MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI (Kale): Phần V

-Chương 50- Trại Z30D Tiếp Tục Thay Đổi.

Đợt thả đầu năm 1988 đã khiến trại Z30D giãm hẳn con số trại viên xuống, do đó phân trại K2 đã được loại bỏ và trở thành một trại nuôi bò và gà vịt. Số bò trước đó được nhốt ở chuồng bò trong phân trại K3 cũ được chuyển hết sang K2. Các phạm nhân hình sự lần lượt được điều về lấp đầy phân trại K1 và trở thành lực lượng lao động chính của trại. Nhu đã nắm giữ chức vụ trại trưởng sau khi loại trừ được Ý. Tất cả các “đối thủ” khác đều bị Nhu tìm cách này hay cách khác loại ra khỏi trại. Hắn ta đưa người của mình lên nắm các chức vụ then chốt trong trại. Một nữ cán bộ tên là Phúc được đưa lên làm trại phó, trưởng phân trại K1 lúc đầu là Binh sau đó là Tư, mới chỉ là trung úy. Mọi quyền bính thật sự đều nằm trong tay của Nhu; hắn ta tha hồ làm mưa làm gió ở trại Z30D.

Hai lãnh vực lớn mà Nhu nhắm tới vẫn là lâm sản và xây dựng. Đập thủy điện sau khi hoàn tất đã cung cấp được điện cho trại và khu cơ quan trong mùa mưa và một phần trong mùa nắng. Tuy nhiên lòng hồ cứ cạn dần, do đó trại viên phải ra công để vét và nới rộng lòng hồ không lúc nào ngưng.

Các phạm nhân hình sự đa số trẻ, vào trại chưa bao lâu nên lao động có năng suất hơn so với chúng tôi, những trại viên lớn tuổi. Khu đất phía bên kia bờ suối đã hoàn toàn khai phá, Nhu cho làm một con đường đất đi từ K1 vào tới khu vực K3 cũ. Đất khu này đều được trồng ớt để “xuất khẩu” và trồng mía để nấu đường chén ở lò đường của trại.

Một khu vực thăm nuôi được thành lập mới ở bên kia bờ suối, phía dưới láng mộc. Khu thăm nuôi gồm một nhà thăm gặp chính và nhiều nhà khác dùng làm nhà thăm gặp qua đêm. Lúc đầu việc thăm gặp qua đêm chỉ giới hạn một số ít trại viên, về sau Nhu ra lệnh rộng rãi hơn và thân nhân muốn ở lại qua đêm phải đóng tiền phòng, ngoài việc “lót đường” cho các cán bộ phụ trách thăm nuôi, cho cán bộ ký giấy cho phép và quà cáp cho chính Nhu nữa! Từ khi ấy, có nhiều trại viên và thân nhân được ở lại không những một đêm mà có khi cả tuần lễ hay mười ngày. Thân nhân thì không những là vợ, mà mẹ con hay bất cứ ai cũng có thể xin ở lại. Nhà thăm gặp lúc đó trở thành nơi tiệc tùng cho các cán bộ với gia đình trại viên. Các chiếc xe đò chở người đi thăm nuôi lúc đầu còn ngừng ở nhà đón khách bên cạnh quốc lộ số 1 rồi trại cho xe ra đón vào, sau đó được chạy thẳng vào tới góc căn tin gần đập thủy điện.

Căn tin này lúc đầu chỉ bán một ít đồ đạc và nước uống, chủ yếu là phục vụ các trại viên lao động đêm. Dần dần nó biến thành địa điểm buôn bán cho các thân nhân trại viên đến thăm nuôi và ở lại. Nước đá, nước ngọt, thịt heo, gà vịt, trứng, chuối, vân vân được mua về bán tại đây. Căn tin khi ấy được nới rộng ra sát bờ suối với một sàn gác ở phía trên làm ve ra khỏi bờ suối. Trại viên sau khi gặp thân nhân ở nhà thăm gặp thì được dẩn ra căn tin để ngồi uống nước và nói chuyện tiếp. Mọi thứ đều nhằm mục đích kiếm tiền!

Bãi đất trống giữa láng mộc với căn tin được sửa lại thành công viên với cầu nổi, vườn hoa, tượng và băng đá. Một con đường nhỏ chạy dọc theo bờ suối từ nhà thăm gặp đến căn tin được thành hình để thân nhân trại viên đi mua sắm. Đá được đem về lát dọc theo bờ suối và trong các vườn hoa cũng như trên các con đường đi. Các công việc này tốn rất nhiều công sức của trại viên. Đá được đập từ núi chuyển về rồi lại phải đẻo ra theo hình dáng kích thước để lát xuống lòng suối. Nước lũ vào mùa mưa dâng lên cuốn đi rồi lại phải làm lại nhiều lần.

Càng ngày càng có nhiều trại viên được thăm gặp ở lại nhiều ngày, Nhu cho làm một số căn nhà lá nằm riêng rẽ dọc theo con đường phía bên kia đập thủy điện hướng về phân trại K3 cũ. Mỗi căn nhà lá này chỉ có một phòng, nằm cách xa nhau và chỉ được dùng cho một số trại viên chọn lựa vì khu ấy rất khó kiểm soát nếu trại viên có ý định trốn trại.

Gần khu thăm nuôi đặc biệt này là khu “nhà lô” của đội 23, đội của các “bác già” như Nhu vẫn thường gọi. Đó là đội của các trại viên nguyên là các tướng lãnh và các cấp đại tá và một số trung tá thuộc quân lực VNCH; đội do tướng Lê Minh Đảo làm đội trưởng. Vì nằm gần nên khu thăm nuôi này cũng được các “bác già” chăm sóc cẩn thận. Đường đi luôn luôn được quét dọn sạch sẽ, nhà cửa luôn luôn được dọn dẹp ngăn nắp, cây cối chăm bón tươi tốt. Đa số những người thuộc đội 23 này khi thăm gặp qua đêm thường được ưu tiên ở khu vực ấy. Nhu cũng thường dẩn khách đến thăm trại đi qua khu vực ấy để “giới thiệu”.

Khu rừng dọc theo bờ suối lần lượt được khai hoang sạch sẽ. Cây bạch đàn được trồng thay vào đó. Tiếp theo thì Nhu cho trồng thuốc lá vàng loại giống Virginia để bán ra ngoài. Trong trại thì hắn ta cũng tổ chức một tổ làm các loại thuốc lá mang những nhản hiệu giả mạo thuốc ngoại quốc như Jet, 555, Dunhill, Craven A, vân vân. Tổ làm thuốc này do các phạm nhân bị bắt vào về tội làm thuốc lá giả mạo. Các phạm nhân này muốn sống thoải mái trong trại thì phải cung cấp vật liệu và công sức để làm những cái mà họ đã bị kết án để rồi Nhu lại có dịp tung những thứ này ra trở lại thị trường. Quả thật là một điều “khôi hài đen!”

Quanh trại còn được đào nhiều ao nuôi cá trắm cỏ và cá rô phi mà các cá giống đều do các phạm nhân cung cấp nếu họ muốn được làm công việc nuôi cá ở trại thay vì đi lao động cực nhọc.

Bên cạnh Quốc Lộ Số 1, Nhu cho xây dựng một “khách sạn” và quán cà phê do Dũng và gia đình làm quản lý. Dũng là một phạm nhân trẽ bị án chung thân vì tội bắn chết công an ở Sài Gòn. Gia đình của hắn ta cũng rất có thế lực trong nhà nước Cộng Sản nên Dũng đã tránh khỏi tội tử hình. Vào trại hắn ta lại được hưởng nhiều ưu đãi nữa. Khách sạn và quán cà phê này cũng là nơi mà Nhu và các khách của hắn ta làm địa điểm “ăn chơi”. Ngoài ra, một quán “cà phê nhạc” cũng được lập ở thị xã Long Khánh do các phạm nhân nữ làm chiêu đãi viên. Hầu hết những nơi này tôi đều có dịp đến để thực hiện công việc gọi là “trang trí nội thất”: sơn và vẽ bảng hiệu cùng treo tranh ảnh.

Căn nhà “bát giác” nơi trước kia Nhu xây cho riêng hắn ta bên bờ suối gần với láng mộc đã được dành cho một nữ phạm nhân mà chúng tôi thường gọi là “bà trời!” Nữ phạm nhân này bị bắt về tội truyền bá đạo giáo mê tín. “Bà trời” biến nơi này thành nơi “tu hành” và cũng là nơi để chụp hình cho khách, nhất là thân nhân đến thăm trại viên.

Sau khi nhập chung hai trại Z30D và Z30C thành một, Nhu bắt đầu nới rộng địa bàn sang Z30C lúc đó là phân trại K2 của trại Z30D. Hắn ta cho cất nhà và lập bản doanh riêng ở bên ấy. Máy cưa cũng được dời sang và bắt đầu khai phá rừng để lấy gỗ khu vực này.

Sự thay đổi trong trại cũng được thực hiện một cách nhịp nhàng. Kể từ khi có sự trộn lẩn giữa hai thành phần trại viên “có án” và “tập trung cải tạo” thuộc chế độ cũ, cơ cấu của Ban Thi Đua trại viên cũng được thay đổi. Lân, Nuôi, Phò, vân vân là những trại viên ở trại Tiên Lãnh miền Trung bị xử án trong trại vì tội làm và nghe lén đài phát thanh ngoại quốc. Người ráp máy thu thanh thì bị án tử hình. Lân thì lãnh án chung thân còn Nuôi, Phò, Sang vân vân thì từ mười lăm đến hai mươi năm. Khi được chuyển về trại Z30D thì Nhu đã dẹp Ban Thi Đua cũ để cho Lân, Nuôi và Phò vào thế chổ. Theo tôi thì hắn ta đã bước một bước khéo léo trong việc này. Hắn ta đã xữ dụng thành phần này như một trung gian giữa số trại viên thuộc chế độ cũ và số bị kết án để dể điều hành công việc trong trại. Về phía trại viên nữ thì hắn ta đưa Tâm lên làm Thi Đua. Tâm có người cha đã bị giết chết trong cuộc tấn công ngày 30 tháng tư năm 1975 của VC, sau đó cô ta lấy một cán bộ VC rồi lại “chiêu hồi” chồng tham gia tổ chức chống lại Cộng Sản. Bị bắt và bị kết án 20 năm còn chồng thì bị tử hình.

Khi phạm nhân hình sự chiếm đa số trong trại thì một lần nữa Nhu lại thay đổi Ban Thi Đua. Lân vẫn ở nhiệm vụ trưởng ban, nhưng Nuôi và Phò được thay thế bằng Hạnh, một phạm nhân hình sự. Châu, một phạm nhân nữ mang tội phạm về kinh tế thay cho Tâm được thả ra khỏi trại. Nhu cũng thường xuyên “bồi dưởng” cho các thành viên trong Ban Thi Đua, do đó theo tôi thấy thì đây là một Ban Thi Đua làm được việc nhất mà lại ít gây căm thù nhất trong trại viên và phạm nhân.

Một thay đổi lạ lùng nhất ở trong trại là việc thành lập cái gọi là “Khu Vui Chơi”. Trong thời gian đầu của việc xây dựng đập thủy điện thì vào những đêm lao động để đào hồ, các trại viên trước khi ra về thường được ghé qua “căn tin” ở gần đập để ngồi nghe nhạc và uống nước. Đôi lúc cũng có những buổi chiếu vidéo phim chưởng Trung Quốc nhưng chỉ ở khu cơ quan. Năm 1988, Nhu bắt đầu cho thành lập “Khu Vui Chơi” trong trại. Khu trồng bạch đàn ở hai bên con đường đi vào hội trường được trang bị những băng ghế ngồi và bàn nhỏ làm bằng bìa gỗ xẽ lấy từ đội mộc. Các bàn và băng ghế này được chôn cố định. Ở đầu đường vào hội trường được dựng một cổng với tấm bảng “Khu Vui Chơi”; hai bên cổng là hai ki-ốt bán nước uống và bánh kẹo, thuốc lá vân vân. Ngoài việc được phục vụ nước uống, thường là sửa đậu nành, trại viên ra khu vui chơi còn được phép ngồi nói chuyện tiếp xúc nhau dù là khác phái! Sau đó tất cả được vào hội trường để xem vidéo phim chưởng hay ca nhạc, nhất là các băng nhạc vidéo hải ngoại như “Thúy Nga Paris”. Đôi khi trại còn tổ chức ca nhạc ngoài trời do các trại viên lên ca với sự đệm nhạc của các trại viên trong đội văn nghệ. Các trại viên khác thì tự do khiêu vũ. Nhạc vàng lúc này được ca hát không còn cấm đoán trong trại nữa.

Có ba thành phần trại viên được ra khu vui chơi. Thứ nhất là những người bỏ tiền ra mua vé; khi đóng cửa buồng thì những người này được đứng riêng ra để ra khu vui chơi, số còn lại thì vào buồng và khóa cửa phòng lại. Thứ hai là những trại viên trong toán lao động đêm, nhóm này thường nhập trại khi các trại viên trong khu vui chơi đã vào hội trường để xem phim. Thành phần thứ ba là “các bác già”, ở nhà số 1 khu A, các trại viên thuộc thành phần “chế độ cũ” không bị khóa cửa cho đến sau khi tan buổi chiếu phim. Mặc dù được tự do đi ra khu vui chơi, nhưng thành phần này cũng ít khi tham dự ngoài những buổi chiếu vidéo ca nhạc hải ngoại mà các băng nhạc này thường do gia đình mang lên để “ủng hộ” cho trại.

Khu vui chơi lần lần biến thành chỗ hẹn hò cho các cặp “nhân tình” trong trại! Không chỉ những đêm văn nghệ mà cả những ngày nghỉ hay buổi trưa đi lao động về, các cặp “quan hệ nam nữ” này thường ra đó để gặp nhau. Sự quan hệ nam nữ giữa các trại viên với nhau lúc đầu còn lén lút dần dần trở nên công khai từ khi thành lập cái gọi là “khu vui chơi”.

Để tận dụng “tài nguyên”, các hào nước sát hàng rào trại được cho vét lại và cho đấu thầu nuôi cá rô phi và cá trắm cỏ. Trại viên nào muốn ở trong trại nuôi cá thì phải cung cấp cá giống và nuôi cá cho trại. Mọi phương tiện đều dẩn đến việc đầu tư để lấy thêm tiền “gây quỷ”, như các cán bộ giải thích. Thực hiện kế hoạch “tự túc” do nhà nước VC đề ra cho các cơ quan, đơn vị, trại cải tạo dần dần biến thành một cơ sở kinh doanh dưới mọi hình thức.

—>Chương 51

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, KALE. Bookmark the permalink.