MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI (Kale): Phần V

-Chương 48-
Đợt Thả Năm 1988.

Ở trong trại cải tạo thì quả thật không có gì buồn cho bằng mỗi lần thấy bạn bè được thả ra mà chính mình thì vẫn còn tiếp tục ở lại. Niềm vui nhìn thấy bạn được ra về không thế nào bù đắp cho được nỗi buồn cho thân phận mình không biết ngày mai sẽ ra sao.

Gần mười ba năm tù đã trôi qua với không biết bao nhiêu lần ngồi trong hàng để nghe đọc tên những người được ra khỏi trại. Bao nhiêu lần hồi hộp chỉ mong có tên mình trong danh sách ấy, rồi cũng bao nhiêu lần thất vọng lủi thủi đi theo đội xuất trại lao động trong khi những người được ra về thì vui cười trở vào phòng dọn dẹp đồ đạc trước khi rời trại! Mười ba năm qua từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vào Nam, tôi không thể nào nhớ nỗi đã có bao nhiêu lần như vậy đã xảy ra. Có lần dăm mười người, cũng có lần vài chục người. Lúc đầu còn thấy chán nản, xôn xao, còn có những đêm nằm suy tư mất ngủ, nhưng dần dần chỉ còn thấy một chút gì đó xao xuyến rồi đâu lại vào đấy! Cuộc sống hàng ngày trong trại vẫn phải tiếp tục, phải cố gắng phấn đấu để sinh tồn.

Có người bảo rằng khi ở tù quá lâu thì con người bị chai lỳ đi, nhưng tôi lại nghĩ đó không phải là sự chai lỳ mà là sự chấp nhận, chấp nhận những cái gì xảy đến ngoài tầm tay mình, cho dù điều đó tốt hay xấu. Ở tù không thể là một sự chai lỳ, không phải là một thói quen, mà là một sự chấp nhận hoàn cảnh.

Khi trở về miền Nam, được gặp gia đình thường xuyên hơn, được nghe gia đình kể về cuộc sống của những người bạn đã được thả ra. Có người kết luận rằng họ được ra khỏi cái nhà tù nhỏ là trại cải tạo để sống trong một nhà tù lớn hơn, đó là xã hội của những người Cộng Sản. Thậm chí còn có người cho rằng ra ngoài “xã hội” họ thấy còn “mệt” hơn là ở trong “trại cải tạo”! Nói thì nói thế thôi chứ có mấy ai không thấy vui mừng khi được nghe tên mình rời khỏi trại cải tạo, và có ai lại muốn đánh đổi cuộc sống ở bên ngoài để vào trở lại trại cải tạo?

Từ năm 1985, trại Z30D cũng có những chuyển biến khác lạ. Từ khi Nhu bắt đầu nắm quyền hành thì chúng tôi thấy nhiều dấu hiệu khác thường! Ngoài việc phải lao động vất vã hơn thì có nhiều điều trước kia rất cấm kỵ mà lúc này lại trở nên rất thông thường. Hát “nhạc vàng” trước đó có thể coi như một là một trọng tội. Khi chúng tôi muốn nghe anh Nghiêm Phú Phát hát cho nghe mấy bản “nhạc hải ngoại” như bản “Một chút quà cho quê hương” của Việt Dzũng hoặc bản “Sài Gòn vĩnh biệt” của Nam Lộc thì chúng tôi phải cắt người canh chừng hai đầu nhà và lại còn phải lựa chọn “thính giả” nữa. Những người hát nhạc vàng mà bị báo cáo hay bắt gặp là vào ngay nhà kỷ luật. Thế mà khi Nhu lên nắm quyền, vào những đêm lao động đào hồ thủy điện, những băng cát sét nhạc vàng và nhạc hải ngoại lại được hát một cách công khai cho mọi người nghe để lấy “khí thế” lao động! Những bộ phim chưởng Trung Hoa lại biến thành những buổi chiếu bóng “bồi dưởng” cho trại viên đi lao động đêm. Tiếp theo đó thì đội văn nghệ được phép chọn một số những bản nhạc vàng để trình diễn kèm với nhạc “cách mạng”.

Các gia đình lên thăm nuôi cũng cho biết rằng những hiện tượng này cũng là những điều đang xảy ra ở ngoài xã hội. Những bản nhạc gọi là “nhạc cách mạng” và những phim có tính cách tuyên truyền không còn được dân chúng ủng hộ nửa. Ngay cả những người làm cho VC cũng không muốn thưởng thức chúng nửa mà mọi người bây giờ lại bắt đầu trở lại với “nhạc vàng” và “phim chưởng”.

Thêm vào đó thì nền kinh tế của đất nước hiện đi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Sau khi chính sách “ngăn sông cấm chợ” của nhà nước VC bị thất bại, họ bắt đầu cho nới rộng việc giao thương buôn bán, tuy nhiên vẫn không thể cứu vản nỗi một nền kinh tế vốn đã suy tàn của đất nước. Cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở các tỉnh ở biên giới phía bắc Việt Nam đã biến Việt Nam và Trung Quốc trở thành hai “kẻ thù trước mắt”. Trung Quốc không còn là một hậu thuẩn vững mạnh của Việt Nam nữa. Liên Sô và các nước Đông Âu bắt đầu giai đoạn đổi mới để mong hồi phục phần nào nền kinh tế đang què quặt của các nước ấy, do đó họ cũng không còn có thể giúp cho Việt Nam được. Trong nước thì chính sách hợp tác xã nông nghiệp hoàn toàn thất bại. Nông dân rời bỏ ruộng vườn lên thành phố để kiếm ăn. Các vùng “kinh tế mới” không thể phát triển được và những người đi “kinh tế mới” lục tục kéo về lại thành phố tạo nên một thành phố ăn không ngồi rồi. Nền kinh tế của Việt Nam dựa vào nông nghiệp mà ruộng đất thì lại bỏ hoang, thành phố thì phi sản xuất.

Cùng lúc ấy thì chính sách cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam càng làm cho nền kinh tế tồi tệ hơn. Việt Nam giờ đây chỉ còn dựa vào số hàng hóa và ngoại tệ cung cấp bởi những người di tản gởi về cho thân nhân trong nước. Xã hội lúc ấy thì ngoài hai giai cấp thống trị (những người Cộng Sản cao cấp) và giai cấp bị trị, thì bắt đầu sản sinh một giai cấp mới, đó là những người có thân nhân nước ngoài gởi về để “viện trợ”. Kinh tế đất nước trở thành một nền kinh tế “ăn bám”.

Ngoài ra thì thân nhân trại viên cũng cho biết rằng Mỹ đang có những đợt đàm phán với VC về vấn đề “tù binh chiến tranh” (P.O.W.) và “những người Mỹ mất tích” ở Việt Nam (M.I.A.). Củ “cà rốt” của “Chú Sam” là việc bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Trong những cuộc hội đàm này, họ cũng có đề cập đến những người tù “cải tạo” của Việt Nam Cộng Hòa. Một lần nửa, chúng tôi lại có một chút hy vọng; hy vọng ở những người “đồng minh” đã bỏ rơi mình suốt mười mấy năm trong lao tù Cộng Sản.

Quả thật thì chúng tôi không còn gì để mong đợi. Mười mấy năm qua chúng tôi không còn một tổ chức nào để làm chỗ dựa, không còn một chính quyền nào để mà trông chờ. Có một chút hy vọng cho dù mong manh vẫn còn hơn không có gì cả. Tôi vẫn luôn nhớ lời của anh bạn Muông, người tù thời “Nhân văn giai phẫm” ở miền Bắc Việt Nam rằng “ở tù Cộng Sản mà không có án tức là không bao giờ có ngày về ngoại trừ có một phép lạ”, và chúng tôi đang trông chờ cái phép lạ ấy. Vẫn biết rằng người Mỹ chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ hơn là số phận của chúng tôi, nhưng ít ra đó cũng là một chút bám víu để mong một “phép lạ” xảy đến. Có còn hơn không!

Những ngày tháng vẽ tranh với Điệp, bạn tôi, trong phòng vẽ cũng là những ngày tháng mà tôi cãm thấy bơ vơ và lạc lõng nhất. Mặc dù lúc ấy quả thật tôi rất nhàn hạ, nhưng cứ mỗi lần anh bạn mình được vợ con vào thăm rồi lại được ở lại qua đêm thì tôi lại thấy hụt hẩng làm sao! Tôi vẫn thường tự nhũ rằng “đất nước mất vào tay Cộng Sản là mất tất cả”, cũng như tôi vẫn tự an ủi rằng tôi không còn là “vật cản đường tiến” của vợ tôi nữa. Nhưng cứ mỗi khi nhìn cảnh đầm ấm của người rồi nhìn lại mình tôi vẫn cãm thấy có một điều gì đó đau lòng và chán nản. Nhiều khi tôi tự hỏi tại sao trong cùng một hoàn cảnh mà người thế này kẻ lại thế kia? Tôi không ganh tị với hạnh phúc của người khác mà chỉ cãm thấy buồn cho thân phận của mình mà thôi. Dù thế nào thì cũng phải chấp nhận hoàn cảnh. Chấp nhận rồi lại đổ cho “phần số”, đó là phương cách dể dàng nhất để tự an ủi mình.

Đầu năm 1988, những tin tức về một đợt phóng thích rộng rãi càng lúc càng dồn dập. Trại Z30D lúc ấy là trại cải tạo duy nhất ở miền Nam còn giam giữ các trại viên thuộc “chế độ cũ”. Tất cả các trại viên thuộc dạng này ở trại Z30C đều đã được chuyển sang trại Z30D, và trại Z30C chỉ còn giam giữ phạm nhân hình sự. Con số trại viên thuộc dạng “chế độ cũ” trong hai phân trại K1 và K2 của trại Z30D lúc ấy lên đến con số trên một ngàn người. Tôi nghĩ chắc phải có một biến chuyển nào đó thì VC mới chịu thả chúng tôi ra để mà “đóng cửa trại” như chúng tôi vẫn thường nói.

Những ngày cận Tết có một phái đoàn Bộ Nội Vụ của VC vào trại và gọi nhiều trại viên lên để “làm việc”. Qua thời gian ở các trại cải tạo, chúng tôi đã biết rằng đó là giai đoạn gặp gỡ sau cùng ở trong trại để “họ” có dịp dụ dỗ, hăm doạ ngõ hầu những người ra về sẽ cộng tác với họ sau này.

Tối ngày 18 (?) tháng giêng năm 1988, Điệp và tôi còn phải ở lại trễ trong phòng vẽ vì Nhu đang ở đó để xem chúng tôi làm việc. Đột nhiên, hắn hỏi tôi: “Không biết trước kia mày làm gì mà các ông ấy nhất định không chịu thả mày mặc dù tao đã đề nghị nhiều lần?” “Mày tao” là cách nói chuyện của Nhu với các trại viên. Tôi ngạc nhiên và cũng có hơi ngỡ ngàng trả lời hắn: “Tôi làm gì thì chắc là ban cũng đã biết vì tất cả đều nằm trong hồ sơ! Tôi nghĩ chắc là ban chưa đề nghị đúng mức mà thôi!”

Hắn không nói gì thêm mà cũng không đề cập gì đến Điệp dù lúc ấy thì Điệp cũng đứng gần đó. Tuy nhiên lời nói của hắn đã đủ cho tôi biết rằng lần này cũng sẽ không có tên của tôi trong danh sách ra trại. Đó là lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi biết trước số phận của mình, và cũng là lần đầu tiên mà tôi cãm thấy buồn vì mình sẽ không được ra về cùng với bạn bè.

Đêm ấy trong phòng giam, tôi không ngủ được ngồi đàn hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, tất cả mọi bản nhạc cổ điển mà tôi đã học được trong thời gian ở trại Z30D. Những bản nhạc Việt Nam soạn riêng cho Tây Ban Cầm cũng như những bản nhạc Tristesse của Chopin, Serenade của Schubert, hợp khúc cung đô trưởng của Paganini vân vân đã được tôi đàn đi đàn lại nhiều lần. Tôi không biết hôm ấy tiếng đàn của tôi có buồn bã lắm hay không, hoặc là mọi người đều đang hồi hộp mong chờ ngày mai, nhiều người trong phòng giam cũng đang nằm thao thức. Thỉnh thoảng tôi nghe đâu đó có tiếng thở dài.

Buổi sáng hôm sau, sân tập họp lao động có không khí khác lạ, các cán bộ hiện diện đông hơn mọi khi. Sau khi các đội nữ xuất trại, một số cán bộ mang cặp giấy vào và bắt đầu gọi tên những người được “tha ra khỏi trại.”

Mặc dù biết trước sẽ không có tên mình, nhưng khi nghe họ đọc tên từng người một, tôi vẫn cảm thấy hồi hộp. Danh sách thả quá dài! Hầu như mọi người đều được đọc tên. Tôi bàng hoàng cả người, chẳng lẽ họ thả nhiều như thế mà cũng vẫn không có tên mình? Điệp ngồi cạnh tôi được đọc tên lúc nào tôi cũng không hay, và anh ta cũng không có dấu hiệu gì khiến tôi nhận ra. Bạn bè ai được về ai ở lại tôi cũng không biết. Tôi chỉ cố nghe xem có tên mình hay không; tôi chỉ mong Nhu đã nhớ lầm! Đến lúc chấm dứt cũng vẫn không nghe tên mình, tôi thẩn thờ đứng dậy đi vào buồng. Lúc đó mới biết mọi người hầu như được thả ra, số không có tên quá ít ỏi so với số ra khỏi trại.

Những người được ra về gọi nhau ơi ới, chuẩn bị đồ đạc để chia chác cho những người ở lại, hoặc cho các trại viên có án mà họ quen biết trong trại, hay gởi qua ban thi đua để cho các trại viên nữ. Tôi ngồi nhìn mọi người ra về mà không có một phản ứng nào hết. Điệp và các bạn đến giao đồ đạc lại cho tôi mà tôi cũng không hay biết gì.

Cuối cùng thì tất cả đã ra văn phòng cơ quan để làm thủ tục ra khỏi trại. Số còn lại chưa tới hai mươi người. Chúng tôi giật mình nhìn nhau. Tại sao lại thế này, tại sao họ có thể thả gần hết mọi người mà chỉ giữ lại một số ít ỏi như thế này? Họ đang làm gì đây?

Chúng tôi, số còn lại được dồn vào buồng số 1 của khu A để trống các buồng khác cho Thường Trực Thi Đua điều động các trại viên quét dọn để đón các tù mới. Chiều hôm ấy thì lệnh từ trại trưởng Nhu đưa chúng tôi ra các nhà lô để ở. Các người thuộc đội mộc như Hùng, Diễm, và tôi thì ra nhà lô đội mộc. Các người làm ở bếp như Cang, Nghi thì qua nhà bếp. Các người ở phân trại K2 thì ở lại bên ấy để chăn bò và gà vì sau đó phân trại K2 được bỏ trống và biến thành trại chăn nuôi bò và gà vịt của trại Z30D.

Đêm đầu tiên ngủ ngoài trại, tôi nằm một mình trong phòng vẽ thao thức nghe tiếng ếch nhái và côn trùng rên rỉ mà suy nghĩ về số phận của mình. Giờ này chắc là Điệp đã về đến nhà, và chắc gia đình tôi cũng đã biết tôi vẫn còn ở lại trong trại. Không biết gia đình tôi nghĩ ra sao khi thấy tôi không thể “tiến bộ” được mặc dù đã gần mười ba năm cải tạo?

Sau đó khoảng hai tuần thì số còn lại ở trại Nam Hà được đưa vào trại Z30D để nhập chung với chúng tôi. Tổng số trại viên còn lại trong trại cải tạo sau đợt thả năm 1988 là 210 người, trong số có một số cấp tướng lãnh như: Đảo, Tất, Trường, Thân, Sang, Giai, một số cấp đại tá như Xảo, Của, Hản, Tấn, Phô, vân vân. Số còn lại đa số thuộc các thành phần An Ninh Quân Đội, Cảnh Sát Đặc Biệt, Trung Ương Tình Báo của VNCH. Chúng tôi bước vào giai đoạn bốn năm cuối của mình trong trại cải tạo Z30D.

Đài phát thanh Hà Nội sau đó loan báo rằng họ đã thả hầu hết những người của “chế độ cũ”. Số rất ít còn lại là thành phần “có nợ máu với nhân dân và không chịu cải tạo nên không thể thả ra được”. Cách nói này của Cộng Sản đã quá quen thuộc đối với chúng tôi, do đó không làm chúng tôi suy nghĩ nhiều. Chỉ có một điều mà chúng tôi không hiểu là họ có dự định gì đối với chúng tôi, số rất nhỏ còn lại này!

—>Chương 49

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, KALE. Bookmark the permalink.