lại nhìn. Anh liếc vội về phía cửa thư viện và thấy hai cô gái đang đi về phía ấy. Cô ‘chị’, anh đoán như vậy, đi một cách thướt tha còn cô ‘em’ thì vừa bước hai ba bước vừa ‘nhảy cò cò’ trông thật ngộ nghĩnh! Anh mĩm cười xoay mình về phía chiếc bàn hai cô vửa bỏ đi, định sẽ dời về phía chiếc bàn quen thuộc đó của anh, bỗng anh chợt nhìn thấy một quyển tập nằm trên sàn nhà, phía dưới bàn. Không cần suy nghĩ, anh chạy vội đến nhặt quyển vở lên và nhận ra trên bìa có viết tên “Nguyễn Cécile”.

Toàn chạy nhanh về phía cổng thư viện chỉ kịp trông thấy một chiếc xe hơi màu đen khá lớn vừa rề đến bên lề đường. Cô ‘em’ mở cửa xe bước vào trước trong khi cô ‘chị’ vẫn còn đứng bên ngoài. Anh gọi to, “Cô Cécile!”và anh bỗng thấy hơi ngượng vì thái độ quá đường đột của mình, anh vẫn chưa biết cô nào tên là ‘Cécile’.

Cô ‘chị’ quay lại nhìn anh ngơ ngác hỏi, “Ủa, sao anh biết tên tôi?”

Toàn thanh minh một cách ngượng ngùng, “À, xin lỗi cô tôi không biết tên cô, tôi nhặt được quyển tập này rớt phía dưới bàn hai cô ngồi, đoán là của một trong hai cô. Thấy có ghi tên Cécile nên tôi gọi để trả lại.”

Cô gái lúng túng, “Xin lỗi anh, tôi vô ý quá. Cám ơn anh nhiều lắm!” Nói xong cô gái đưa tay nhận lấy quyển tập rồi lí nhí tiếp lời, “Xin lỗi anh, tôi phải về kẻo chú tài xế đợi. Hôm khác sẽ gặp anh sau.”

Không đợi Toàn trả lời, cô gái khom người bước vào trong đóng cửa xe lại rồi xoay qua đưa tay vẫy chào anh. Toàn nhìn vào xe gật đầu chào và liếc nhìn về phía người tài xế. Anh ta mặc một bộ đồng phục màu trắng, đầu đội nón kết cũng màu trắng trông giống như người gác dan đứng trước cửa các nhà hàng hay khách sạn sang trọng. Toàn thầm nghĩ, không ngờ gia đình hai cô bé này giàu quá!

Chiếc xe đen bóng đã chạy về phía xa, anh quay lại lững thững trở vào thư viện như một người mộng du. Mùi hương thiếu nữ của cô gái có tên Cécile như còn phảng phất đâu đây. Anh không phân biệt được đó là mùi của phấn son, của nước hoa hay chính là mùi hương của người con gái, anh không đủ kinh nghiệm để nhận ra, mà cũng không cần thiết phải phân biệt những điều ấy, chỉ biết rằng nó không thể rời xa anh được nữa, nó như đang quyện lấy anh. Anh nhớ đến cái chạm tay nhẹ nhàng của cô bé khi đưa tay cầm lấy quyển vở từ tay anh đã khiến anh phải rùng mình. Tại sao lại có thể có người con gái đẹp đến như thế? Ý nghĩ ấy bỗng nhiên trở lại với Toàn khiến anh cảm thấy như bay bổng. Tim anh bỗng dưng đập mạnh.

Là một thanh niên sinh ra và lớn lên từ ruộng đồng, cái lốt ‘nhà quê’ vẫn chưa gột rửa khỏi con người dù anh ở Sài Gòn đã tròn ba năm, dù rằng những vết nứt nẻ dưới bàn chân anh đã lặn mất, dù rằng làn da anh không còn mốc thếch như xưa. Vâng, anh chỉ là một thằng ‘nhà quê’. Lại còn là một đứa con trai nghèo. Cố gắng lắm anh mới lên được đến thủ đô để theo học bậc đại học, cố gắng lắm anh mới kiếm đủ tiền để ăn để ở và để không bỏ dở việc học nữa chừng. Chưa bao giờ anh dám mơ tưởng đến một cô gái nào ở cái xứ Sài Gòn hoa lệ này chứ đừng nói gì đến một cô gái vừa đẹp lại vừa ‘đài các’ như cô bé Cécile. Thế mà không biết tại sao hôm nay anh lại…

Toàn nhớ đến mục tiêu trước mắt của anh khi quyết định lên Sài Gòn. Nhớ đến gia đình anh phải thiếu vắng một bàn tay lo việc đồng áng như anh, một nguồn thu nhập chính của gia đình. Anh cần quyết tâm dồn hết mọi nỗ lực để hoàn tất việc học của anh ngõ hầu giúp cho mẹ anh thoát khỏi cuộc sống tối tăm nơi đồng ruộng, giúp các em anh đỡ phần nào cực nhọc, và giúp cho anh có được một chút tương lai. Không phải anh chưa hề găp một cô gái nào ở nơi thành đô này, không phải anh chưa hề quen một cô gái nào. Nhưng chưa lần nào anh thấy xúc động vì một cô gái. Cũng không phải do con tim anh chai cứng mà chính vì anh hiểu hoàn cảnh của mình. Bạn bè xung quanh anh đi học với xe gắn máy, xe Vespa, Lambretta đủ thứ, còn anh chỉ có một chiếc xe đạp ‘cà tàng’. Quần áo thì chỉ có hai bộ coi tạm được để mặc ra đường, ở nhà thì chỉ xoay trần với quần đùi. Tiền ăn uống qua loa để sống qua ngày còn chưa đủ thì lấy gì mà đưa ‘các em’ vào uống nước ở các tiệm sang trọng như ‘Givral’, ‘Brodard’, hay ‘Pôle Nord’, hoặc đưa các em vào xem phim ở những rạp chớp bóng nổi tiếng như ‘Rex’ hay ‘Eden’, những nơi mà anh chỉ có nghe nói tới chứ chưa hề dám bước chân vào!

Toàn đã vào trong thư viện, ngồi vào chiếc bàn nơi mà chị em cô bé Cécile đã ngồi, quyển tập đã mở ra trước mặt, nhưng đôi mắt anh vẫn còn ngóng nhìn ra đường mặc dù chiếc xe to lớn màu đen bóng đã khuất xa rồi. Hình ảnh cô bé có tên Cécile vẫn cứ lởn vởn trong đầu anh. Bỗng nhiên từ miệng anh dường như đang bật ra một câu Kiều nghe rất ‘sến’.

Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay chăng?

Anh bỗng tự bật cười cho chính mình, “Rõ là lẫm cẫm!”

Tự cười mình xong thấy bình an hơn, anh bèn cúi xuống xem lại những gì mà chiều hôm nay anh phải làm ở trong lớp rồi xếp tập sách vào sửa soạn ra khỏi thư viện.

Đạp xe ngang qua một xe bán bánh mì ở đầu đường Trần Quí Cáp, Toàn ghé vào mua một ổ bánh mì thịt rồi đi vào trường ngồi bên hành lang ‘gặm cơm tay cầm’ chờ đến giờ học.

Những cây phượng vĩ trước cửa lớp không còn một bông hoa, trái của cây phượng màu xanh lục giống như những tấm thẻ bằng ngọc thạch thong thả đong đưa trên cành xen lẫn với lá non nhỏ li ti trông rất đẹp mắt. Những con chim sẻ gọi nhau chíu chít chuyền từ cành này sang cành kia một cách rất vô tư. Sân trường phía trước phòng học rất vắng vẻ dường như đã xua đi hết cái oi bức ngột ngạt của thành phố. Một vài chiếc xe đạp, xe gắn máy và xe hơi đậu rải rác trong sân, phía trước các phòng học.

Sinh viên học buổi chiều khá thưa thớt vì đa số các lớp vào buổi chiều là những lớp của các chứng chỉ chuyên khoa. Các giảng đường 1 và 2 đều đóng cửa im lìm vì hầu hết các lớp dự bị thường mở vào buổi sáng. Toàn ngồi dựa lưng vào chiếc cột to trước phòng học vừa ăn bánh mì vừa nhìn mông lung. Hình ảnh của cô bé Cécile vẫn còn chập chờn trong đầu cho dù bao lần anh cố xua đuổi! Toàn biết anh quá mơ mộng viển vông nhưng biết làm sao hơn khi bổng nhiên một hình ảnh đến với anhnhư tự trên trời rơi xuống. Một bức tranh hoặc một bức tượng tuyệt mỹ, một bản nhạc hay có thể len vào lòng người, tất cả những cái đẹp ấy có thể đã được tạo ra để cho con người chiêm ngưỡng thì có gì là sai nếu mình chiêm ngưỡng một người con gái có một nhan sắc mà mình cho là tuyệt vời? Chiêm ngưỡng không có nghĩa là phải chiếm hữu. Toàn tự bào chữa lấy mình và mĩm cười bằng lòng với ý nghĩ ấy.

Đang ngồi vừa ăn vừa suy nghĩ mông lung bổng nghe tiếng còi xe ở sát bên cạnh. Toàn giật mình quay lại nhìn thấy một chiếc xe Peugeot 404 màu trắng đã đậu sát bên bậc thềm ngay sau lưng anh từ lâu. Không nhận ngay ra được người lái xe đang ngồi bên trong vì ánh sáng chói vào kính xe, anh định thần nhìn kỹ mới biết đó là Bích Ty. Toàn vừa ngạc nhiên vừa hơi xấu hổ định dấu khúc bánh mì đang ăn dở nhưng không kịp nữa. Ồ, hôm nay cô nàng Bích Ty này lại lên ‘xế hộp’ rồi! Chưa kịp mở lời thì Bích Ty đã lên tiếng, “Anh Toàn, sao đến sớm thế?”

“Ty cũng đến sớm mà, phải không?” Toàn đáp lời bằng cách hỏi lại Bích Ty.

Không trả lời anh, Bích Ty mở cửa xe bước xuống đến bên Toàn rồi nói, “À, thì sẳn đi mua một ít đồ dùng cho năm học mới xong tôi ghé đây luôn. Ủa, anh không về nhà ăn cơm sao mà lại ngồi đây ‘gặm cơm tay cầm’ thế này?”

Toàn dở khóc dở cười cho cái tính tự nhiên này của cô bạn học.

Bích Ty không đẹp, tất nhiên rồi bởi vì ít có cô gái đẹp nào lại chọn một môn học vừa khô khan vừa nhàm chán như cái môn hoá học này. Nữ sinh viên trong trường Đại Học Khoa Học thì chỉ có thể tìm thấy một vài cô tương đối có nhan sắc ở ban Sinh Vật mà thôi! Còn nếu muốn ngắm nhìn các nữ sinh viên có sắc đẹp kha khá thì xin mời đến các trường Đại Học Văn Khoa hay Đại Học Luật Khoa, đó là ý nghĩ của hầu hết các sinh viên hiện nay! Tuy nhiên Bích Ty có một dáng dấp rất đài các. Khuôn mặt hơi bầu bĩnh với hai lúm đồng tiền bên khoé miệng trông rất có duyên. Tính tình Bích Ty lại rất tự nhiên, có lẽ do cô xuất thân từ trường ‘đầm’. Cô đã từng là học sinh của trường Trung Học Yersin ở Đà Lạt. Bích Ty học sau anh một năm, thỉnh thoảng mới học chung một lớp. Là cô con gái nhà giàu nhưng Bích Ty lại rất hoà đồng với tất cả bạn bè. Thỉnh thoảng cô cũng đi cùng với các bạn vào ăn mì vĩa hè ở La Cai, Ngã Sáu Chợ Lớn, và cũng không ngần ngại móc tiền túi ra chi trả cho bạn bè, trong đó có cả Toàn. Tính tình Bích Ty rất tự nhiên. Dù là con gái ‘Bắc Kỳ’ nhưng cô không điệu đàng như nhiều cô khác. Giọng nói Hà Nội pha lẫn với giọng Sài Gòn nghe rất dễ thương. Bích Ty từng ‘khoe’ với Toàn rằng ba của cô ta là một nhà ngoại giao trong chính phủ Sài Gòn nên có thể sau khi tốt nghiệp đại học cô sẽ sang Pháp học tiếp. Điều ấy đối với Bích Ty anh thấy sẽ quá dễ dàng bởi vì gia đình của cô ta vừa giàu có vừa thế lực, thêm vào đó cô lại có nhiều điều kiên thuận lợi, tiếng Pháp của cô rất trôi chảy. Mặc dù không xuất sắc lắm nhưng Bích Ty vừa chăm học lại vừa khá thông minh nên có lẽ tương lai cô sẽ rạng rỡ.

Toàn không buồn mà cũng không thấy mặc cảm với Bích Ty. Là một thanh niên trong thời binh lửa mà còn được mài đủng quần ở nhà trường vào lứa tuổi hai mươi hai cũng đã là một sự may mắn lắm rồi. Bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa, bao nhiêu bạn bè của anh đang chiến đấu ngoài chiến trường hoặc đã gục ngã cho cả bên này lẫn bên kia.

“Anh đã mua cour của thầy Sơn chưa?” Ty cắt ngang dòng suy nghĩ của Toàn.

“Chưa, còn Ty?”

“Cũng chưa anh à, mà hôm nay mới là buổi học thứ hai, chắc lát nữa Ty sẽ đóng tiền luôn.”

Hôm nay đã gần cuối tháng, trong túi Toàn chỉ còn mấy chục đồng đủ để ăn cho tới lúc lãnh tiền nên chắc anh phải đợi cho đến khi lãnh lương.

Nhìn thấy vẻ lúng túng của anh, Ty chợt hiểu ra bèn lên tiếng, “À, nếu anh ‘kẹt’ thì lát nữa Ty sẽ đóng tiền luôn cho phần của anh, khi nào có thì anh trả lại cho Ty, được không?”

Sự tự nhiên của Ty khiến anh bất ngờ. Từ chối thì phụ lòng bạn mà nhận lời thì kỳ quá. Suy nghĩ một giây, anh nói, “OK, vậy cũng được, cảm ơn Ty rất nhiều. Hôm nào lãnh lương mình sẽ hoàn lại cho Ty.”

Toàn rất cảm động trước sự chân thành của Bích Ty. Anh không rõ ba của Ty là một nhân vật như thế nào mà lại đặt cho con gái mình một cái tên rất lạ và cũng rất hay như vậy. Bích Ty – Sợi tơ xanh. Anh nhớ lại bài thơ Đường mà có lúc nào đó anh đã đọc được: “Yên thảo như bích ty. Tần tang đê lục chi. Đương quân hoài quy nhật. Thị thiếp đoạn trường thì.” (Xin tạm dịch: Cỏ của nước Yên giống như sợi tơ xanh. Cành dâu ở nước Tần bị cúi rạp xuống. Trong lúc chàng mơ đến ngày về. Là lúc mà thiếp cũng đứt từng đoạn ruột.)

Bài thơ nói về sự tích của tráng sĩ Kinh Kha từ giả Yên Kinh để sang Tần với mục đích hành thích Tần Thuỷ Hoàng chẳng may bị bắt; ngoài ra cũng đề cập đến nỗi nhớ thương mong ngóng của vợ chồng khi phải cách biệt nhau.

Sinh viên lục tục kéo nhau vào lớp. Toàn và Bích Ty cũng ngưng câu chuyện, bước vào lớp học ngồi chờ thầy Chu Phạm Ngọc Sơn. Lớp học chỉ có mười bảy sinh viên. Sở dỉ ít sinh viên như vậy bởi vì ai muốn ghi danh học lớp này thì phải đậu chứng chỉ Hoá Lý 1. Trong lớp chỉ có Bích Ty là sinh viên nữ duy nhất.

Khi thầy Sơn vào chưa được bao lâu thì có một nhóm sinh viên trong Ban Tổ Chức Bầu Cử Ban Đại Diện Sinh Viên Khoa Học vào yêu cầu thầy cho phép để cử hành việc bầu Ban Đại Diện của Chứng Chỉ.

Thời gian này là lúc mà các phong trào sinh viên của Viện Đại Học Sài Gòn đang biểu tình rầm rộ đòi hỏi hoà bình cho Việt Nam nên các Ban Đại Diện Sinh Viên rất được các đoàn thể chính trị và các thế lực thù địch chú ý. Tuy nhiên đối với đa số các sinh viên chỉ biết lo học hành thì không ai để ý tới các hoạt động này. Mặc dù các bích chương tranh cử dán đầy vách tường trong trường nhưng Toàn cũng như các bạn chẳng ai buồn đọc tới hay tìm hiểu. Những cái tên như Phạm Hào Quang, Đoàn Kỉnh, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Công Hoan, vân vân, chỉ nghe qua mà thôi chứ ít ai biết chúng thuộc các phe nhóm nào, chẳng ai biết chúng học ở ban nào hay chứng chỉ nào. Theo ý các sinh viên bình thường thì Ban Đại Diện Sinh Viên cũng chẳng làm được việc gì giúp đỡ cho sinh viên mà chỉ làm rối thêm lên tình hình học hành của sinh viên mà thôi. Chính thái độ thiếu ‘chính trị’ này của đa số sinh viên đã giúp cho các tổ chức phá hoại và cả những tổ chức của Cộng Sản dễ dàng trà trộn vào lợi dụng tập thể sinh viên để phá rối trật tự của thủ đô.

Theo thể thức bầu Ban Đại Diện Sinh Viên thì chỉ có các đại diện của chứng chỉ, hoặc của lớp bầu cho Ban Đại Diện của trường rồi sau đó là Chủ Tịch của trường bầu cho Tổng Hội Sinh Viên của Viện Đại Học. Nghĩa là các cuộc bầu cử đều là gián tiếp chứ không trực tiếp. Sinh viên không được trực tiếp đi bầu mà chỉ có đại diện thay mặt mà thôi. Phương pháp này giúp các thế lực dễ dàng tạo áp lực để khuynh đảo các lực lượng sinh viên. Đây là một kiểu ‘dân chủ nữa vời’.

Lớp học của Toàn cũng không ngoại lệ. Thấy chẳng ai muốn ra ứng cử vào chức vụ ‘Đại Diện’ của chứng chỉ nên thầy Sơn bèn yêu cầu anh Viện, một sinh viên lớn tuổi nhất trong lớp nhận lấy nhiệm vụ vì thầy cần phải có người để thay mặt lo quay ‘cour’ cho anh em trong lớp. Thật ra nếu ở các lớp có số sinh viên đông như các lớp dự bị thì việc quay ‘cour’ còn có chút ít lợi nhuận chứ làm việc ấy cho một lớp chỉ có mười bảy sinh viên thì quả là một sự hy sinh vì chẳng những không được gì mà còn tốn thời giờ!

Cũng chính thái độ thờ ơ và thiếu ý thức chính trị này mà các phe nhóm nhất là các tổ chức của Cộng Sản dễ dàng lũng đoạn hàng ngũ sinh viên. Rất nhiều lớp không có ai chịu đứng ra ứng cử, điều nàygiúp cho các sinh viên thân Cộng nắm lấy cơ hội trở thành những Đại Diện của Chứng Chỉ, rồi từ đó nắm lấy Ban Đại Diện Phân Khoa và tiến lên nắm lấy Ban Đại Diện của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn.

Toàn đã từng sống trong vùng xôi đậu ở miền Hậu Giang, và chính gia đình anh cũng là một nạn nhân của Cộng Sản nên anh ý thức được các hoạt động khủng bố của tổ chức này. Tuy nhiên, trước thái độ thờ ơ của đa số sinh viên anh không biết làm gì hơn là phải chìm vào đám đông để thực hiện những điều mà anh đã hứa với gia đình anh khi họ phải hy sinh để anh có được cơ hội thăng tiến. Và vô tình chính anh cũng lại là một người thờ ơ trước sự an nguy của đất nước giống như phần đông những sinh viên khác.

—->Chương 2

This entry was posted in KALE, KALE, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s