MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI (Kale): Phần V

-Chương 51-
CT: Cải Tạo hay Con Tin?

Chúng tôi, một số rất nhỏ còn lại sau đợt thả đầu năm 1988 quả thật đã bị một cú sốc khá nặng. Hàng ngàn trại viên được ra về mà chỉ có trên dưới hai mươi người bị giữ lại! VC đang suy tính gì đây? Mỗi người chúng tôi đều có trong đầu một suy nghĩ. Ngay ngày hôm ấy, thay vì nhốt kỹ chúng tôi để đề phòng việc trốn trại thì họ lại “thả lỏng” chúng tôi ra, đưa chúng tôi ra ngủ bên ngoài trại mà không cần một sự canh giữ nào. Thật là một điều nghịch thường! Chúng tôi bảo nhau rằng sau Tết có thể họ sẽ thả chúng tôi vì theo chúng tôi nghĩ thì cũng chẳng có một lý do gì để họ giữ lại một số quá ít như thế này trong khi có thể thả hầu hết mọi người khác. Thêm vào đó, nếu so sánh số còn lại với số ra về thì cũng chẳng có gì khác biệt nhau mấy. Chúng tôi đành chuẩn bị một cái Tết điều hiu nhất từ trước tới nay ở trong trại cải tạo với một hy vọng mong manh là chúng tôi sẽ ra về sau Tết.

Hùng và Diễm làm ở láng mộc, một mình tôi ở phòng vẽ. Phải làm công việc hàng ngày nhưng tôi không còn đầu óc đâu mà suy nghĩ tới việc làm. Tôi vẽ giống như một người máy, cứ tô màu cho kín khung vải chứ chẳng để tâm đến những gì mình đang vẽ. Chỉ mong cho tới giờ nghỉ là thả rong xuống suối câu cá và suy nghĩ vẩn vơ. Vì không còn Điệp làm “ông từ” giữ chùa nên tôi phải khép cửa phòng vẽ lại mà đi. Nhu cũng không thường xuyên ghé qua như trước; có lẽ hắn ta cũng biết tôi đang bị xáo trộn đầu óc nên không muốn gặp tôi trong tình trạng này.

Đội mộc bắt đầu bổ sung các phạm nhân hình sự. Bạn bè đã về hết nên tôi thường ăn uống sinh hoạt chung với Thực, một người bị bắt về tội vượt biên và ở đội mộc cũng đã khá lâu. Thực hàng ngày đi làm và nhập trại cùng với đội mộc. Những con cá câu được vào đêm hôm trước tôi rộng vào một thùng nước để hôm sau giao lại cho Thực tùy nghi nấu nướng, và chúng tôi ăn trưa và chiều với nhau. Ngoài ra còn có Nam cũng thường hay lui tới phòng vẽ với tôi. Nam là người bị bắt vì tội tổ chức vượt biên, làm ở lò đường và là chuyên viên về âm thanh và ánh sáng của đội văn nghệ. Cũng nhờ Nam mà không bao giờ tôi thiếu số đường dự trử. Sau này, Nam tự tử chết bằng thuốc rầy vì tình yêu vô vọng với một tù nữ tên là Tú, bán ở căn tin.

Tin tức từ những người mới ra về cho biết rằng họ không còn bị quản chế như những đợt thả trước kia mà được nhập “hộ khẩu” với gia đình ngay sau khi trình diện. Về cuộc sống ở ngoài xã hội thì họ cũng cho biết ngoài số những người có thân nhân ở ngoại quốc chi viện về thì số còn lại đa số sống cũng rất vất vã. Công việc làm không có mà sức khỏe cũng không đủ để cáng đáng những công việc nặng nề như đạp xe xích lô, xe ba gác, hay làm phu khuân vác vân vân. Điều này không chỉ xảy ra đối với những người cải tạo về mà cũng là tình trạng chung của mọi người dân trong nước.

VC thường nói rằng đất nước ta nếu có khó khăn thì cũng chỉ là “tạm thời”, còn thuận lợi mới là “cơ bản”. Đã mười ba năm qua kể từ ngày chấm dứt chiến tranh, thế mà tình trạng đất nước ngày càng khó khăn hơn. Không biết cái gọi là “tạm thời” này bao giờ mới chấm dứt?

Khoảng hai tuần sau, số trại viên còn lại ở trại Hà Nam Ninh được chuyển về nhập chung với chúng tôi nâng tổng số trại viên còn giữ lại trong trại cải tạo lên con số khoảng hai trăm mười người. Sau đó ít lâu họ lại thả một vài người mà họ cho rằng “già yếu bệnh tật”. Số còn lại bước vào một giai đoạn cải tạo hoàn toàn mới.

Không lâu sau đó, đài phát thanh Hà Nội loan báo rằng họ đã thả hầu hết số “ngụy quân và ngụy quyền” ở trong các trại cải tạo. Họ còn nói rằng số rất ít còn giữ lại vì lý do những người này thuộc thành phần “có nợ máu với nhân dân và không chịu cải tạo” nên không thể thả ra được! Như vậy là rõ ràng rằng chúng tôi sẽ không thể nào ra về ngoại trừ có một “phép lạ” nào đó. Không biết họ sẽ đối xử với chúng tôi như thế nào đây? Đưa ra tòa án “nhân dân” để xử, đưa đi đày ở những hải đảo nào đó, hay đưa đi những nông trường để sống ở nơi ấy trọn đời? Chúng tôi nghĩ rằng đúng lý ra thì họ phải đưa chúng tôi ra trở lại miền Bắc để “gần với trung ương” cho dể thi hành các biện pháp chế tài chứ tại sao họ làm ngược lại là đưa vào miền Nam.

Cùng lúc ấy thì cũng có những tin tức về các cuộc hội đàm của phái đoàn Mỹ do tướng Vessy dẩn đầu với phái đoàn Hà Nội về vấn đề “Người Mỹ Mất Tích” và “Tù Binh Chiến Tranh”, trong đó có đề cập đến những “quân nhân và nhân viên của chính quyền Nam Việt Nam” đang ở trong các trại cải tạo. Thế là một bên tung một bên hứng. Vô hình chung chúng tôi cũng như những “tù binh chiến tranh” và “người Mỹ mất tích” lại trở thành những món hàng để ngã giá, một thứ “con tin” trong cuộc mua bán giữa Mỹ và VC!

Riêng cuộc sống của chúng tôi trong trại cải tạo thì hoàn toàn thay đổi. Không biết vì chúng tôi đã trở thành một nhóm “thiểu số và già nua” hay vì lý do gì khác mà những công việc lao động nặng nhọc không có mặt chúng tôi nữa. Ngoài số chăn bò và gà vịt ở K2 cũ và vài người ở đội mộc và đội bếp, số mới về từ trại Hà Nam Ninh được biên chế thành hai đội: đội 20 và đội 23.

Đội 23 gồm những cựu tướng lãnh của quân lực VNCH cũ như các tướng Đão, Giai, Trường, Tất, Sang (tướng Thân làm ở Bệnh Xá) và các người thuộc cấp đại tá như Hản, Xảo, Của, Phô, Tấn vân vân cùng vài người cấp trung tá. Số còn lại thuộc đội 20, đa số thuộc các thành phần: An Ninh Quân Đội, Cảnh Sát Đặc Biệt và Trung Ương Tình Báo.

Công việc của hai đội này chỉ làm lao động quanh khu vực nhà lô của đội. Nhà lô đội 23 nằm gần bờ suối phía bên kia đập thủy điện từ cầu hướng về phía K3. Nhà lô của đội 20 nằm cách trại khoảng bốn cây số hướng về phía Quốc Lộ Số 1. Mặc dù trại Z30D lúc ấy đang lao động rất vất vã cả ngày lẫn đêm với các công việc như đào ao, vét lòng hồ thủy điện, xây dựng, vân vân, nhưng hai đội 20 và 23 thì chỉ sáng đi chiều về chứ không hề đi lao động đêm như các đội khác.

Ngoài ra mỗi buổi tối các phòng của nhà số 1 khu A dành cho hai đội này được mở cửa cho đến khi các đội làm đêm vào nhập buồng hoặc đến khi khu vui chơi chấm dứt. Riêng các trại viên nguyên cấp tướng thì được ở riêng một căn nhà nằm cuối sân của nhà 1 và các trại viên cấp đại tá thì được ở một buồng nhỏ ở đầu nhà, hai nơi này không bị khóa cửa về đêm và có giường riêng cho mỗi người. Chúng tôi còn được xem truyền hình ở một phòng TV nằm ở góc cuối bệnh xá. Những khi có trận đá bóng quốc tế hay có những chương trình đặc biệt còn có thể xem cho đến khi chấm dứt, có lúc đến sau nửa đêm, miển là “biết điều” với cán bộ trực trại và có gói thuốc lá 555 để hắn ta “xông muỗi”!

Đến thời gian này thì những tin tức không còn bị che dấu hoàn toàn như trước kia. Một số sách báo ngoại quốc được mang vào trại như các tuần báo “Times”, “Newsweek” của Mỹ hay tạp chí “Le Monde” của Pháp. Tin về việc đổi mới ở Liên Sô và các nước Đông Âu không thể bị bưng bít được. Ngay cả hôm mà người dân Đông Đức giật sập bức tường Bá Linh, ngày 9 tháng 11 năm 1989, chúng tôi cũng được xem trên truyền hình ở căn tin với một số cán bộ!

Tôi thấy hình như họ không còn quan tâm nhiều đến những vấn đề chính trị nữa mà chỉ chú ý đến việc “kiếm ăn”. Những tô “mì tôm có người lái” (mì ăn liền nấu với thịt hay trứng) quan trọng hơn tin về sự sụp đổ của bức tường Bá Linh hay của cả Đông Đức. Những gói thuốc “ba số có cán” (thuốc lá 555 đầu lọc) cần thiết hơn sự tồn tại của nhà nước Cộng Sản Liên Sô!

Đầu năm 1990, việc lập thủ tục HO cho những người tù cải tạo đã được thả ra để đi sang Mỹ trở nên rầm rộ. Tin tức về những người bạn này đã ra đi, người bạn kia thì đang chờ chuyến bay khiến chúng tôi ở trong trại sốt ruột hơn lúc nào hết. Chúng tôi nghĩ rằng cái “phép lạ” đang xảy ra, nhưng bao giờ thì đến với chúng tôi? Một số người lại tỏ ra lạc quan cho rằng có thể chúng tôi sẽ không được thả để đi theo diện HO mà sẽ được đi thẳng từ trong trại cải tạo. Mỗi tối thường có những nhóm nhỏ ngồi bàn tán và phóng đại những tin tức do gia đình đưa lên. Người nào đi thăm nuôi vào cũng cố gắng moi cho được những “thang thuốc bổ” (những tin tức có lợi cho chúng tôi). Thậm chí có người còn cho rằng khi sang đến Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ được lãnh “ráp ben” nữa! Quả là một sự “lạc quan tếu!” Tôi thì nghĩ rằng cho dù đó là những phóng đại sai lệch sự thật, nhưng chính chúng lại thật sự là những “liều thuốc bổ” giúp những người còn lại như chúng tôi vượt qua được một chặng đường đầy dẫy những thử thách và chán nản trong thời gian ấy!

Từ khi các trại viên ở trại Hà Nam Ninh chuyển về, phong trào thăm nuôi trở nên mạnh mẽ hẳn lên. Lúc đầu thì gia đình vợ con lên thăm còn ở lại một đêm. Dần dần thời gian thăm gặp kéo dài hàng tuần lễ, mười ngày. Nhất là kể từ lúc trại cho phép trại viên được ở lại dể dàng miễn là “đóng tiền phòng” và “biết điều” với các cán bộ ký giấy và cán bộ phụ trách nhà thăm gặp. Nhiều người nhờ có thân nhân ở ngoại quốc gởi tiền về sống một cách rất sung túc, họ không ăn cả phần ăn của trại nữa.

Đến giữa năm 1990, có những người trung gian lên giới thiệu các phụ nữ cho các trại viên còn độc thân hoặc đã bị vợ bỏ với hy vọng sẽ được gán ghép vào danh sách “đi Mỹ”. Những người tù thì vì nhu cầu sinh lý và vật chất còn những người phụ nữ kia thì lại muốn ra đi. Hai đối tượng này kết hợp nhau giống như một khế ước tạm thời! Tình cãm chỉ là một sự gượng ép, giả dối.

Tương lai của những người tù cải tạo chúng tôi khi ấy là gì? Có phải chăng là cái vé để đi đến một chân trời xán lạn của xứ Hoa Kỳ vàng son? Quả thật là một sự mĩa mai! Đối với chúng tôi thì chỉ mong điều ấy là một “phép lạ” để cứu chúng tôi ra khỏi trại giam mà thôi. Mười mấy năm khổ sở, có những lúc xuống tận cùng địa ngục của trần gian, chúng tôi chỉ mong thoát khỏi nơi ấy để nhìn thấy lại gia đình, để sống bên những người thân cho hết phần đời còn lại của mình.

Quả thật chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam mà người dân lại có giấc mơ “đào tẩu” lớn như vậy! Ngoài xã hội cũng như trong trại giam, đàn ông, đàn bà, trẽ em, tất cả chỉ muốn bằng mọi cách rời khỏi cái đất nước có đầy những bậc “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đãm đang” này. Thật là một điều lạ lùng. Có ai đó đã nói một câu rất cay đắng “nếu cái cột đèn mà biết đi thì nó cũng đi khỏi đất nước này nữa!” Một câu nói đùa, nhưng chắc cũng không xa với thật tế. Vậy thì chúng ta có nên đặt lại câu hỏi mà VC thường dùng trong những ngày chúng mới vào miền Nam rằng “ai thắng ai giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Tư Bản” hay không?

Riêng cá nhân tôi thì giống như nhiều người khác, cuối cùng dục tính trong con người tôi cũng không thể khắc phục được, tôi đã bước chân vào “cái vòng lẩn quẩn” với một người phụ nữ. Mặc dù mỗi người có một trường hợp khác nhau nhưng tựu chung thì cũng là vấn đề sinh lý và nhu cầu vật chất.

Cô ta là con gái của một trại viên ở trại Hà Nam Ninh chuyển về. Lúc ấy tôi còn đang ở phòng vẽ bên ngoài trại. Cô ấy và hai đứa con trai thường lên thăm ba và ông ngoại. Mỗi lần như vậy thì con của cô ta hay đến phòng vẽ chơi với tôi. Thỉnh thoảng cậu con mang cho tôi món này món nọ. Tôi nghĩ đó cũng là một sự cư xử thường tình của một người dân đi thăm nuôi đối với một người tù. Ngoài cô ấy ra thì cũng có nhiều người khác biếu quà cho tôi. Do đó tôi chỉ nhận và cãm ơn về lòng tốt của mọi người.

Tháng 11 năm 1989, ba cô ấy được thả ra với lý do già yếu bệnh tật, và sau đó thì phòng vẽ của tôi cũng được dời vào trong trại. Tôi không có gì để nhớ! Đến đầu năm 1990, trong lúc thăm gặp tôi thì mẹ tôi cho biết rằng có một người nào đó muốn thay thế bà lên thăm nuôi tôi. Tôi rất ngạc nhiên nhưng lại bảo mẹ tôi từ chối dùm.

Tháng 8 năm 1990, trong lúc phong trào các phụ nữ được giới thiệu lên thăm các trại viên nỗi lên rầm rộ thì cô ấy lại lên. Một lần, hai lần, rồi nhiều lần liên tiếp cho đến khi cô ấy xin được ở lại. Trong hoàn cảnh ấy tôi không biết đối phó ra sao, thêm vào đó vì đã “ăn chay” quá lâu lại tự nhiên có một người đàn bà dâng hiến cho mình, tôi không thể cưởng lại được dục vọng. Cô ấy lại là một người đàn bà rất đòi hỏi về xác thịt! Thế là tôi đã nhắm mắt xuôi tay cho “cuộc thế xoay vần!” Đến khi nhận ra được rằng mình đang đùa với lửa thì mọi việc đã muộn màng, tôi không làm thế nào để bước lui được nữa.

Vào tháng 11 năm 1990, chỉ mới hơn ba tháng sau lần đầu tiên cô ấy lên thăm tôi thì trại có lệnh cho chúng tôi khai báo những thân nhân sẽ đi theo với chúng tôi sang Mỹ! Các cán bộ thì bắn tin rằng việc này là do phía của phái đoàn Mỹ yêu cầu. Nghe tin này tôi nghĩ ngay đến vợ con tôi; thế là tôi đã viết thư gửi về yêu cầu vợ tôi cho tôi được ghi tên hai mẹ con vào danh sách thân nhân rồi sau này ra sao tôi cũng chấp nhận. Nói là nói vậy thôi chứ tôi biết trong thâm tâm tôi vẫn còn yêu vợ tôi, tôi chỉ có một hy vọng duy nhất là sẽ nối lại tình xưa! Vợ tôi đã từ chối đề nghị này và bảo rằng hãy để yên cho vợ tôi mà chỉ nên lo cho mẹ và con tôi mà thôi.

Không biết tại sao cô ấy biết được việc làm này của tôi. Thế là một “trận giặc” đã xảy ra ở nhà thăm nuôi đêm hôm đó. Cô ấy chỉ muốn chiếm đoạt cả linh hồn lẫn thể xác tôi cho một mình cô ấy. Cô ấy còn nói với tôi rằng “con cái thì muốn đẻ lúc nào mà không được!” Cô ta không muốn tôi lo cho cả con tôi nữa. Tôi rất bực mình bảo cô ta đừng bao giờ lên gặp tôi nữa nhưng rồi cô ta vẫn cứ lên. Ở trong hoàn cảnh của trại cải tạo thì tôi không còn cách nào khác hơn là phải ra gặp. Một phần vì chán nản bởi lời từ chối của vợ, một phần vì dục tính, câu chuyện cứ kéo dài mãi cho đến ngày tôi ra khỏi trại, rắc rối mãi cho đến ngày tôi rời khỏi đất nước.

Đây là trường hợp của cá nhân tôi; tôi không biết các trường hợp khác xảy ra như thế nào. Nhưng có điều tôi nghĩ chắc ít ai có thể giữ được lâu dài cái chuyện mua bán tình cãm như vậy!

Vào thời gian này thì ngoài việc đi lao động cầm chừng và đợi đi thăm nuôi, chúng tôi có thêm một sinh hoạt khác, đó là học tiếng Anh. Có lẽ mọi người đang chuẩn bị để đi Mỹ! Từ trước việc này bị cấm đoán rất chặc chẽ trong các trại cải tạo. Bất cứ một tài liệu sách báo nào viết bằng tiếng ngoại quốc như Anh, Pháp vân vân mà bị khám phá đều bị tịch thu, người lưu trử thì bị giam kỷ luật. Nội quy của trại cũng có nói rằng “không được nói tiếng nước ngoài” vì họ cho rằng điều đó là việc truyền bá một nền văn hóa “phản động và đồi trụy”. Đến giờ thì họ lại “bỏ ngỏ”, chẳng những không cấm đoán mà còn nhờ cả trại viên dạy cho họ tiếng Anh nữa.

Học tiếng Anh trong trại thì chỉ học qua sách vở, tạp chí và tự điển. Tuy nhiên lúc ấy có một trại viên nguyên là một giáo sư Anh ngữ ở Sài Gòn trước đây tên là Việt Huy, hay Nguyễn Đình Huy. Và rồi ông Huy đã trở thành “ông thầy” cho nhiều người. Sau này khi được thả ra ông Huy đã ở lại nước hoạt động tiếp và lại bị bắt vào trong trại.

Đầu năm 1991, lần đầu tiên chúng tôi được nhận mỗi người một gói quà do các bạn đã sang Mỹ góp nhau gởi về làm quà Tết cho chúng tôi. Những món quà mà đã bao lâu rồi tôi không thấy, trong đó có cả những lon bia Budweiser, những gói thuốc lá Marlboro. Họ còn gởi cho chúng tôi cả tiền dollar nửa, nhưng phải đổi ra tiền Việt Nam để xài. Thế là các cán bộ lại có dịp vào ăn Tết với trại viên! Giờ đây họ lại đề cập cả việc “xuất cảnh” đối với chúng tôi. Họ mong rằng khi sang Mỹ rồi thì chúng tôi hãy “nhớ” đến họ -nghĩa là nhớ gởi cho họ những món quà như vậy! Thật là một sự “duy vật” hơn bất cứ một sự duy vật nào.

Thêm vào đó thì thời gian này là lúc mà Liên Sô và các nước Đông Âu bắt đầu tan rã. Những cán bộ VC lúc ấy rất lo lắng không biết số phận của nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa và số phận của chính họ rồi sẽ ra sao. Tôi vẫn nhớ vào tháng tám năm 1991, khi các đơn vị Cộng Sản bao vây điện Cẫm Linh, các cán bộ trong trại đã tỏ ra rất vui mừng. Họ đến phòng chúng tôi và “cá” với chúng tôi rằng Gorbachev sẽ thất bại và Liên Sô sẽ trở lại với chủ nghĩa Cộng Sản. Nhìn thấy hoàn cảnh chúng tôi, họ liên tưởng đến tình cảnh của chính họ; họ lo sợ một khi Cộng Sản Việt Nam sụp đổ thì số phận của họ sẽ ra sao. Tên cán bộ trực trại còn nói với tôi sau khi nghe tin Yeltsin làm chủ trở lại tình hình ở Liên Sô rằng: “Các anh đi cải tạo còn có Mỹ nhận đi, đến phiên chúng tôi không biết ai sẽ nhận chúng tôi đây?

Từ khi mới bước chân vào trại luôn luôn nghe những lời sắt máu, chửi bới, nào là “Đế Quốc Mỹ là quân xâm lược”, nào là “lũ ngụy quyền là bọn tay sai” đến bây giờ thì tất cả đều xoay ngược chiều. Chúng tôi nghĩ đó quả thật là một phép lạ! Nếu không có cái “phép lạ” này có lẽ là chúng tôi đã rũ xương ở chốn rừng thiêng nước độc của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa rồi. Tôi nghĩ rằng dù cho có cố gắng bóp méo lịch sử tới đâu đi nữa thì rồi họ cũng không thể thoát được sự đào thải của định luật phát triển tự nhiên. Con người vẫn mãi mãi là con người chứ không bao giờ là những con khỉ biến thành người, càng không thể là những rô bô được điều khiển bởi những nút bấm!

—>Chương 52

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, KALE. Bookmark the permalink.