MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT DÒNG SÔNG ( Kale): 11-20

Chương 13

Cuối tháng 3 năm 1975, khi Việt Cộng tiến chiếm Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt, Toàn và một số sinh viên sĩ quan đang ở trong trường đều bị bắt mang đi và giam giữ trong rừng sâu trong lúc cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn giữa các đơn vị Cộng Quân với các đơn vị của Việt Nam Cộng Hoà. Nơi giam giữ là những căn chòi được xây dựng một cách thô sơ, bao bọc bằng những hàng rào kẽm gai, tre nứa, và được canh giữ bốn mặt với những chòi canh cao. Tay chân Toàn và các bạn bị khoá dính lại với nhau bằng đủ các loại cùm, từ những thứ thô sơ làm bằng gỗ đến những thứ cùm sắt được tịch thu từ những nhà giam ở các nơi. Anh và các bạn hoàn toàn bị cách ly với thế giới bên ngoài, không một tin tức nào về cuộc chiến đang diễn ra được tiết lộ. Ngoài việc thường xuyên bị đánh đập, tra tấn, lăng nhục, các anh còn bị đói khát thường xuyên. Khẩu phần hàng ngày chỉ có một chén nhỏ cơm độn với khoai sắn và một nhúm muối hột cùng với một lon sửa bò nước uống. Không ai nghĩ mình có thể sống sót được và ai cũng chỉ cầu mong có mỗi một điều là các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà sẽ tiến vào, cho dù có bị chết dưới làn đạn cũng còn có hy vọng được thoát còn hơn là cứ ở trong tình trạng như thế. Các anh có biết đâu rằng sau khi các anh đã bị bắt thì Đà Lạt và toàn thể tỉnh Lâm Đồng cũng lần lượt thất thủ, rồi cuối cùng là cả vùng Cao Nguyên cũng bị rơi vào tay Cộng Quân.

Cho mãi đến sau ngày 30 tháng tư, khi cả miền Nam đều bị rơi vào tay Cộng Quân, họ mới treo một chiếc loa để phát thanh cho Toàn và các bạn biết rõ tình hình. Và họ còn thông báo cho các anh biết rằng kể từ khi đó các anh chính thức là ‘tù binh’ của họ, các anh là những người bại trận và các anh sẽ được đối xữ như những người bại trận, những chiếc còng tay được tháo ra nhưng họ vẫn cùm chân các anh! Toàn và các bạn rất đau lòng trước sự việc xãy ra nhưng cũng chỉ biết ngậm ngùi cho số phận của đất nước chứ còn biết làm gì hơn được. Mọi người hầu như có cùng một suy nghĩ rằng mình chắc chắn sẽ bị chết từ từ hoặc bị giết tập thể, bởi vì lịch sử đã chứng minh ở những lần họ chiếm được các thành phố như Huế vào Tết Mậu Thân. Hơn nữa bây giờ các anh lại là những ‘tù binh’ không còn chính phủ! Ai sẽ cứu các anh ra? Ai sẽ trao đổi với các anh như những lần trao đổi tù binh trước đây? Vậy thì họ giữ các anh lại để làm gì?

Sau hơn ba tháng bị bắt, Toàn và các bạn được đưa về trại cải tạo Suối Máu và khi đó các anh mới được phép viết thư báo tin cho gia đình rằng các anh vẫn còn sống và hiện đang ở trong ‘trại’, nhưng vẫn không được phép thông báo địa điểm nơi các anh đang ở.

Toàn và Trâm cưới nhau đã hơn ba năm và có với nhau đứa con trai gần hai tuổi. Trâm là cô giáo dạy lớp năm trong một trường tiểu học ở thị xã Đà Lạt mà anh tình cờ quen biết trong một lễ cưới của một anh bạn đang dạy về môn sử ký ở trường Võ Bị, và Toàn là giảng viên về hoá học. Trâm cũng xuất thân từ một gia đình nông dân, ba má cô có một ít đất trồng rau cải và trồng dâu theo từng mùa và có một sạp bán rau quả ở chợ Hoà Bình. Khi anh và Trâm quen biết nhau rồi có ý định thành hôn thì tất cả mọi người trong gia đình hai bên đều rất vui vẻ chấp nhận duy chỉ có một người có vẻ không tán thành mà người đó lại chính là ba của Trâm. Tuy nhiên vì Trâm cũng đã lớn và đã có công ăn việc làm để tự nuôi thân nên cuối cùng mọi việc đều êm xuôi. Mẹ anh từ Cái Răng lặn lội đến tận Đà Lạt để chủ hôn cho con trai, bà rất vui mừng vì theo bà thì cuộc hôn nhân của con bà rất ‘xứng đôi vừa lứa’ kể cả đối với hai gia đình thông gia. Trong lòng mẹ của Toàn luôn luôn có mối lo rằng con trai bà đi lên Sài Gòn học đại học có thể sẽ quen biết và thành hôn với một cô gái thuộc gia đình giàu có khiến bà sẽ bị mặc cảm khi ngồi cùng mâm với họ!

Sau khi cưới nhau, Trâm và Toàn vẫn ở chung với gia đình ba má cô vì cô là đứa con duy nhất trong nhà, chưa thể ra riêng được. Toàn thì vẫn hàng ngày dạy học ở trường Võ Bị, anh chỉ về nhà vào những ngày không có phiên trực. Cuộc sống của anh và Trâm bình lặng trôi qua, và sau hơn một năm cưới nhau hai người có được một đứa con trai kháu khỉnh mà anh đặt tên là Hà để ghi nhớ đến mối tình đầu vô vọng của anh. Anh chưa hề kể cho ai nghe về mối tình của anh và Hà, kể cả mẹ anh và vợ anh, do đó Trâm cũng không thắc mắc gì với cái tên mà anh đặt cho con.

Về tới trại Suối Máu, Toàn rất ngỡ ngàng khi được gặp lại hầu như tất cả những đồng đội cũ, những bạn bè cùng khoá thụ huấn ở trường Bộ Binh Thủ Đức cũng như một số bạn học ở Đại Học Khoa Học đã đi lính trước anh. Họ đều ra trình diện theo lệnh của chính phủ mới và rồi cũng bị đưa vào chung với những người bị bắt như bọn anh! Họ kể cho các anh nghe về những diển biến ở các nơi sau khi Toàn đã bị bắt. Hầu hết những người trình diện đều cho biết rằng họ được lệnh đi ‘học tập’ trong thời gian chỉ có mười ngày, nhưng rồi đã hơn mười ngày trôi qua mà chưa thấy một dấu hiệu nào cả. Chỉ có những người bị bắt như Toàn là không tin rằng họ sẽ được thả ra, nhưng ít nhất họ cảm thấy bớt khổ sở hơn vì không còn bị cùm ngày này qua tháng khác, và cũng không còn bị đánh đập một cách tuỳ tiện nữa.

Viết thư cho gia đình xong là đến lúc đợi thư hồi âm! Mọi người đều trông ngóng để được tin tức của gia đình, nhất là những người trong số bị bắt trước ngày 30 tháng tư như Toàn. Gia đình có lẽ vẫn đinh ninh rằng họ đã chết trong những trận chiến.

Rồi cuối cùng thì những mong ngóng cũng đến với các anh. Toàn hồi hộp dỡ trang thư của Trâm ra để biết được tin tức của vợ con, nhưng anh rất ngỡ ngàng khi đọc hết nội dung bức thư. Bây giờ thì mọi sự đã quá rõ ràng, ba của Trâm là người của phe ‘bên kia’! Những điều trước kia khiến anh khó hiểu bây giờ đã như sáng rõ như ban ngày. Từ lâu anh vẫn tự hỏi tại sao ba của Trâm có vẻ như không tán thành việc thành hôn giữa anh với con gái trong khi địa vị của cả hai gia đình không có gì là chênh lệch. Ngày xưa anh chấp nhận việc đổ vở đối với Hà như một chuyện đương nhiên bởi giai cấp của gia đình cô ấy quá cao so với gia đình anh, chuyện mẹ của Hà không chấp nhận anh là một điều rất hợp lý. Còn đối với ba của Trâm? Trước đây anh cứ ngỡ ông ấy thấy anh chỉ là một chuẩn uý mới ra trường, không có tương lai nên lo ngại cho cuộc sống của con gái. Bây giờ anh mới biết sự thật! Cái hàng rào ngăn cách của sự ‘giàu nghèo’ rất khó phá bỏ nhưng sự ngăn cách về ‘chủ nghĩa’ còn nặng nề hơn rất nhiều.

Trong thư Trâm cho anh biết cô mừng vì anh còn sống sót, nhưng gia đình cô không muốn cô ‘liên hệ’ với anh nữa vì không muốn ảnh hưởng đến tình trạng hiện tại của gia đình. Trâm không nói rõ cho anh biết ba cô ấy làm gì mà chỉ nói rằng ông ấy hiện đang giữ chức vụ khá cao trong chính phủ ‘cách mạng’! Theo lời Trâm thì chính cô không muốn tình trạng ấy diễn ra nhưng cô cũng không thể thoát khỏi ảnh hưởng của cha, do đó cô xin anh ‘thông cảm’.

Mọi việc đối với anh như vậy là đã quá đủ. Là một người đàn ông luôn nặng về lý trí, Toàn biết phải làm thế nào trước hoàn cảnh này. Toàn rất đau buồn nhưng lại cảm thấy an lòng hơn vì dù sao thì trong hoàn cảnh đổi đời như hiện nay, vợ con anh cũng sẽ an toàn hơn nhiều người dân khác có người thân làm việc cho chính quyền miền Nam. Bản thân anh thì coi như đã chết. Một người tù binh không còn ai can thiệp thì hoặc là chết trong tù hoặc là bị giam suốt đời, làm gì còn tương lai. Chẳng lẽ anh lại muốn kéo theo cả cuộc đời của vợ con anh hay sao? Anh quyết định sẽ tách rời cuộc đời mình ra khỏi vợ con để hoàn thành tâm nguyện cho gia đình cô ấy.

Ngày xưa mặc dù rất yêu Hà, nhưng nhận thấy hai gia đình có khoảng cách quá xa về sự giàu nghèo nên anh đã tìm mọi cách để trả Hà lại cho gia đình. Nay một lần nữa cảnh cũ lại tái diễn. Nhưng lần này anh lại ở trong một tình trạng còn khổ sở hơn trước, anh đang lâm vào một tình trạng mà anh không có quyền lựa chọn, không có một chút gì gọi là ngày mai, và ngay cả không biết có thể giữ được tính mạng mình hay không nữa. Sự chia tay đối với Trâm không có gì để anh tiếc nuối, chỉ có một điều duy nhất khiến anh băn khoăn đó là đứa con trai của anh rồi đây sẽ ra sao, liệu nó còn có dịp biết đến cha của nó hay không? Nhưng anh nghĩ, biết để làm gì khi cha của nó chỉ là một tên tù không có ngày về, một kẻ thù của chế độ mới.

Mấy tháng ở trại giam trong rừng sâu anh càng nhận rõ hơn về sự tàn bạo của những người Cộng Sản. Họ luôn luôn có một thái độ hằn học, căm thù đối với bọn anh dường như chỉ muốn ăn tươi nuốt sống cho hả dạ. Đó không chỉ là một sự ngăn cách về ý thức hệ mà dường như còn tồn tại một mối căm thù hàng ngàn năm, không đội chung trời! Những trận đánh đập một cách vô lý, đánh để mà đánh rồi cười hô hố với nhau chứ không với một mục đích gì khiến anh và các bạn không thể hiểu và cũng không thể tin được cách đối xữ giữa con người đối với con người lại có thể xãy ra như vậy. Anh thấy điều này quả thật vô lý. Dù sao thì cả hai phía đều là người cùng chung một nước, thế mà không biết tại sao Cộng Sản lại giáo dục cho những con người của họ một lòng thù hận kỳ lạ đến như vậy?

Trong chiến tranh người ta có thể giết nhau ngoài chiến trường, đó là điều tất nhiên. Một vài nhục hình cốt để khai thác tin tức là điều có thể hiểu được. Nhưng đánh đập hành hạ một cách vô cớ những người đã bị bắt giam, và đang bị cùm kẹp chỉ để vui đùa với nhau là một điều lạ lùng mà chỉ có những con người dã man mới có thể làm được mà thôi!

Ba Toàn đã bị bọn du kích giết chết chỉ vì không chịu bỏ gia đình đi theo chúng, đó là một hành động có thể gọi là ‘khủng bố’ để đe doạ những người dân khác. Toàn đã từng vì việc này mà sợ hãi và phải tránh xa chúng. Nhưng đến bây giờ, khi tiếp xúc trực tiếp với những hành động dã man của chúng anh càng thấy kinh tỡm với lối hành xữ của những người Cộng Sản. Anh nghĩ rằng tất cả chính là do sự giáo dục về hận thù giai cấp một cách điên cuồng khiến đã tạo nên một lớp người không còn nhân cách.

Mặc dù không chấp nhận Cộng Sản, nhưng Toàn chưa hề có một cảm giác thù nghịch đối với những người ở phía bên kia. Anh quan niệm những thanh niên sinh ra và lớn lên ở miền Bắc thì tất nhiên phải đi theo con đường do những nhà lãnh đạo của họ dẫn dắt, cũng như anh ở miền Nam thì phải làm việc cho chính quyền miền Nam, thế thôi. Cuộc chiến này là một cuộc chiến hoàn toàn do ngoại bang áp đặt lên đầu dân tộc Việt Nam. Dù ở phía bên nào thì cũng là những người dân Việt đáng tội nghiệp.

Lúc còn là sinh viên, cũng đã có lúc Toàn rất bất bình về sự can thiệp trực tiếp của người Mỹ vào Việt Nam. Họ can thiệp vào đất nước của anh cũng như Liên Sô và Trung Cộng can thiệp vào miền Bắc, tất cả những thế lực ngoại lai đó đều xem Việt Nam như một mảnh đất để họ tranh giành ảnh hưởng giữa hai thế lực Cộng Sản và Tư Bản.

Trong ý nghĩ của Toàn, nếu cuộc chiến tranh này quả thật chỉ là cuộc chiến của hai miền Nam Bắc Việt Nam để quyết định thể chế chính trị giữa Cộng Sản hoặc Tự Do thì tại sao không để hai bên giải quyết với nhau? Chính người Mỹ đưa quân vào Việt Nam khiến cho miền Bắc và một số người ở miền Nam có cớ để biến cuộc chiến trở thành chiến tranh chống Mỹ. Đất nước càng ngày càng rối thêm. Những phong trào sinh viên và dân chúng đã nổi lên chống Mỹ không những chỉ có ở trong nước mà lan khắp các nơi kể cả tại Mỹ.

Khi còn học ở Đại Học, trước những lời kêu gọi chống Mỹ của các sinh viên trong những phong trào nổi lên ở trường, anh đã không tham gia bởi vì anh hiểu rằng đó là những phong trào do Cộng Sản giật giây hoặc trực tiếp lãnh đạo. Ý thức của Toàn rất rõ ràng; anh không chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản. Rất nhiều người trẻ không hiểu hoặc không ý thức được điều này nhưng riêng Toàn thì có một lập trường rất rõ ràng.

Anh đã sống trong vùng xôi đậu Cái Răng; anh đã từng chứng kiến những hành động của những người mệnh danh là giải phóng mà Toàn biết rõ là những người Cộng Sản. Họ quá dã man, quá mất tính người đối với bất kỳ những ai không theo chúng. Chính cha anh cũng đã bị giết vì lý do này, anh không thể nào chấp nhận được những hành động khủng bố như thế. Thế kỷ này là thế kỷ hai mươi, không còn là thời Trung Cổ nữa mà lại có những hành động như ám sát, thủ tiêu, bêu đầu thị để oai. Ngoài chiến trường thì ta phải giết hoặc bị giết, nhưng trong cuộc đấu tranh ý thức hệ thì phải dùng biện pháp đấu tranh chính trị chứ không thể dùng biện pháp bạo lực để bắt buộc người khác phải theo mình. Rõ ràng là những người Cộng Sản đã hoàn toàn làm ngược lại. Họ không thể và không bao giờ là những người văn minh.

Ngày vào quân ngũ Toàn chưa biết mình sẽ phải làm gì, có ra trận cầm súng để giết những người cùng một dân tộc nhưng khác chiến tuyến hay không. Nếu bắt buộc phải làm việc đó thì rồi anh cũng phải giết để sống còn dù quả thật anh không thù oán gì với những người của phía bên kia. Khi Hà cho anh biết nếu anh muốn thì ba cô có thể lo cho anh về làm ở Tổng Tham Mưu, anh vội vàng từ chối ngay. Anh biết do tình cảm đối với anh mà Hà đã năn nỉ ba của cô, nhưng anh đã thấy rõ gia đình Hà từ lâu không chấp nhận tình cảm giữa anh và cô rồi, anh không muốn nhận thêm ơn nghĩa của ba cô. Làm như vậy anh biết rằng anh đã gieo vào lòng cô bé một nỗi buồn, nhưng anh phải quyết định một lần cho xong để trả Hà về với cuộc sống nhung lụa của cô ấy. Anh quyết định phải đi xa và chỉ có như vậy thì mới có thể khiến tình cảm giữa hai người dần dần nguôi ngoai.

Về tới Đà Lạt, anh đã quen Trâm trong một buổi tiệc cưới của người bạn. Anh chú ý đến Trâm về sự giản dị của cô gái, và yêu cả cuộc sống bình thường của gia đình Trâm. Toàn không còn sợ sự cách biệt về sự giàu nghèo mà anh đã gặp đối với gia đình của Hà. Tình cảm giữa anh và Hà đã đến quá lạ lùng trong khi lòng anh thì luôn luôn tâm niệm rằng anh chỉ là một cậu sinh viên vừa nghèo lại vừa quê mùa không nên dan díu vào những tình cảm lãng mạn như vậy. Ngay từ những ngày đầu anh đã cố tránh né Hà và chỉ coi cô ta như một đứa học trò bé nhỏ, nhưng thật không ngờ cô bé lại trao cho anh một tình yêu quá lạ lùng và quá bất ngờ. Làm thế nào anh có thể cưỡng lại được một tình cảm của một cô bé vừa đẹp vừa giàu sang lại vừa ngây thơ như vậy!

Khi quyết định phải rời xa Hà để trả cô trở về với sự ngây thơ của cô, Toàn rất đau lòng. Nhưng anh biết đó là một quyết định đúng đắn, một hành động mà anh phải làm vì dù sao anh cũng đã là một người lớn, đủ hiểu biết và lý trí để nhận rõ rằng không con đường nào khác để chọn lựa.

Toàn quả thật không ngờ sự chọn lựa ấy cũng không thể giúp anh thoát được cái định mệnh đeo bám lấy anh. Tránh được sự ngăn cách về giai cấp giàu nghèo thì bây giờ đây Toàn lại phải đối diện với một hố ngăn cách còn nặng nề hơn, sự ngăn cách về ý thức hệ. Lần này nỗi đau của anh lại còn to lớn hơn bởi vì chẳng những nó chia cách anh với vợ anh mà còn với cả con anh nữa.

Toàn vẫn thường nghe nói về chủ trương ‘vô gia đình’ của những người Cộng Sản. Vẫn tưởng đó chỉ là những lời tuyên truyền chống Cộng của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thế mà bây giờ anh mới chạm trán được với sự thật. Ba của Trâm đã không cần biết đến sợi đây tình cảm giữa con gái ông ấy với anh cũng như với đứa cháu ngoại còn măng sửa mà chỉ biết lo sợ cho cái tiền đồ mà ông đã xây dựng sẽ có thể bị sụp đổ bởi sự liên hệ của con ông với một anh lính ‘nguỵ’! Như vậy thì anh phải làm gì khác hơn là chấp nhận số phận của mình để trả sự tự do chọn lựa lại cho Trâm và gia đình cô ta? Vã lại anh có thể làm gì hơn được trong hoàn cảnh hiện tại của anh? Tốt nhất là anh nên xem tất cả những gì đã qua chỉ là một giấc mơ, cái hiện tại tù đày mới là sự thật, chính sự suy nghĩ và quyết định dứt khoác này đã giúp Toàn sống sót suốt thời gian ở trại cải tạo của Việt Cộng.

—->Chương 14

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, KALE, KALE. Bookmark the permalink.