MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT DÒNG SÔNG (Kale): 21-30

DNDSaChương 21

Hà đang ngồi bên bàn máy may bỗng thấy có một người đàn ông ăn mặc lem luốc, tay xách túi, đầu đội nón vải cũ rách bước vào nhà. Cô ngước lên nhìn tưởng là một người ăn mày bèn gọi to, “Dì ơi, có khách.”

Dì Nga từ trong nhà bước ra hỏi, “Ông đi tìm ai?”

Người đàn ông bỏ nón ra quay qua Hà hỏi, “Em không nhận ra anh à?”

Nghe giọng nói quen, Hà trố mắt nhìn rồi la lên, “Anh Văn, trời ơi vậy mà em tưởng là ai.”

Dì Nga cũng ngạc nhiên không kém hỏi, “Sao cậu về mà không báo trước?”

“Dạ thưa dì, đâu biết trước mà báo. Họ đọc tên thả xong là cháu phải đi ngay. Cũng phải mất gần hai tuần lễ mới về được đến nhà.” Văn kể lể.

Sau khi ông Quân và Văn bị đưa ra miền Bắc khoảng hơn sáu tháng thì Hà mới nhận được thư của họ báo cho biết tin. Ông Quân ở trại Quảng Ninh còn Văn thì ở trại Nam Hà. Họ chỉ cho phép gia đình gởi quà chứ chưa cho đi thăm nuôi.

Như vậy là chưa đến ba năm họ đã thả cho Văn ra về. Hà mong ba cũng được về sớm hơn ba năm như Văn, cô bèn hỏi chồng, “Họ nói anh phải học tập ba năm mà sao lại cho về sớm hơn thời hạn?”

“Anh không biết lý do. Họ chỉ đọc tên báo rằng những người đã có ‘tiến bộ trong học tập’ thì được tha ra khỏi trại, vậy thôi.”

“Anh học ra sao mà có thể tiến bộ, anh cho em biết để em nói lại với ba?” Hà thắc mắc.

“Có học hành gì đâu! Ra ngoài đó hơn một năm họ chỉ bắt bọn anh đi lao động, mọi người đều phải làm việc, anh ở trong đội trồng rau, hàng ngày cứ phải gánh phân và nước đi tưới rau mà thôi.” Văn lắc đầu trả lời.

Hà hỏi có vẻ nghi ngờ, “Vậy sao họ nói học tập tiến bộ?”

“Thì họ muốn nói sao thì nói chứ có học hành gì!”

Hà tò mò, “Họ thả các anh về đông không?”

“Chỉ có khoảng hai mươi người.”

“Vậy còn ở trong đó đông không?”

“Còn lại đông lắm, anh không chắc là bao nhiêu nhưng trại anh cũng phải trên hai ngàn người.”

“Vậy chắc ba năm họ sẽ thả hết phải không anh?” Hà hỏi với một chút hy vọng về ngày về của ông Quân.

“Anh không biết, nhưng anh thấy mỗi lần họ chỉ thả có vài chục người không biết bao lâu mới hết.”

Hà hỏi, “Làm sao anh có tiền đi xe về? Em nghe người ta nói ở ngoài Bắc về tới đây phải đi nhiều chuyến xe lửa.”

“Lúc về họ có cấp cho một ít tiền đi đường, nhưng nhờ số tiền mà em gởi vào dấu trong thức ăn anh còn để dành nên mới đủ đi đường và ăn uống trong gần hai tuần.” Văn nhìn quanh hỏi, “Bé Vi đâu rồi em?”

“Nó đi chơi với em Nguyệt rồi.”

“Nguyệt là ai vậy?”

“À, đó là con của dì Nga. Anh ngồi nói chuyện với dì Nga em đi gọi con về.”

“Anh đi tắm cái đã, đi đường lâu quá nên chắc hôi hám lắm!”

“Ừ, quần áo của anh em còn để trong tủ trên phòng em đó, để em nói dì dẫn anh lên phòng.”

Hà dắt con vào nhà, con bé hỏi mẹ, “Ba đâu rồi?”

Hà mĩm cười nhìn con, “Con có nhớ ba không mà hỏi?”

Cô bé đáp cộc lốc, “Không!”

Dì Nga nghe con bé nói không nhịn được bèn cười lớn lên nói, “Ba con nghe nói vậy đánh đòn ráng chịu nghe!”

Rồi quay sang Hà, dì nói, “Con để bé Hà ở nhà dì trông chừng, đi xuống nhà báo tin cho ba mẹ Văn biết ngay đi.”

“Dạ, chắc để ngày mai con đi chứ giờ này cũng đã trễ rồi, đi chưa chắc kịp quay về nhà.”

“Ờ, thôi cũng được. Ngày mai con chở Văn cùng đi luôn.” Dì Nga đồng ý.

Văn từ trên lầu đi xuống trong bộ đồ ngủ rộng thùng thình, thấy bé Vi đứng bên dì Nga bèn gọi, “Bé Vi đó phải không? Đến đây cho ba bế nào.”

Vi ôm lấy chân bà Nga đứng nép sau lưng bà. Dì Nga vuốt tóc Vi nói, “Thôi, để từ từ cho nó quen dần.” Nhìn về phía Văn dì nói tiếp, “Dì có nói với cháu Hà ngày mai sẽ chở cậu về Sài Gòn thăm ba mẹ cậu chứ bây giờ cũng hơi trễ rồi.”

“Dạ chắc để ngày mai, bây giờ con cũng mệt quá. Sáng mai con còn phải đi trình diện với công an phường nữa.”

Nhìn Văn đang ‘bơi’ trong bộ đồ ngủ từ xưa của anh, Hà không nhịn được cười nói, “Anh gầy quá, bộ quần áo của anh mà bây giờ anh mặc rộng thùng thình!”

Quả thật trông Văn bây giờ rất hốc hác, cặp mắt thâm quầng, hai gò má nhô lên cao, da đen sậm, tóc đã có nhiều sợi bạc, những nét nhăn nheo đã hằn rõ trên trán. Trông anh như đã vào tuổi năm mươi.

Mới hơn một năm kể từ ngày thăm nuôi Văn ở trại Long Thành mà trông anh thay đổi quá nhiều. Chắc ở ngoài đó người ta bắt anh ấy phải làm việc cực nhọc lắm. Nhìn Văn, bỗng Hà cau mày suy nghĩ. Còn ba cô thì ra sao? Ông đã sáu mươi tuổi rồi, không biết làm sao ba chịu đựng nỗi? Không biết đến bao giờ họ mới thả ba ra?

Hà hỏi Văn, “Anh có biết trại Quảng Ninh, chỗ ba đang ở không?”

“Anh có nghe nói nhưng không biết ở đâu.”

“Không biết ở đó ba có bị làm việc cực khổ như anh không?” Hà lo lắng hỏi.

“Ở trại nào cũng thế, ai cũng phải làm ‘lao động’. Mà làm lao động trong trại thì rất cực nhọc.” Văn buồn rầu nói.

“Vậy làm sao ba chịu nỗi?”

Văn không biết trả lời Hà ra làm sao cho cô ấy bớt lo lắng. Anh nói, “Có thể họ thấy ba lớn tuổi sẽ ‘bố trí’ làm việc nhẹ hơn.”

Hà có vẻ mừng hỏi, “Việc gì mà là việc nhẹ?”

“Như nấu bếp, trực buồng hoặc đan lát chẳng hạn.”

“Ba đâu biết nấu bếp! Còn trực buồng là làm gì vậy?” Hà thắc mắc.

Văn cười nhìn vợ, “Có ai biết làm việc gì đâu em! Cứ làm rồi cũng được hết thôi. Trong trại mà được nấu bếp là coi như được ‘chiếu cố’ lắm rồi đó.”

“Chiếu cố là sao?” Hà ngơ ngác hỏi.

“Tức là được ưu tiên hơn người khác, vì làm bếp thì không bị đói.” Văn giải thích.

“À, em biết rồi, anh bị họ ‘tẩy não’ rồi phải không?” Hà vừa nói vừa cười.

“Sao em lại nói vậy?” Văn ngạc nhiên nhìn Hà.

“Vì anh dùng chử giống Việt Cộng quá. Anh mới vừa nói cái gì là ‘bố trí’, là ‘chiếu cố’ đấy, từ xưa đến giờ mình đâu có dùng những chử nghĩa xa lạ đó!”

Văn cười khổ sở không trả lời Hà. Hà hỏi tiếp, “Còn anh nói trực buồng là làm gì vậy?”

Văn suy nghĩ một chút như cố gắng tránh dùng những từ ngữ mà hàng ngày anh được nghe các ‘cán bộ’ trong trại nói trả lời Hà, “Trực buồng nghĩa là lúc các người khác đi lao động thì mình ở lại trong trại để dọn vệ sinh trong buồng, ngoài sân, gánh nước uống về phát cho những người trong đội.”

“Như vậy mà anh bảo là nhẹ.” Hà ngạc nhiên.

“Thì nhẹ hơn công việc của những người khác thôi.”

Hà không cãi lại nữa mà chỉ suy nghĩ. Công việc dọn dẹp vệ sinh rồi còn phải gánh nước nữa, không biết ba có làm nổi không? Anh Văn bảo đó là làm việc ‘nhẹ’, vậy chắc đi lao động phải ‘nặng’ lắm. Hà bèn hỏi Văn, “Vậy đi lao động thì phải làm việc gì?”

“Nhiều công việc khác nhau lắm, như là làm ruộng, trồng rau, đóng gạch, đập đá, xây cất nhà cửa, làm thợ mộc, đi rừng lấy củi, vân vân. Nhiều lắm anh kể không hết được.” Rồi anh nói tiếp, “Vấn đề khó khăn nhất ở trong đó là họ cho ăn không đủ nên làm việc gì cũng thấy nặng nề hết. Đa số người chết trong đó là vì đói và vì bệnh mà không có thuốc uống.”

Hà nghe nói bỗng sợ hãi hỏi chồng, “Vậy họ không cho các anh ăn sao?”

“Có chứ, nhưng mỗi bữa ăn chỉ có một chén cơm với một chút canh rau nấu với nước muối. Mà đa số là không có cơm, chỉ có sắn với ngô hoặc bo bo thôi.”

“Trời ơi, ăn như vậy làm sao chịu nỗi?”

“Bởi vậy ai cũng gầy trơ xương ra như anh đây. Nhiều người chịu không nỗi đã chết trong đó rồi.” Văn buồn bã nói.

“Bộ chết nhiều lắm sao anh?” Hà tỏ ý lo sợ hỏi.

“Cũng nhiều lắm, nhất là mấy tháng đầu không có gởi quà. Vã lại cũng có rất nhiều người không còn thân nhân để gởi quà.” Văn nói như giải thích.

Nghe tới đây Hà không còn giữ được bình tỉnh nữa, cô nghĩ tới tình trạng của ba cô ở trong đó mà lo sợ vô cùng. Mỗi ba tháng một lần cô mới gởi được cho ba cô năm ký quà, vậy làm sao ba cô có đủ để mà dùng? Hà không biết phải làm sao bây giờ. Dì Nga cũng có mua thêm mấy phiếu nữa nhưng phải hai tháng một lần Hà mới dám gởi cho ba một gói. Bây giờ nghe Văn kể về cuộc sống trong trại, Hà càng thấy lo lắng cho ba hơn.

Sáng hôm sau, Hà bảo Văn sửa soạn để cô chở đi Sài Gòn gặp ba mẹ anh. Văn nói, “Anh phải đến trình diện cho công an phường trước đã.”

“Sao phải trình diện?” Hà ngạc nhiên hỏi.

“Anh đang bị ‘quản chế’ nên phải trình diện họ để báo cho họ biết là anh đã về tới nhà, ngoài ra đi đâu cũng phải báo cho họ biết trước.”

“Quản chế là gì vậy?” Hà không hiểu hỏi Văn.

“Quản chế tức là anh vẫn còn trong tình trạng bị họ canh chừng các hành động của mình. Anh phải đến trình diện và báo cho họ biết anh đã được về nhà và muốn đi Sài Gòn hay đi đâu cũng phải cho họ biết trước. Hàng tuần anh còn phải đến khai báo với họ những việc anh đã làm trong tuần ấy.”

“Vậy tức là anh không làm gì được hết hay sao?”

“Không phải vậy, nhưng muốn làm gì anh phải được sự chấp thuận của họ.”

“Vậy đi thăm ba mẹ cũng phải xin phép họ nữa à?”

“Thì phải vậy thôi. Anh vẫn trong tình trạng quản chế mà!”

Hà nghe rất lấy làm lạ nhưng không hỏi nữa, cô nghĩ bây giờ người dân ở ngoài muốn đi đâu xa hay muốn ở đâu cũng phải báo cho công an khu vực nơi ấy biết huống chi anh Văn mới được thả về. Nghĩ vậy cô nói, “Vậy mình ghé qua trụ sở công an phường trước để anh trình diện rồi sẽ đi Sài Gòn thăm ba mẹ.”

Ngồi sau xe Honda do Hà lái, Văn rất ngạc nhiên không ngờ bây giờ Hà lại có vẻ xông xáo như thế này. Anh hỏi Hà, “Em tập đi xe gắn máy bao giờ mà chạy ào ào như vậy?”

Hà cười, “Lâu rồi, không có anh và ba thì em phải lái xe chứ, xe này ba mua cho em trước khi ba bị bắt đó!”

Ông bà Lý trông thấy con vào rất vui mừng. Ông Lý hỏi con, “Gần ba năm ở trong trại giờ về tới Sài Gòn con thấy có lạ lắm không?”

“Dạ thưa ba, bây giờ chắc con phải ‘phấn đấu’ lắm mới ‘thích nghi’ với xã hội bên ngoài đó ba.”

Hà cắt ngang lời Văn, nói với ba mẹ chồng, “Ba mẹ thấy không, anh Văn bây giờ ăn nói giống như tụi nó rồi.”

Ông Lý cười nói, “Thì sống lâu với họ rồi cũng phải quen miệng chứ làm sao khác hơn được.”

Rồi quay qua Văn ông hỏi, “Con được về nhà có dự định làm việc gì chưa?”

“Dạ bây giờ còn trong thời gian ‘quản chế’ nên con chắc cũng chưa tính được gì.”

Bà Lý hỏi con, “Vậy con bị họ quản chế bao lâu?”

“Dạ con cũng chưa biết, khi nào họ thấy được thì họ sẽ trả quyền công dân cho con.”

“Vậy không có thời hạn à?” Bà Lý ngạc nhiên.

“Họ không quy định thời hạn, cũng giống như lúc con đi ‘học tập’ vậy, ở trong trại họ nói chỉ khi nào tụi con có ‘tiến bộ’ thì mới được thả ra thôi.”

Hà kinh ngạc nghe Văn nói, không nhịn được cô chen vào, “Vậy sao họ lại ra thông cáo là ba năm?”

Văn không biết phải trả lời ra sao mọi người hiểu, nhớ lại những lời nói của các cán bộ ở trong trại anh giải thích, “Các cán bộ trong trại họ có giải thích rằng ba năm chỉ là cái ‘mốc thời gian’ để các trại viên ‘phấn đấu’ mà thôi, nếu trại viên có tiến bộ thì được thả còn nếu không thì phải tiếp tục ‘cải tạo’ vì họ bảo rằng thả những người chưa tiến bộ về thì sẽ không thích hợp với xã hội bên ngoài.”

“Vậy là họ định giam ‘vô thời hạn’ rồi!” Ông Lý thốt lên có vẻ bực tức.

Ông Lý đã từng sống trong vùng Cộng Sản kiểm soát ở miền Bắc trước khi di cư vào Nam nên ông rất hiểu chúng. Ông tin rằng họ chỉ dùng lời nói để phỉnh gạt người dân mà thôi. Người ta thường nói câu ‘nói láo như vẹm’ quả thật không ngoa tí nào.

Chiếc xe lửa tiến vào ga Bình Triệu, trên xe đã đầy hành khách. Hà và bà Nga xách những giỏ quà đầy ắp chen lấn để leo lên toa xe. Hà mặc chiếc áo bà ba màu nâu và quần đen đầu đội nón vải màu xanh trông như những người ‘buôn hàng chuyến’ trên xe lửa.

Từ ngày nhận được thư của ông Quân báo cho biết trại đã cho phép thân nhân được ra thăm nuôi, Hà và bà Nga lo mua sắm, nấu nướng đủ thứ để chuẩn bị cho chuyến đi này. Chú Tư biết tin cũng chạy tới chạy lui để giúp đỡ. Chú muốn theo Hà ra thăm ông Quân nhưng cô bảo với chú rằng chú còn phải lo chạy xe ôm kiếm tiền nuôi gia đình. Chuyến đi sẽ mất nhiều thời gian chú đi không tiện. Dì Nga quyết định sẽ đi cùng với Hà vì Văn không xin được phép đi đường. Nhà cửa thì để lại cho Văn trông nom.

Hôm đi mua vé xe lửa, Hà mới biết là rất khó khăn chứ không như cô nghĩ, cứ đứng xếp hàng chờ đến phiên là mua được. Hai ngày cô ra đứng xếp hàng nhưng cứ sắp đến phiên thì quày bán vé lại thông báo hết vé. Cuối cùng Hà đành phải cầu cứu tới chú Tư. Hà nói với chú, “Chú có thể tìm mua giúp tôi hai vé xe lửa không, tôi đã xếp hàng hai ngày rồi mà cũng không mua được.”

Chú Tư trả lời, “Để đó tôi lo, cô không biết chứ bây giờ có rất nhiều người sống bằng nghề xếp hàng mua hộ vé xe lửa đó.”

“Nghĩa là sao vậy chú?”

“Có một số người, nhất là những người bị đưa đi vùng ‘kinh tế mới’ không sống được, khi về trở lại Sài Gòn thì không còn nhà để ở. Họ phải sống ngoài đường, ngủ trong các vĩa hè hoặc ở nhà ga xe lữa. Sáng sớm họ thức dậy và đứng ở đầu hàng mua vé hộ để kiếm tiền sống qua ngày.”

“Tội nghiệp họ quá, vậy chú tìm họ nhờ mua dùm tôi hai vé.”

“Được rồi, để tôi lo. Giá vé sẽ gấp một rưỡi giá chính thức vì họ phải có lời nữa.”

“Dạ, không sao đâu chú. Tôi đã đi hai ngày nhưng phải chịu thua không mua được.”

Cuối cùng rồi Hà và dì Nga cũng đã leo lên được toa tàu. Chị Tám và chú Tư đi đưa hai người khuân mấy giỏ hàng giơ lên cao khỏi đầu trao lại cho hai người rồi la lớn, “Đi đường cẩn thận, cho tụi tôi gởi lời thăm ông.”

Con tàu lọc cọc chạy qua cầu Bình Lợi rồi bắt đầu tiến về miền Bắc, mang theo đầy nhóc hành khách.

Lần đầu tiên Hà phải di chuyển xa bằng một phương tiện vừa chật chội vừa ồn ào mất trật tự như thế này. Xe chạy cứ lắc lư nghiêng ngã, tiếng bánh xe nghiến vào đường sắt nghe ken két. Muốn ngủ thì phải nằm ngay dưới sàn xe gần bên các túi quà. Lại phải thay phiên nhau ngủ để trông chừng nhau và trông chừng các giỏ quà sợ bị cướp giật. Hà chưa bao giờ trông thấy một quang cảnh ‘bát nháo’ như thế. Cô nghĩ nếu không có dì Nga đi cùng thì cô không biết phải làm sao trong tình trạng như thế này.

Trên xe cũng có vài người đi thăm nuôi, đa số họ chỉ đi một mình hoặc với con nhỏ nên họ phải quây quần với nhau để giúp đở lẫn nhau.

Bà Nga đã biết dù cho Hà đã lăn lộn vào cuộc đời hơn ba năm rồi nhưng chất ‘tiểu thư’ vẫn chưa hết trong cô, cô chưa có thể chịu đựng một hoàn cảnh cực khổ được. Dì biết một cuộc hành trình như thế này không thể để Hà đi một mình nên dì phải chuẩn bị sắp xếp tất cả cho chuyến đi. Trước khi đi, dì đã liên lạc với những thân nhân ở Hà Nội để lúc đến nơi có chỗ cho hai người ở và đợi mua được vé xe lửa đi tiếp đến Quảng Ninh. Ngoài ra dì còn nhờ thuê sẵn người để phụ gánh hàng vào trại vì dì nghe trong thư ông Quân cho biết đường vào trại phải đi bộ hơn mười cây số. Đi một mình chưa biết Hà có đi được hay không huống gì còn mang xách nặng nề.

Một bà lớn tuổi trong nhóm đi thăm nuôi đến làm quen với dì Nga, bà hỏi, “Chị đi thăm chồng hả?”

Bà Nga cười chỉ tay vào Hà nói, “Không phải, tôi đưa cháu tôi đi thăm ba nó.”

Bà ấy nhìn Hà một lúc nhận thấy rõ ràng mặc dù cô đã ăn mặc như người chung quanh nhưng không thể dấu được dáng vấp ‘tiểu thư’. Bà nói, “Ồ, cô còn trẻ quá mà chịu khó đi thăm ba, tội không? Ông ở trại nào vậy?”

Hà trả lời, “Dạ ba con ở Quảng Ninh; còn dì đi trại nào?”

“Tôi đi thăm ông nhà tôi ở Vĩnh Quang.”

Rồi bà chỉ mấy bà ngồi chung nói, “Còn bà kia đi trại Lào Cai, một bà thì đi trại Hoàng Liên Sơn.”

“Sao nhiều trại quá vậy dì?” Hà ngạc nhiên hỏi.

“Ờ, không biết có tất cả bao nhiêu trại, nhưng tôi thấy hình như ở miền Bắc bây giờ tỉnh nào cũng có trại cải tạo hết.”

“Sao lại gọi là ‘trại cải tạo’ vậy hả dì?”

“Cô không biết hay sao? Họ gọi trại tù là trại cải tạo đó.”

“Dạ con có nghe nói nhưng không hiểu. Bây giờ nghe dì giải thích mới hiểu được.”

Một bà ngồi trong nhóm hỏi Hà, “Ba cô đi lính gì mà bị đưa ra ngoài Bắc vậy?”

“Dạ, ba con không có đi lính gì hết. Họ tịch thu nhà cửa rồi bắt ba con đi ‘học tập’ nói rằng ba con là ‘tư sản mại bản’ gì đó.” Hà ấp úng.

“Vậy mà họ cũng đưa ra Bắc à. Tôi nghĩ họ chỉ đưa quân nhân công chức ra Bắc thôi chứ?”

“Dạ, chồng con là công chức cũng bị đưa ra Hà Nam Ninh, mới được thả về không lâu, bây giờ họ mới cho phép đi thăm nuôi ba con nên con phải đi.”

“Còn mẹ cháu đâu mà không đi?”

“Dạ, mẹ con ở bên Pháp.”

Dì Nga cắt lời Hà như không muốn cô kể nhiều về gia đình, “Ông anh rể của tôi, tức là ba của cháu Hà đây, đưa vợ đi trước ngày ba mươi mà không chịu đi nên mới bị bắt khi họ đánh tư sản.” Rồi dì hỏi, “Các chị mới đi thăm lần đầu hay nhiều lần rồi?”

Một bà trả lời, “Mới lần đầu thôi, từ hồi chuyển ra Bắc đến nay họ chưa cho đi thăm nuôi bao giờ.”

“Nghe nói đường đi vào trại rất khó khăn, mình phải đi bộ rất xa, không biết có đúng như vậy không?” Một bà hỏi.

“Ở đây ai cũng mới đi ra thăm nuôi ở ngoài Bắc lần đầu, chưa ai biết đường đi nước bước ra sao. Tôi thấy ngay cả việc đi xe lửa từ Nam ra Bắc cũng đã vất vả như thế này, chắc phần còn lại cũng mệt không kém.” Một bà khác lên tiếng.

Câu chuyện xoay qua vấn đề phương tiện di chuyển, về chuyện mua vé xe lửa khó khăn.

Ba ngày sau khi ra đến Hà Nội, Hà và dì Nga mới nhờ mua được vé xe lửa để đi tiếp đến ga Quảng Ninh. Từ đó, họ phải đi bộ hơn mười cây số mới vào đến trại. Nếu dì Nga không thuê sẵn người gánh các giỏ quà không biết làm thế nào dì và Hà đi được đến trại.

Trên mười ngày đi đường vậy mà cũng chỉ được gặp chưa đến nửa giờ. Hà vừa ra về mà vừa khóc rấm rức! Ba trông như một ông lão nhà nông, người ốm hom hem, râu ria lún phún chen nhiều sợi bạc, đầu tóc không cắt tỉa, mặc bộ đồ tù xanh đã bạc màu. Không ngờ mới hơn một năm mà ba đã ra như vậy. Cả dì Nga cũng không nén được xúc động đã khóc òa lên khi gặp ông Quân.

—->Chương 22

This entry was posted in KALE, KALE, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s