MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT DÒNG SÔNG (Kale): 21-30

Chương 25

Chiếc xe đò ì ạch phun khói đen ngòm trên con đường đầy ổ gà. Những cánh đồng loáng màu phèn nâu lướt qua trước mặt. Hà ngồi trên chiếc ghế cạnh bác tài xế, hai tay ôm gọn bé Vi vào lòng.

Hành khách trong xe dường như đã thấm mệt sau gần sáu giờ ngồi chen chúc trên chiếc xe nóng hâm hấp của tiết trời cuối hè.

Buổi sáng hôm qua, Hà chở bé Vi bằng chiếc Honda của mình đi Sài Gòn. Cô đến nhà chú Tư để nhờ chú mua vé xe đò đi Cần Thơ, và cũng xin ở lại nhà chú một đêm để sáng hôm sau đi sớm. Dù không hỏi nhưng dường như chú đã hiểu Hà đang làm gì. Chú ái ngại nhìn Hà, “Được rồi, chiều nay tôi sẽ mua vé cho cô và cháu Vi, mai sẽ đi chuyến xe sớm nhất.”

“Dạ, cám ơn chú.” Hà đáp.

“Tôi có quen với anh tài xế xe tuyến đường Sài Gòn – Cần Thơ, tôi sẽ nói với anh ấy xếp cho cô ngồi chỗ tốt. Đường đi bây giờ xấu lắm, xe đò thì chật chội, cô lại không quen chen lấn.”

“Dạ!” Hà không biết trả lời chú Tư ra sao nên chỉ nói một chử dạ ngắn gọn.

“Cô cứ để xe ở đây tôi giữ dùm cho, khi nào về thì đến lấy.” Chú nhìn Hà có vẻ thương cảm, “Nghe nói bà ở bên Pháp đang làm giấy bảo lãnh cho cô phải không?”

“Dạ, mẹ tôi có nói, nhưng còn phải đợi anh Văn có giấy ‘chứng minh nhân dân’ mới làm được giấy bảo lãnh.”

“Bao giờ thì cậu Văn mới có giấy tờ?” Chú Tư hỏi một cách chiếu lệ.

“Chưa biết được, đã gần hai năm rồi mà họ cũng không chịu cấp giấy. Bây giờ họ còn buộc phải tìm việc trong hợp tác xã hoặc cơ sở hợp doanh thì mới được cấp giấy, nếu không thì họ sẽ đưa anh ấy đi ‘kinh tế mới’.”

“Sao kỳ vậy?” Chú Tư ngạc nhiên.

“Dạ, họ muốn làm khó anh ấy thôi, làm sao tìm được những việc làm như họ đòi hỏi trong khi dân chúng thất nghiệp đầy đường. Anh ấy đang làm nghề sửa giày nhưng họ nói đó là việc ‘cá thể’ và họ không chịu.”

Chú Tư chợt hiểu. Vậy là Hà không thể chờ đợi được việc bảo lãnh của bà Quân vì chính quyền địa phương làm khó cho Văn. Việc này thì chú đã thấy quá nhiều. Chính quyền mới này đã có chủ trương gây mọi khó khăn cho những người đi cải tạo trở về và gia đình của họ để ép họ phải rời khỏi thành phố. Chú cứ tưởng rằng điều đó chỉ xảy ra ở Sài Gòn nào ngờ cả ở Biên Hòa họ cũng thi hành chủ trương này.

Bây giờ thì chú đã khẳng định được Hà đang làm gì. Chú nhìn Hà tỏ vẻ ái ngại nói, “Tôi hiểu rồi, cô cậu phải làm những việc bắt buộc phải làm. Tôi mong cô cậu may mắn.”

Hà thở dài nói, “Dạ, cám ơn chú. Ba tôi đã mất, tôi cũng không còn gì nữa nên đành phải liều thôi. Với lại thằng công an phường cứ theo làm khó tôi hoài, không thể chịu nổi.”

Chú Tư trố mắt, “Có chuyện đó nữa à? Tôi không ngờ tụi này nham nhở như vậy?”

Nghe chú Tư nói, Hà chỉ cúi mặt không trả lời. Chú nói tiếp, “Thôi cô cứ an lòng đi, khi nào có gì thì nhắn cho tôi biết. Còn chiếc xe này cô tính giao lại cho ai tôi sẽ làm theo ý cô?”

“Dạ, lúc nào tiện chú giao nó lại cho em Nguyệt. tội nghiệp nó cũng đã lớn rồi mà không có xe cộ để đi tới lui.”

Chú Tư gật đầu, “Được rồi, việc đó tôi sẽ lo cho cô, nhưng cũng phải ít lâu để họ khỏi nghi ngờ.”

“Dạ, tùy chú.”

Sáng hôm sau chú Tư đưa mẹ con Hà ra tận bến xe gởi cho anh tài xế. Nhờ vậy mà Hà được ngồi ở chiếc ghế kế bên bác tài, đỡ bao nhiêu sự chen lấn ồn ào ở các băng sau.

Còn ba ngày nữa mới tới ngày hẹn. Hà đã đi trước để Văn ở lại nhà, anh vẫn ngày ngày ngồi ở trước cửa tiệm sửa giày để tránh những cặp mắt theo dõi. Hà đi bằng xe Honda như thường khi cô vẫn đi để không ai chú ý. Thêm vào đó hầu như mọi người trong xóm đều biết Hà đang được bảo lãnh từ bên Pháp nên cũng không ai nghi ngờ cô vượt biên. Chuyến ra đi của Hà rất êm xuôi.

Đến Cần Thơ vào khoảng bốn giờ chiều, Hà gọi chiếc xe đạp kéo đưa cô đến điểm hẹn là một tiệm nước ở gần chợ. Đến khoảng sáu giờ thì có một người đàn ông đi xe ôm đến chở hai mẹ con Hà đi vào một khu đồng ruộng rất vắng, chỉ có một vài ngôi nhà nằm rải rác. Cô dược đưa vào căn nhà của anh ta để ở tạm. Nơi đây đã có mười người đàn bà và hai đứa bé độ tám hoặc mười tuổi. Không có người đàn ông nào.

Gia đình chủ nhà gồm hai vợ chồng khoảng bốn mươi với một cô con gái độ mười lăm tuổi. Họ ở căn nhà trên còn tất cả khách đều được ‘ém’ vào một căn chòi nhỏ phía sau, phòng được bao chung quanh bằng tấm bồ làm bằng cót tre trông giống như cái bồ lúa, bên trong có đào sẵn một hầm vệ sinh. Dường như nhà đã được chuẩn bị để các khách ‘ở trọ’ sẽ không cần phải ra khỏi căn phòng trú ẩn.

Chỉ có bé Vi là nhỏ nhất, nhưng vốn dễ tính nên bé cũng không khóc nhè làm phiền cho người khác mặc dù suốt gần ba ngày tất cả đều phải ăn uống và vệ sinh tại chỗ, tối chỉ ngủ trên sàn được lót bằng một lớp đệm rơm.

Đợi mãi cũng không thấy Văn đến, Hà rất lo lắng nhưng không dám hỏi ai. Cô thấy các bà trong nhóm đều thì thầm với nhau về những ông chồng nên cô đoán có lẽ họ cho đàn ông ở những nơi khác.

Khoảng tám giờ tối, ông bà chủ nhà vào phòng chia nhóm người ra làm hai toán, một đi theo ông chủ còn toán kia theo bà chủ. Hà bế con đi theo toán của bà chủ vượt qua một vùng đầm lầy, có nơi sâu gần tới đầu gối rất khó bước đi nhất là đối với Hà, một cô gái chưa hề lặn lội trên đồng ruộng hoặc sông lạch. Một giờ sau đến bờ một con kênh nhỏ, cả nhóm leo lên một chiếc xuồng chèo bằng tay len qua những hàng dừa nước để ra một con sông khá lớn. Cuối cùng xuồng cập vào một chiếc thuyền bằng gỗ dài khoảng mười lăm thước ngang khoảng ba thước.

Sau khi leo lên thuyền, tất cả được đưa xuống khoang hầm có lát ván để khách nằm, trên mặt có đặt những bình đựng nước uống, bình dầu cặn và những quày dừa. Trong hầm tối om chỉ có một chiếc đèn dầu leo lét nên rất khó nhận diện được nhau. Tất cả được dặn phải giữ im lặng tối đa. Bé Vi và các cháu bé khác phải uống thuốc ngủ để tránh tiếng khóc.

Văn vào khoang thuyền từ trước nên quen với bóng tối, anh nhận ra được Hà và bé Vi. Họ đến ngồi vào một góc hầm chờ đợi.

Khoảng nửa đêm tiếng máy thuyền bắt đầu nổ ì ạch rồi chiếc thuyền bắt đầu di chuyển.

Ở trong hầm tối, tất cả đều im lặng nghe ngóng. Hà không biết được chiếc thuyền đang di chuyển về hướng nào và cũng chẳng ai biết họ đang đi trên con sông nào. Chỉ thấy lúc đầu tiếng máy nổ rời rạc rồi từ từ chạy nhanh hơn. Rồi có lúc thuyền chạy nhanh có khi lại chạy chậm cũng có khi ngừng hẳn lại im lặng.

Phần ăn mỗi người được phát rất hạn chế, có lúc ăn cơm, có khi chỉ ít cháo với muối, cũng có khi chỉ có một củ khoai lang luộc. Không ai biết được trời bên ngoài sáng hay tối. Vệ sinh đều diển ra tại chỗ nên hầm thuyền rất hôi thối.

Bỗng tất cả mọi người trong hầm đều cuống cuồng vì nghe tiếng súng nổ dồn dập từ xa. Bên trên có tiếng người la lớn, “Công an đang đuổi theo thuyền, cho máy chạy hết tốc lực, gần đến hải phận quốc tế rồi.”

Nghe tiếng ồn ào rồi tiếng máy thuyền nổ nhanh và ồn ào hơn, thuyền lắc lư rất mạnh. Tiếng súng mỗi lúc mỗi nghe xa dần. Phía bên trên nghe tiếng reo hò, “Thoát rồi, họ không còn đuổi nữa!” Tiếng vỗ tay ồn ào ở bên trên.

Một lúc lâu sau, có một người đàn ông bước xuống hầm nói, “Các ông bà ở bên dưới có thể lần lượt leo lên sàn trên được rồi!”

Khi Hà bước lên sàn thuyền cô thấy chói lòa cả mắt, phải nhắm mắt lại một lúc mới có thể nhìn thấy được. Thuyền đang ở giữa biển khơi, không còn thấy bờ đâu nữa. Sóng biển chỉ lăn tăn, con thuyền trông như một chiếc lá tre nổi lềnh bềnh trên mặt nước mênh mông.

Chiếc thuyền bắt đầu di chuyển chậm lại. Trên thuyền có tất cả ba mươi hai người, gồm mười hai người đàn ông, mười sáu đàn bà và bốn đứa trẻ.

Một người đàn ông đến gần Hà hỏi, “Cô là cháu của chị Nga đây phải không?”

“Dạ.” Hà đáp khẻ.

Ông ta nói tiếp, “Tôi có nghe chị Nga nói nhiều về cô. Tôi là Tân, em họ của ba cháu Nguyệt.”

“À, vậy chú là người tổ chức?” Hà mĩm cười hỏi.

Ông Tân cười lớn, “Một mình tôi thì làm sao nỗi, còn có mấy người bạn nữa.” Rồi ông ta vừa gật đầu có vẻ đắc ý vừa nói tiếp, “May quá, chúng ta đã đến hải phận quốc tế rồi nên tụi nó không đuổi theo nữa. Theo dự tính thì chúng ta sẽ hướng về Nam Dương, nhưng chỉ cầu trời thôi chứ ở giữa biển khơi thế này làm sao dám nói chắc là đi đúng đường được.”

Hà hơi lo ngại hỏi, “Cháu nghe nói trong nhóm đi có người trước đây làm nghề đánh cá phải không?”

“Có một người, nhưng ông ta chỉ đánh cá dọc bờ biển thôi chứ đâu có ra khơi bao giờ đâu.” Rồi ông nói tiếp, “Ghe chúng ta có ba mươi hai người kể cả trẻ em, tất cả đều là người nhà. Chạy thoát được tụi công an là đã qua được một giai đoạn, chứ mấy lần trước tụi tôi đi đều bị tụi nó chận bắt lại hết.”

Hà hỏi, “Lúc nãy cháu nghe tiếng súng nổ, có phải tụi công an rượt theo không chú?”

Ông Tân thở dài nói, “Ờ, cũng may tụi nó phát hiện trễ nên mình mới thoát. Từ sông ra đây tôi phải cho ém ghe biết bao nhiêu lần rồi, ngoài ra cũng đã lót đường hết mấy trạm canh rồi đó. Vậy mà cuối cùng còn bị bọn chúng rượt theo.”

“Ở giữa biển như thế này làm sao biết đường đi hả chú?” Hà lo lắng hỏi.

“Tôi có cái la bàn nhỏ, nhưng mình chỉ có thể định hướng đi mà thôi chứ cũng không thể nào định được vị trí con thuyền. Bây giờ mình chỉ còn hy vọng vào số mệnh và hy vọng có chiếc tàu nào đó của các nước tự do, may ra họ ra tay cứu mình.”

Suốt ngày đêm con thuyền lướt nhẹ trên mặt biển êm đềm. Những ngọn sóng lăn tăn đánh nhẹ vào mạn thuyền như vỗ về nó, các con cá bay lao lên khỏi mặt nước như chào đón đoàn người đang trên đường đến bến bờ tự do. Ban đêm trời tối om, trên mặt biển xuất hiện những vệt sáng màu xanh lục giống như những dây ngọc thạch đặt nằm trên tấm nhung đen.

Những người muốn ngủ thì xuống hầm để tránh mưa gió còn ai muốn hưởng gió biển thì ở lại sàn trên. Không khí mát lạnh của biển về đêm khiến ai cũng thấy khoan khoái. Hà suy nghĩ, nếu vượt biển mà cứ như thế này thì quả thật là như trong chuyện thần tiên!

Nhưng rồi chuyện ‘thần tiên’ ấy không còn nữa khi ngay vào buổi chiều hôm ấy trời bỗng nhiên sập xuống, những đám mây đen xuất hiện ở cuối chân trời rồi dần dần lan tỏa khắp cả bầu trời. Gió bắt đầu thổi càng lúc càng mạnh dần.

Những đợt sóng lúc đầu chỉ đập vào mạn thuyền tạo thành những tiếng tì tạch. Thuyền lắc nhẹ. Mọi người được yêu cầu xuống hầm chỉ chừa lại một vài người đàn ông phụ giúp anh thợ máy và ông lái thuyền để chống với cơn gió bão đang mạnh lên dần.

Hầu hết những người trong hầm bắt đầu ói mửa dữ dội. Hà cũng không tránh khỏi; chỉ có Văn và bé Vi lại không bị nhưng cả hai cũng bị vật vờ vì sự nhồi xốc của chiếc thuyền.

Tiếng máy thuyền nổ mạnh hơn như muốn cố gắng vượt qua những cơn sóng lớn. Mọi người dường như không còn cảm giác nào ngoài sự mệt mỏi vì nôn oẹ, chóng mặt vì sự lắc lư của con thuyền. Hà cố vịn lấy sườn mạn thuyền để khỏi té qua ngã lại nhưng không còn đủ sức. Ai cũng bị đưa dồn qua trái rồi qua bên phải tùy theo chiều nghiêng ngã của con thuyền. Lúc đầu còn nghe có tiếng nguyện cầu nhưng rồi không còn ai đủ sức nữa để mà cầu nguyện.

Tiếng ầm ầm của sóng biển, của sấm sét cùng với tiếng nổ của máy thuyền hòa lẫn với nhau tạo nên một âm thanh kỳ quái khiến mọi người đều lo sợ cho số phận của chiếc thuyền mong manh trên đại dương và nghĩ có lẽ họ không thể vượt qua được cơn bão dữ dội này.

Văn ôm Hà và bé Vi vào lòng như cố bảo vệ vợ con trong khi đó Hà đã ngất xĩu.

Hà từ từ tỉnh dậy trong sự im lặng nặng nề của đêm tối, cô hé mắt nhìn quanh tìm Văn và bé Vi, nhưng không thấy được gì ngoài một màu đen. Không biết mình còn sống hay đã chết mà xung quanh lại im lặng và tối tăm như thế này, cô giơ tay sờ soạn quanh mình bỗng tay cô chạm phải một người nào đó. Lúc đó cô mới dám xác định mình vẫn còn sống bèn gọi to lên, “Anh Văn ơi, bé Vi ơi, ở đâu hết rồi?”

Có tiếng bé Vi ở gần đâu đó, “Mẹ ơi, con đây nè!”

Cố định thần để quen với bóng tối, Hà nhận ra Văn và bé Vi lờ mờ ngồi trong một góc hầm, cách xa cô khoảng trên một thước. Bên trong hầm, người nằm ngồi la liệt. Không khí im lặng một cách kỳ lạ. Hà bò chậm chạp về phía chồng con rồi ngồi dựa vào khoang thuyền gần bên. Cô hỏi, “Hết bão rồi hả anh?”

“Ừ, hết cũng khá lâu rồi. Lúc em bị văng ra khỏi tay anh, trời tối quá mà cũng không có đèn nên anh không biết em ở đâu.”

Hà kể lể, “Lúc em bất tỉnh, em cứ tưởng thuyền lật úp rồi chứ, em tưởng em đã chết rồi!”

“Anh và bé Vi dù không bị ói mữa nhưng cũng chóng mặt dữ dội. Anh cũng nghĩ là thuyền sẽ bị lật úp, nhưng không ngờ nó lại có thể yên ổn. Gió mạnh quá.”

Những người trong khoang thuyền cũng lần lượt tỉnh lại. Tiếng nói chuyện thăm hỏi nhau nghe rì rầm giữa cái yên vắng của biển khơi.

Một lát sau có người từ bên trên mở cửa hầm đi xuống nói, “Trời bắt đầu sáng rồi, bão cũng tan rồi, bà con ai muốn lên trên thì cứ leo lên cho thoáng một chút.”

Mặt trời đỏ chói vừa ló lên ở một góc trời tỏa ra một ánh sáng rực rỡ. Bầu trời trong xanh không một bóng mây. Chiếc thuyền lềnh bềnh trôi nhẹ nhàng, không một tiếng động gì ngoài tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền. Hà bỗng nhớ đến câu ‘sau cơn mưa trời lại sáng’. Quả thật là đúng. Cơn bão đã qua, bầu trời thật quang đãng. Hà mong sẽ không còn cơn bão nào xảy ra nữa. Nếu biển cứ yên lặng như thế này thì chắc chuyến đi sẽ dễ dàng hơn.

Bỗng Văn đột nhiên lên tiếng, “Em xem, hình như chiếc thuyền không chạy tới trước mà chỉ đứng một chỗ.”

Nghe chồng nói Hà cúi nhìn xuống mặt biển bên hông thuyền. Cô nói, “Em cũng thấy hình như thuyền chỉ đậu một chỗ.”

Nghe tiếng hai người nói với nhau, nhiều người chạy về phía đuôi thuyền quan sát rồi cùng la lên, “Ông chủ ơi, sao chiếc thuyền của mình không di chuyển nữa?”

Ông Tân biết không thể dấu được mọi người bèn lên tiếng, “Xin lỗi bà con, tối hôm qua bão lớn quá nên trục quay chân vịt đã bị gãy, anh thợ máy đang tìm cách sửa xem có được không. Có gì tôi sẽ báo cho bà con biết.”

Văn tỏ ra hiểu biết hỏi, “Trục quay chân vịt gãy thì làm sao chữa được? Chỉ có việc thay cái khác thôi! Ông có đem theo một cái để dự phòng không?”

Ông Tân lúng túng, “Đâu có tính đến trường hợp này mà mua thêm cái trục ‘sơ cua’?”

Một người đàn bà hỏi, “Vậy làm sao bây giờ hả ông?”

Ông Tân im lặng.

Đến bây giờ thì dường như mọi người trên thuyền đã hiểu tình cảnh của chiếc thuyền và của chính họ. Chiếc thuyền cứ bồng bềnh giữa biển khơi không biết đi về hướng nào. Ông Tân cầm chiếc la bàn cố xác định hướng trôi của chiếc thuyền nhưng ông cũng không làm sao biết được vì ông thấy dường như nó chỉ xoay vòng ở một nơi. Nhìn xuống mặt nước biển ở hông thuyền không còn thấy có làn sóng rẽ nước như trước.

Cơn bão tối hôm qua không biết đã đưa chiếc thuyền đến nơi đâu ở giữa biển khơi này. Gió bây giờ lại rất nhẹ. Ông Tân tìm một mảnh vải nhỏ gắn vào que để định hướng gió xem coi thuyền đang trôi theo hướng nào. Nhưng ông cứ thấy chiếc thuyền hết xoay bên phải đến bên trái. Thuyền không trang bị cột buồm mà trên thuyền cũng không có mái chèo nên ông cũng không biết làm sao để thuyền có thể di chuyển. Chẳng lẽ phải chịu chết giữa biển khơi hay sao?

Buổi chiều gió thổi mạnh hơn. Chiếc thuyền vừa xoay vòng tròn vừa trôi theo hướng gió giống như chiếc lá trôi trên giòng suối, không biết khi nào nó sẽ bị nhấn chìm. Không ai bảo ai mọi người đều lần lượt xuống hầm ngồi cầu nguyện, kể cả ông Tân và các người thợ máy cũng như ông lái thuyền. Bây giờ thì mọi người chỉ còn biết cầu nguyện và trông chờ vào vận may.

Văn, Hà và bé Vi ôm lấy nhau nép vào một góc để chịu đựng cơn quay tròn của thuyền. Sóng không lớn như hôm trời bão nhưng mọi người đều bị chóng mặt say sóng, ói mữa nhiều hơn. Đến khi không còn gì trong dạ dày để ói ra nữa thì họ bắt đầu ói ra nước bọt và mật đắng.

Cứ như thế, một tuần lễ trôi qua, khi thì biển êm, khi thì sóng gió. Con thuyền cứ trôi lềnh bềnh không biết về đâu. Mọi người chỉ còn chờ đợi thần chết hoặc một phép lạ. Đã có hai người đàn bà không chịu nỗi nằm gục bất tỉnh. Ông Tân đến sờ vào mũi họ mới biết cả hai đều còn sống nhưng hơi thở đã quá yếu, không biết sẽ ngưng lúc nào.

Thức ăn vẫn còn nhưng cũng không có bao nhiêu người có thể ăn được mặc dù rất đói. Cứ mỗi khi thuyền xoay vòng thì hầu như mọi người đều bị ói mữa. Chỉ còn có thể nhấp chút nước cầm hơi.

Các can nước ngọt đã cạn dần, mấy trái dừa cũng đã hết. Hà biết nếu không bị chết vì kiệt sức thì rồi cũng sẽ chết vì đói và khát. Cô cũng đã thấy mệt lã, chỉ còn bé Vi và Văn là thấy còn tương đối còn sinh khí. Hà cũng rất ngạc nhiên không hiểu tại sao. Có lẽ anh Văn đã sống mấy năm trong trại cải tạo nên sức chịu đựng cao hơn, riêng bé Vi có lẽ do một lý do đặc biệt nào đó mà có sức chịu đựng rất khác với mọi người.

Một buổi chiều, biển khá yên lặng. Mọi người đều leo lên phía trên thuyền để hít thở chút khí trời và chuẩn bị thức ăn. Bỗng có tiếng anh thợ máy vang lên, “Có tàu ở đàng xa kìa!”

Tất cả quay về phía mà anh thợ máy chỉ tay thì thấy có một điểm đen nhỏ ở tít cuối chân trời.

Ông Tân la lên, “Chúng ta tìm vài tấm vải tẩm dầu cặn đốt lên cho họ nhìn thấy mình.”

Mấy người đàn ông nghe lời ông Tân tìm được mấy tấm vải vụn trên sàn tàu rồi lấy thêm mấy chiếc áo lót tẩm vào dầu cặn đốt và quạt cho khói bay lên cao.

Một lúc lâu sau, chiếc tàu hiện ra rõ dần. Vì không thấy treo cờ nên không ai đoán được tàu của nước nào. Chiếc tàu có lẽ đã nhìn thấy làn khói xin cấp cứu nên tiến về phía chiếc thuyền. Đến khi nhìn rõ những người đứng lố nhố trên tàu thì mọi người trên thuyền đều tỏ vẻ lo lắng. Trên tàu có khoảng mười người đàn ông lực lưỡng, da nâu đen, tóc râu tua tủa, có người chỉ mặc có chiếc quần đùi, thân người đầy những vết chàm xâm đủ loại hình thù. Không ai bảo ai, mọi người trên thuyền đều biết đó là những người đánh cá đồng thời cũng là cướp biển mà họ thường nghe nói đến. Nhưng làm được gì bây giờ đây? Trên thuyền không vũ khí, máy thuyền đã hỏng nên cũng không thể chạy trốn được! Chỉ còn một việc là đành để cho họ muốn làm gì tùy ý mà thôi.

Một tên trong bọn vừa ném dây qua mũi thuyền vừa nói những tiếng gì mà không ai hiểu được. Khi tàu đã áp vào chiếc thuyền, hai tên lực lưỡng cầm dao dài nhảy qua chỉ chỏ và nói líu lo. Ông Tân chỉ tay vào máy thuyền rồi lắc đầu ra dấu máy đã hư, xong ông chỉ vào bụng và cổ rồi làm dấu như đang ăn và uống nước.

Một tên cầm dao quơ qua quơ lại rồi la lên, “Gold, gold.” Văn chợt hiểu ra bèn nói, “Họ bảo mình đưa vàng cho họ.”

Hà móc trong người ra một lá vàng đưa cho ông Tân rồi chỉ tay vào tên cầm dao. Tên ấy cầm lấy tấm vàng rồi quơ tay vào những người khác ra lệnh bảo phải nộp thêm vàng. Mọi người sợ sệt vội lấy vàng ra trao cho hai tên cướp.

Hai tên cướp lấy vàng xong quay về tàu la lên mấy câu gì đó, thấy có mấy tên bên chiếc tàu gánh qua bốn can nước và một bao gạo chuyển qua thuyền rồi tất cả trở về tàu, tháo dây ra và lái tàu ra xa.

Mọi người trên thuyền đều mừng rỡ vì không ai ngờ bọn này chỉ lấy vàng chứ không hành hạ họ, mà lại còn cho nước và gạo.

Trời bắt đầu tối. Chiếc tàu kia vẫn còn chạy gần với thuyền chứ không bỏ đi hẳn. Gió bắt đầu thổi mạnh hơn, con thuyền lại xoay vòng. Một số đàn bà và trẻ con chui xuống hầm, còn lại những người đàn ông ở lại bên trên để trông chừng chiếc tàu của bọn cướp vẫn còn chạy gần bên.

Một lúc sau khi trời đã tối hẳn, chiếc tàu đánh cá lại tiến đến gần rồi cặp vào thuyền. Mấy người trên tàu cột hai chiếc thuyền dính lại với nhau khiến chiếc thuyền không còn xoay tròn nữa.

Đám ngư phủ trên tàu đánh cá leo hết qua thuyền. Hai tên mang đao dài đứng một phía trong khi các tên khác cầm dao ngắn bắt mọi người trên thuyền leo hết lên sàn trên.

Họ dồn những người đàn ông và trẻ em ở đầu thuyền còn đám đàn bà ở cuối thuyền. Hai tên cầm dao dài chia ra đứng canh hai nhóm còn các tên còn lại lùng xục khắp nơi trên thuyền. Chúng không bỏ sót một xó xỉnh nào dù nhỏ nhất để kiếm cho được tư trang vàng bạc.

Xong việc lùng xục ấy, chúng bắt đám người vượt biên phải cởi bỏ hết quần áo ngoài rồi bắt từng người ra khám xét và tịch thu tất cả số vàng bạc tư trang trong người và trong quần áo. Kễ cả các đứa bé cũng không được tha. Bé Vi khóc thét lên khi bị khám xét khắp mình mẫy. Trong khi tên cướp cười ha hả thì Hà và Văn đành phải yên lặng nhìn vì chính hai người cũng đang chúng bị khám xét.

Khi đã thu hết các tư trang, bọn cướp bỏ vào một túi vải ném về phía tàu của chúng rồi bắt đầu tiến về phía những người đàn bà, trong khi hai tên cầm dao dài được phân công gác bên phía các người đàn ông. Những người đàn bà đang đứng ngồi tênh hênh với đồ lót sợ quá gom chụm vào nhau. Bốn tên tiến vào lôi bốn cô gái trong đó có cả Hà ra để bắt đầu hãm hiếp. Các người đàn ông đứng cũng không xa nhưng trước hai thanh dao dài không ai dám làm gì.

Văn ngồi nhìn thấy Hà đang bị hành hạ không thể chịu được đành phải nhìn sang chỗ khác.

Sau một lúc dãy dụa, Hà không thể chịu nỗi sức mạnh của tên cướp nên đành nằm im để mặc nó hành hạ.

Xong việc, bốn tên ấy đứng lên để thay bốn tên khác tiến vào chọn lựa bốn cô gái khác. Một tên nhìn Hà cười ha hả chỉ tay về phía cô. Hà sợ quá chạy về phía đám đông la to lên, “Cứu tôi, cứu tôi.” Nhưng cô vẫn không thoát khỏi bàn tay của hắn. Văn không chịu nỗi cảnh lại ấy cúi mặt nhìn sang hướng khác. Bé Vi nghe tiếng mẹ la vùng vuột khỏi tay Văn chạy về phía mẹ.

Đột nhiên thấy bé Vi thoát khỏi tay mình, không kịp suy nghĩ Văn vùng chạy theo. Một ánh dao lia ngang người Văn khiến anh ngã xuống oằn oại trong vũng máu trong khi một tên cướp đứng gần đó nắm lấy cổ bé Vi ném về một phía. Bé Vi chịu không nỗi cái ném té chúi về phía thành chiếc thuyền rồi rơi tỏm xuống biển.

Hà chứng kiến từ đầu tới cuối cảnh ấy không chịu đựng nỗi. Rồi không hiểu do một động lực nào xui khiến, Hà đạp mạnh vào tên cướp đang đè trên mình cô khiến hắn ngã ngữa ra. Không để hắn kịp đứng lên, Hà lao về phía bé Vi la lên, “Vi … ơi!” Rồi cả cô lẫn bé Vi rơi mất hút dưới mặt biển đen ngòm, đang dậy sóng.

Mọi người trên thuyền đều như chết đứng trước thãm cảnh vừa xảy ra.

—->Chương 26

Advertisements
This entry was posted in KALE, KALE, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.