MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT DÒNG SÔNG ( Kale): 11-20

Chương 20

Bao nhiêu lo lắng mong chờ rồi cũng đến lúc Hà nhận được bức thư của Văn gởi về cho biết nơi anh đang ở. Trong thư Văn viết rằng anh hiện đang học tập tại “Trại Cải Tạo Long Thành”, cách Sài Gòn khoảng sáu mươi cây số, và anh còn cho biết trại có ‘chủ trương’ cho phép thân nhân lên ‘thăm nuôi’, nghĩa là được phép gặp mặt và tặng quà! Anh liệt kê một danh sách rất dài các món mà anh đang ‘rất cần’ khiến Hà vô cùng lo lắng. Trong hoàn cảnh của đất nước hiện nay, những món trong danh sách ấy quả là những thứ gần như là ‘xa xỉ’ vì rất khó tìm thấy mặc dù đối với ngày trước thì đó chỉ là những món thông thường có thể mua ở bất cứ nơi đâu. Hà vẫn nhớ ngày ra đi, cô gói ghém cho anh bao nhiêu thứ thế mà anh đã tỏ ra khó chịu vì phải mang xách nặng nề, vậy mà hơn một năm ở trong trại anh lại đòi hỏi nhiều như thế này! Tuy nghĩ như vậy nhưng cô cũng nhờ dì Nga và chị Tám phụ cô mua sắm hầu như đầy đủ các món mà anh cần.

Sáng hôm sau, Hà về Sài Gòn gặp ba má của Văn để cho ông bà biết về bức thư.

Ông bà Lý, ba má của Văn đã trên sáu mươi. Bà vẫn còn khoẻ nhưng ông trông đã hơi yếu. Khi nghe Hà nói tới việc thăm nuôi Văn, ông bà nhất định sẽ đi cùng con dâu để được gặp mặt đứa con trai duy nhất của hai người. Bà nói ngay, “Cũng đã hơn một năm rồi, ba má lo cho nó không biết bây giờ ra sao. Vã lại ba má cũng lớn tuổi rồi, không biết có còn gặp nó lần nữa hay không nên kỳ này dù sao ba má cũng cố gắng đi thăm nó một lần.”

Hà nói như trấn an mẹ chồng, “Hai năm nữa anh ấy về rồi, lúc đó ba má vẫn còn khoẻ mà!”

Ông mĩm cười, “Ba cũng hy vọng như vậy, nhưng làm sao biết được hả con? Họ nói ba năm nhưng rồi có chắc như vậy hay không?”

Hà vẫn nhớ lời ba cô nói về cái chính quyền Cộng Sản này nên cô chỉ gật đầu, không đáp lời ông Lý. Cô nghĩ nếu có ba má Văn đi theo sẽ tiện cho cô hơn vì cô còn có thể mang theo bé Vi. Trong thơ Văn cứ nhắc đi nhắc lại về việc mang theo đứa con gái để anh được gặp mặt. Hà đáp lời ba mẹ chồng, “Dạ, thì con chỉ nói vậy thôi, nhất định là ba má cũng phải đi với con và cháu Vi chứ.” Rồi Hà nói tiếp không cần suy nghĩ, “Tới hôm đó chắc ba má phải đi xe đò lên nhà dì Nga con trước vì ở đó gần với Long Thành hơn.”

Ông Lý gật đầu đồng ý ngay, “Phải như vậy rồi, con còn phải mang xách quà cáp cho nó nữa thì làm sao đi ngược xuống đây được. À, con có cần gì không để ba má mua sắm phụ?”

Hà đáp lời, “Dạ, ba má không phải lo gì hết. Con đã nhờ chị Tám và dì Nga của con lo giúp rồi.” Thấy câu nói của mình có thể làm cho ba má Văn không hài lòng, Hà nói tiếp, “Ngày đi thăm, xin ba má lo dùm cháu Vi, anh Văn cứ đòi phải mang cháu đi mà một mình con chắc con không thể lo nỗi!”

Ông Lý đáp ngay, “Ừ, như vậy cũng tiện, ba sẽ lo bế cháu ngoại để con và má con còn phải khiêng đồ đạc nữa. Mà con mua có nhiều không?”

“Dạ cũng hơi nhiều, anh Văn trong đó thiếu thốn đủ thứ. Vì vậy mà con phải nhờ cả dì Nga lẫn chị Tám mua giúp chứ một mình con làm sao tìm mua cho đủ. Ba má cũng biết bây giờ mua sắm thường là ở chợ trời chứ các cửa hàng làm gì có hàng!” Hà đáp một hơi dài.

Bà Lý lắc đầu, “Tội cho con quá, từ nhỏ tới lớn có bao giờ lâm vào cảnh ngộ như thế này đâu!”

Hà mĩm cười, “Thì bây giờ ai cũng phải như vậy chứ đâu phải có mình con đâu phải không má?” Rồi như thấy cuộc gặp gỡ cũng đã đủ, Hà xin phép kiếu từ ra về.

Vi đã hơn hai tuổi, càng lớn càng giống mẹ, miệng lúc nào cũng líu lo, nhìn thấy cái gì cũng tò mò hỏi. Cô bé trông thấy mẹ và bà gói từng gói đồ đạc cứ chạy tới chạy lui, chen lấn vào, tay hết cầm món này đến món khác hỏi xin mẹ. Nghe mẹ nói mua đem lên cho ba, nó hỏi, “Ba ở đâu?”

“Ba đi học tập.” Hà vừa cười vừa đáp lời con.

“Học tập hả?” Cô bé hỏi một cách ngây ngô.

Hà ôm con vào lòng âu yếm, “Bé Vi có nhớ ba không? Có đi thăm ba không?”

“Không!” Cô bé đáp một cách gọn lỏn.

Hà ngạc nhiên hỏi, “Sao vậy, Vi không nhớ ba sao?”

Vi nói, “Vi ở nhà với bà!” Nói rồi nó chạy đến ôm chầm lấy dì Nga. Cả nhà đều cười xòa. Dì Nga thích thú nói, “Nó có biết ba là ai đâu mà bảo đi thăm?”

“Anh Văn viết thư cứ nhắc phải mang con bé lên cho anh ấy gặp mặt. Chắc anh ấy nhớ con bé lắm!” Hà trả lời dì.

“Thì cũng phải thôi; cha già con mọn mà!” Dì Nga kết luận.

Nghe dì Nga nói Hà cảm thấy như có một nỗi buồn dâng lên trong lòng mình. Lúc lấy chồng Hà mới hai mươi, chưa hết đau buồn về việc chia tay với Toàn. Cô không suy nghĩ gì về việc mình phải lấy một người mà cô không hề yêu, cũng chẳng có một tình cảm nào, cô chỉ lấy Văn cốt để làm vừa lòng ba mẹ. Giờ đây thì cô đã biết, lúc ấy cô vẫn còn ở tuổi thanh xuân trong khi Văn đã gần tới tuổi bốn mươi. Hơn một năm ở trong trại, không biết anh ấy ra thế nào? Chắc là phải già hơn nhiều!

Hà tự nhiên cảm thấy đời người sao giống như một giấc mộng. Mới ngày nào còn vui vẻ bên gia đình, còn đùa giỡn với Toàn mà giờ đây cô đã vừa phải nuôi con vừa phải lo cho chồng và cha đang ở trong trại không biết ngày về. Về được rồi họ sẽ làm gì đây trong cái xã hội rất xô bồ này?

Còn anh Toàn nữa, không biết anh còn hay mất. Tội cho anh ấy quá, cuộc đời nghèo khổ từ bé, khi vừa vươn lên chưa được bao lâu lại gặp hoàn cảnh đất nước ngã nghiêng, chẳng lẽ anh phải chết sớm như vậy hay sao?

Tiếng dì Nga làm Hà giật mình thức tỉnh cơn mơ, “Cháu xem lại lần nữa coi có đủ các món mà nó cần không?”

“Dạ, để cháu xem lại.” Rồi Hà cầm tờ giấy liệt kê ngồi soát lại từng món.

Dì Nga hỏi, “Ngày mai ba mẹ cậu Văn đến đây lúc mấy giờ?”

“Dạ, ba mẹ con bên đó nói sẽ đến sớm. Từ đây lên Long Thành cũng gần phải không dì?”

“Ở đây cũng nữa đường kể từ Sài Gòn rồi; ba mẹ cậu Văn cũng già rồi mà còn phải khổ vì con!”

“Cũng may ông ấy lớn tuổi nếu không chắc cũng bị như ba con.” Hà nói.

Dì Nga cười, “Làm sao như ba con được. Ông ấy chỉ là một tiểu thương còn ba con là một nhà tư sản, ba con thuộc lớp người mà tụi Việt Cộng thù ghét nhất.”

Hà ngạc nhiên hỏi dì, “Vậy sao ba mẹ anh Văn cũng bị tịch thâu tài sản?”

“Tất nhiên rồi, chúng chỉ tha không bắt đi học tập là may lắm rồi, và còn giữ được căn nhà nữa chứ nếu không thì cũng khó lòng.”

Hà nói, “Không phải vậy đâu, con nghe nói nhà là do mẹ anh Văn đứng tên nên họ mới tha đó.”

Dì Nga cãi lại, “Theo dì thấy thì đó không phải là lý do chính mà chính vì căn nhà đó cũng nhỏ và ở trong hẻm nên chúng mới không đụng tới. Chúng đã tịch thâu cửa hàng là đủ rồi, bao nhiêu của cải của ông bà đều nằm trong cửa hàng đó.”

Ngừng một lát bà Nga tiếp, “Chỉ có ba con là khôn, anh ấy tính trước một nước cờ nên đã chuyển hầu như toàn bộ tài sản sang Pháp. Chỉ tội là anh không kịp thoát để bị bắt đi học tập!”

“Con cũng không ngờ ba con còn tính cả đến việc cho con sang đây ở với dì nữa.” Hà thêm vào.

Dì Nga giải thích, “Căn nhà này là do ba mẹ con xây tặng cho dì lâu rồi. Chú con là lính thì làm gì có tiền mà cất được một căn nhà như thế này! Phòng con đang ở trước là phòng học cho con Nguyệt, có khi làm phòng ngủ cho khách. Dì cũng không hiểu sao tự nhiên ba con kêu thợ đến sửa sang lại, xong rồi anh ấy mới nói với dì rằng nếu có chuyện gì đó xảy ra cho ông thì dì để dành phòng đó cho con. Dì lo cho anh ấy lắm, không ngờ việc không may rồi cũng đến.”

“Con cũng ngạc nhiên lắm, nhưng từ nhỏ đến giờ mọi việc trong nhà con đều do ba con xếp đặt nên ba bảo sao con nghe vậy.”

Dì Nga tiếp lời, “Đến khi dì nghe tin ba con bị bắt và nhà bị tịch thu dì mới tin là ba con đã dự đoán trước hết mọi việc.” Bỗng nhiên bà Nga hỏi Hà, “Tại sao hồi đó con không đi với mẹ con?”

“Dạ, ba con có nói nhưng anh Văn không cho con đi.” Hà buồn bã trả lời.

“Chồng con làm sao nhìn xa bằng ba con được. Thôi, chắc đây cũng là do phần số của con phải chịu!” Bà Nga nói như an ủi Hà.

Giọng Hà nghe buồn buồn, “Không biết ở trong trại cải tạo, ba con có biết chú Quyết của con lấy nhà không?”

“Ai lấy cũng thế thôi con à. Ngày di cư vào Nam, gia đình của dì và của mẹ con cũng phải bỏ lại hết, ba con cũng vậy. Không ngờ nay lại bị một lần nữa.” Bà Nga nói như than thở. Rồi bà nhỏ nhẹ nói với Hà, “Thôi, con đi ngủ đi, mai còn phải đi sớm.”

Chiếc xe đò đầy nghẹt người và hàng hóa lọc cọc bò lên sườn đồi rồi dừng lại ở cổng trại. Người đi thăm nuôi đứng đông đúc vây quanh một căn nhà lá nhỏ trông dường như mới được xây dựng lên. Căn nhà dài khoảng tám thước, ngang bốn thước; phía trước có cánh cửa rộng, hai bên là một dãy cửa sổ. Nhà vách lá và mái cũng lợp lá. Trước sân nhà đặt một cái bàn phía trước có dán tờ giấy ghi dòng chử ‘Nơi Đăng Ký Thăm Gặp’. Ngồi sau bàn là một người thanh niên mặc sắc phục công an của Việt Cộng nhưng không đeo cấp bậc.

Mọi người trên xe lần lượt bước xuống. Anh lơ xe leo lên mui để chuyển các giỏ xách xuống cho từng người. Hà bước ra khỏi xe trước rồi giơ tay đỡ ba mẹ chồng ra. Bà Lý, mẹ của Văn xuống xe sau cùng, tay phải bồng bé Vi.

Ông Lý, ba của Văn bảo mọi người, “Bà và con Hà ở đây trông chừng mấy giỏ quà để tôi đến ghi tên!”

Nói rồi ông cầm giấy đi đến bàn làm việc của anh công an để sắp hàng chờ đợi.

Anh công an ngước mặt lên hỏi, “Cụ đi thăm ai, cho xem giấy báo.”

Ông Lý lí nhí nói, “Tôi thăm con tôi, đây là thư báo tin của nó.”

Anh công an hỏi tiếp, “Chỉ có mình cụ thôi à?”

“Dạ không, còn mẹ và vợ con nó đứng đàng kia để trông chừng đồ đạc.”

Anh công an viết tên vào danh sách xong ngước lên nói, “Được rồi, cả nhà đợi đó khi nào nghe gọi tên thì vào trong nhà này mà thăm gặp.”

Một hàng người từ trong trại được hướng dẩn đi ra cổng trại đối diện với nhà thăm nuôi rồi tiến thẳng vào nhà. Thân nhân đã được báo vào ngồi đợi trước ở bên trong.

Khoảng hai giờ sau, nghe gọi đến tên Văn, ông bà Lý và mẹ con Hà được cho vào ngồi đợi ở một bên của chiếc bàn lớn đặt giữa căn phòng. Khoảng mười người từ trong trại bước qua cổng tiến tới. Hà cố ngẩng lên nhìn nhưng chưa có thể nhận ra được chồng cho đến khi Văn vào đứng phía đối diện của chiếc bàn.

Văn da đen sậm, hai má hóp lại, tóc lốm đốm sợi bạc, râu lún phún như cạo không sạch. Anh mặc chiếc áo sơ mi trắng đã ngả vàng bỏ bên ngoài chiếc quần đen đã bạc thành màu nâu đỏ, tay xách mấy cái giỏ đệm, chân mang dép. Văn bước vào ngồi xuống bàn phía đối diện với ông bà Lý, mắt rớm lệ. Anh hỏi ba mẹ, “Thầy me có khỏe không?”

Ông bà Lý vẫn còn ngậm ngùi chưa nói được thì Hà đã chen vào, “Ba mẹ cũng bị tịch thu hết cửa hàng rồi, còn ba em thì đã bị bắt đi học tập giống như anh vậy, nhà thì bị chú Quyết từ ngoài Bắc vào chiếm luôn. Bây giờ em và bé Vi phải ở bên nhà dì Nga.” Cô kể lể một hồi.

Văn với tay qua bàn định nựng vào má bé Vi, cô bé bỗng khóc to lên quay lại ôm lấy Hà. Hà nói với con, “Ba con đó, qua đó với ba một chút đi.”

Cô bé lắc đầu quầy quậy rồi vùi mặt vào ngực Hà. Bà Lý nói, “Con đi lâu quá rồi, nó không còn nhớ con nữa đâu, lúc con đi nó còn bé quá.”

Ông Lý bây giờ mới lên tiếng, “Con ở trong đó làm việc cực khổ lắm sao mà gầy và đen thế?”

Văn ngó quanh như canh chừng mấy anh công an rồi nói, “Không đâu ba, cũng không cực lắm nhưng vì ở trên đồi cao nên nắng nóng lắm.”

Ông Lý nói tiếp, “Vợ con chuẩn bị đầy đủ các món con cần, đem vào mà ăn uống cho có sức khỏe.”

Bỗng anh công an ngồi ở đầu bàn lên tiếng, “Sắp hết giờ thăm gặp rồi, gia đình chuẩn bị trao quà cho trại viên rồi ra về.”

Bà Lý nói nhỏ, “Ủa, mới có mấy phút sao đã hết giờ, họ nói là ba mươi phút mà.”

Tiếng anh công an lại vang lên, “Các anh nhận quà rồi chuẩn bị vào trại, còn tốp khác ra thăm nữa.”

Hà lui cui xách các giỏ quà đặt lên bàn trong khi bé Vi đã leo đứng trên bàn xoay qua lại nhìn khắp nơi. Văn giơ tay qua vuốt tóc con nhưng cô bé cứ nhìn anh một cách ngơ ngác rồi tránh ra không cho anh chạm vào nó. Gương mặt Văn thoáng buồn, vói tay qua xách bốn túi quà nói, “Thôi, thầy me và em về, con phải vào trại.” Nói rồi anh bước vào hàng đứng chung với các anh em khác để theo anh công an dắt vào cổng trại.

Trên chuyến xe đò trở về, ba người không ai nói với ai câu nào. Hà suy nghĩ nhiều lắm. Mới có hơn một năm mà anh Văn thay đổi nhiều đến như vậy sao? Trước đây anh ấy lúc nào cũng chải chuốt, đầu tóc gọn gàng, quần áo bảnh bao mà sao bây giờ lại như thế này. Nói là đi học tập mà sao lại giống như người bị đi tù khổ sai. Không biết ba cô ra sao? Chẳng lẽ cũng giống như anh Văn? Làm thế nào ba chịu nỗi ba năm dài đăng đẳng? Ba đã lớn tuổi rồi, gần sáu mươi rồi làm sao chịu nỗi cảnh cực khổ? Anh Văn còn trẻ mà còn như vậy nữa thì ba sẽ ra sao đây? Những câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu Hà khiến cô không còn nhịn được cất tiếng khóc thút thít. Bà Lý tưởng cô nghĩ tới chồng bèn lên tiếng an ủi, “Thôi, nín đi con. Thật tội nghiệp con; bây giờ ‘trăm dâu đổ đầu tằm’, một mình con phải gánh vác. Thày me già rồi không giúp được gì cho con hết.”

Bé Vi thấy mẹ khóc lấy tay lau mắt mẹ nói, “Mẹ phải ngoan, không được khóc nhè!” Nó bắt chước mẹ mỗi khi dỗ nó khóc.

Câu nói của con bé khiến không ai nhịn cười được, kễ cả những người đi cùng xe, khiến không khí bớt đi sự nặng nề.

Bà khách ngồi cạnh đưa tay vuốt tóc bé Vi hỏi, “Sao lúc nãy con không cho ba nựng?”

Hà cười trả lời, “Lúc anh ấy đi ‘học tập’ nó chưa đầy thôi nôi làm sao biết anh ấy là ai?” Rồi Hà bỗng nhiên thắc mắc, “Không biết trong trại đó có bao nhiêu người mà thấy người ta đi thăm nuôi đông quá?”

Một bà lớn tuổi lên tiếng, “Tôi nghe nói có trên hai ngàn người.”

Hà ngạc nhiên, “Sao đông quá vậy? Học tập gì mà bắt người ta vào đông thế?”

Một giọng miền Bắc vang lên, “Ối giời ơi, học cái gì cô ơi. Chúng nó bắt bỏ tù các ông ấy rồi bắt lao động khổ sai chứ học với hành cái gì!” Rồi bà ta tiếp như để phân trần, “Con của tôi chưa tới ba mươi tuổi đầu, chưa có vợ con gì cả mà bị bắt nhốt vào đó, chỉ khổ cái thân già này hết nuôi con ăn học rồi lại đến nuôi con ở tù!”

Mọi người nhìn chăm chú vào bà cụ bạo mồm rồi nhìn quanh như sợ có ai rình nghe. Trong xe bỗng trở lại im lặng.

Hà suy nghĩ, chắc bà cụ này nói đúng. Cô vẫn thấy lấn cấn trong lòng về việc anh Văn và ba cô bị bắt phải đi ‘học tập’ này. Cô thấy hình như có một cái gì đó không đúng nhưng vẫn không nghĩ ra được. Nghe bà cụ nói dường như đầu óc cô sáng ra. Đúng rồi, đi học tập gì mà đem dấu mất không cho ai biết nơi ở, rồi còn bắt người nhà phải gởi quà, rồi tới thăm nuôi! Chỉ có bỏ tù người ta mới làm như vậy mà thôi. Vậy mà từ trước đến nay Hà lại không nghĩ ra.

Anh Văn đi tù, ba cũng đi tù, hàng ngàn người đang bị nhốt trong các trại tù đó. Trại 15NV, trại 16NV, và còn bao nhiêu trại nữa mà Hà không biết. Ôi, chẳng lẽ cả nước đầy những nhà tù hay sao? Hà bỗng rùng mình!

Về tới nhà, Hà lại nhận được thư của ba báo tin cho biết ông cũng được phép thăm nuôi. Ông hiện ở trại ‘Thủ Đức’, đó là một trại nữ tù nhân thời Việt Nam Cộng Hòa.

Chưa nghỉ ngơi được Hà lại bắt tay ngay vào việc chuẩn bị đồ đạc để đi thăm nuôi ba. Hà đến nhà chị Tám hỏi thăm địa điểm của trại này, chị cho biết nó nằm cũng không xa nhà chị là bao.

Lần này Hà đã có kinh nghiệm nên việc chuẩn bị quà cáp dễ dàng và đầy đủ hơn lần đi thăm anh Văn dù ba không đòi hỏi nhiều. Chú Tư hẹn đến ngày sẽ lên chở đồ đạc giúp Hà để Hà có thể chở theo bé Vi, đồng thời chú cũng muốn nhân dịp vào thăm ông Quân.

Trại Thủ Đức nằm gần thị xã, và là một trại giam được xây dựng đã lâu nên không có xây cất nhà thăm nuôi bên ngoài. Người đi thăm nuôi cũng không đông như ở trại Long Thành. Hà đứng trong phòng chờ đợi nhìn thấy ba đi ra trong hàng. Ba trông gầy và xanh. Bé Vi vừa thấy ông ngoại vội chạy ngay đến ôm lấy chân ông líu lo, “Ông ngoại, ông ngoại!”

Ông Quân bế bé Vi lên nói, “Cháu của ông ở nhà có ngoan không?”

Vi lấy tay sờ vào má ông rồi cười lớn. Ông Quân hỏi Hà, “Con đã đi thăm Văn chưa?”

“Dạ rồi, cách nay một tuần.”

Ông Quân nhìn thấy chú Tư liền nói, “Cám ơn chú với chị Tám, tôi có nhận quà của hai người gởi. Chú lúc này sinh sống ra sao?”

“Dạ thưa ông, nhờ chiếc xe gắn máy mà ông cho nên tôi chạy xe ôm cũng tạm sống được. Vợ tôi cũng rất cám ơn ông đã giúp ít tiền nên có vốn để mua bán lặt vặt đắp đổi qua ngày.” Chú Tư đáp một hơi.

Ông Quân cười, “Vậy cũng mừng cho chú. Ở bên ngoài có gì thì chú để mắt đến con Hà giúp tôi, tôi rất mang ơn chú.”

“Ông đừng lo, bây giờ cô Hà giỏi lắm!” Chú Tư mĩm cười nhìn Hà nói.

Quay qua Hà, ông Quân hỏi, “Con ở nhà dì Nga được không?”

“Dạ được lắm, dì lo cho con đủ thứ. Dì lại rất cưng bé Vi nên con cũng đỡ lo cho nó. Dì với em Nguyệt dành lo hết mọi việc cho bé Vi.”

“Chồng con hiện giờ ra sao?” Ông Quân tò mò.

Hà khẻ đáp, “Dạ, anh ấy ở trại Long Thành, cũng gần nhà. Anh ấy ốm và đen thui.”

“Ở đây ba không có đi lao động nên không đen, nhưng suốt ngày ở trong phòng nên chắc là xanh hơn.”

“Dạ, con thấy ba ốm và xanh, ba có bệnh gì không?”

“Không, sức khỏe của ba cũng bình thường, nhưng hơi khó ngủ. Con có tin tức gì của mẹ con không?”

“Dạ chưa liên lạc được với mẹ. Dì Nga nói để dì hỏi thăm khi nào có thể viết thư được thì dì cho biết.”

“Con cũng hơi gầy đó, ráng giữ sức khỏe. Ở nhà có cực khổ lắm không?”

“Dạ cũng không cực lắm, nhưng chắc con chưa quen làm việc nên mới như vậy, thêm vào đó mấy ngày nay còn phải lo việc thăm nuôi anh Văn và tiếp đến là thăm ba nữa.” Hà giải thích.

Ông Quân vừa định nói gì với Hà thì nghe giọng anh công an vang lên, “Gần hết giờ thăm gặp rồi, gia đình trao quà cho trại viên rồi chuẩn bị ra về!”

Hà đã quen với cảnh này nên xách bốn giỏ quà trao cho ba vừa nói, “Ba đừng lo buồn, ở ngoài con cũng quen rồi. Trong này ba ráng giữ sức khỏe, con sẽ gửi quà cho ba đều đặn.”

Chú Tư chen vào, “Biết được ông ở đây tôi cũng mừng vì chỉ sợ ông bị bắt vào rừng dễ bị bệnh sốt rét. Có gì tôi sẽ chở cô Hà lên thăm ông thường xuyên.”

“Thôi chú và Hà về đi, khi nào họ có cho thăm thì tôi sẽ báo, không thể tự ý lên thăm được đâu.” Ông Quân nói như an ủi.

Sau lần thăm nuôi ba và chồng, Hà bặt tin cả hai người, không còn nhận được thư và giấy báo gởi quà nữa. Cô rất lo lắng, đi hỏi thăm các nơi mà cũng chẳng ai biết tin tức gì. Hà nhờ cả chị Tám hỏi thăm tin ba thì được chị cho biết những người có nhà ở gần trại Thủ Đức nói rằng họ thấy vào ban đêm người ta đã chuyển những người ở trong ấy, nhưng không ai biết đi đâu. Chú Tư cũng báo cho Hà biết chú nghe dân chúng đồn rằng Việt Cộng đã di chuyển một số lớn quân nhân công chức Việt Nam Cộng Hòa đang học tập ra ngoài Bắc. Có thể ông Quân và Văn cũng bị đưa đi rồi.

Hà lo sợ hỏi chú Tư, “Miền Bắc chắc xa lắm phải không chú? Ba mẹ tôi trước kia cũng ở ngoài đó di cư vào Nam mà.”

“Xa lắm, phải đi mất mấy chuyến xe lửa mới tới. Nhưng bây giờ cũng đâu biết chắc ông và cậu Văn ở đâu mà tìm?” Chú Tư trả lời.

“Chú cố hỏi thăm xem họ đưa ba tôi đi đâu, có gì tôi cũng phải đi tìm chứ không lẽ bỏ mặc ba tôi trong ấy hay sao?”

Chú Tư nói, “Tôi nghe nói có rất nhiều trại ở miền Bắc như các trại Nam Hà, Lào Cai, Hoàng Liên Sơn, vân vân. Làm sao biết ông và cậu bị đưa ra trại nào?”

Nghe chú Tư kể mấy cái tên rất lạ lùng, Hà cau mày ngạc nhiên, “Chẳng lẽ họ đưa hết mấy người đi học tập ra ngoài ấy sao?”

“Cũng không hết, chắc chỉ có một số nào đó mà họ cho là quan trọng mà thôi!”

“Vậy sao chú kể tên nhiều trại quá vậy?”

“Số người đi học tập rất đông, chắc cũng khoảng vài trăm ngàn người. Họ chỉ đưa ra Bắc khoảng trên dưới một trăm ngàn thôi.”

Hà nghe nói đến con số hàng trăm ngàn người thì giật mình, “Sao đông quá vậy? Tôi cứ tưởng chừng vài ngàn người thôi chứ.”

Chú Tư cười nói, “Đông lắm cô ơi; ở miền Nam chúng ta nhà nào cũng có người bị đi học tập hết.”

Hà thắc mắc, “Sao họ lại đưa ra ngoài Bắc chi vậy chú biết không?”

“Tôi cũng nghe thiên hạ nói họ đưa các ông ấy ra Bắc để không gần dân chúng trong Nam cho dễ kiểm soát. Ở trong này họ sợ các người học tập trốn về người dân sẽ bao che.”

“À, thì ra là vậy. Ở trong này mà các ông trốn về rồi trốn luôn ra ngoại quốc thì hết tìm!”

“Cô cũng biết điều đó nữa à?” Chú Tư ngạc nhiên hỏi.

“Biết chứ, bây giờ người ta trốn đi nhiều lắm, tôi nghe nói hoài.” Hà mĩm cười đáp.

“Đúng rồi, cô ở trong vùng Hố Nai toàn là người Bắc đạo công giáo di cư nên họ đâu chịu nỗi Cộng Sản. Chắc cô nghe chuyện họ vượt biên hoài chứ gì?”

Rồi chú nói tiếp, “Thôi cô về nhà đi, khi nào có tin gì mới tôi sẽ cho cô biết. Còn lúc nào cô nhận được tin ông chủ, cô cũng nhớ cho tôi biết với.”

Hà buồn rầu đi về. Vừa gặp dì Nga, Hà nói ngay, “Dì ơi, chú Tư nói có lẽ họ đưa ba con với anh Văn ra ngoài Bắc rồi!”

Dì Nga nghe Hà nói vậy tỏ ra sửng sốt hỏi, “Sao chú Tư biết?”

“Chú đi xe ôm tiếp xúc nhiều với tụi công an nên chú nghe tụi nó nói.”

“Vậy sao, không biết họ đưa ba con ra vùng nào ở ngoài đó?”

“Chú Tư nói có rất nhiều nơi như Lào Cai hay cái gì gì đó con không nhớ hết.”

“Lào Cai à, vậy là xa lắm, ở gần biên giới với nước Tầu.” Dì Nga lắc đầu nói.

Hà có vẻ thắc mắc, “Ở đó ra sao vậy dì?”

Dì Nga lắc đầu, “Dì không biết rõ lắm vì khi đó dì còn nhỏ, cũng chưa từng tới nơi đó bao giờ, nhưng dì nghe nói ở đó toàn là rừng núi.”

Hà nghe nói càng lo sợ hơn. Tại sao người ta lại đưa ba và anh Văn vô vùng rừng núi? Lại còn ở gần nước Tàu nữa? Vậy rồi họ sống ra sao?

Dì Nga thấy Hà bỗng nhiên yên lặng bèn nói, “Bây giờ con cũng không làm gì được đâu. Khi nào có được tin của ba và chồng con rồi tính.

“Dạ, bây giờ rối trí quá, không biết làm gì nữa.”

—-> 21-30

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, KALE, KALE. Bookmark the permalink.