MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI (Kale): Phần V

-Chương 43-
Vợ Tôi Nói Tiếng “Giã Từ!”

Sau lần thăm nuôi đầu tiên thì vợ và con tôi thường lên thăm tôi khoảng hai hoặc ba tháng một lần. Chúng tôi bắt đầu có dịp để nói được những điều mà chúng tôi muốn nói. Cán bộ phụ trách nhà thăm gặp lần lần dễ dãi hơn. Hắn ta không còn ngồi ở bàn nữa và còn cho chúng tôi được gặp nhau dài hơn hai mươi phút như thời hạn mà trại ấn định vì cũng không còn nhiều trại viên thăm gặp như lần đầu nữa.

Kể từ khi ấy, tôi cảm thấy chút nào đó gần gũi với vợ tôi hơn trước. Nhưng tôi lại thấy một vài điều gì đó chia cắt chúng tôi, những điều mà tôi không thể giải thích được. Vợ tôi trông cũng “mỏng manh”, ít nhất là diện mạo bên ngoài, vẫn là người mà tôi yêu, nhưng tôi nghĩ có lẽ cô ấy đã thay đổi. Cô ấy có vẻ tự tin hơn trước, và tôi nghĩ cô ấy thật sự không còn “mỏng manh” như trước nữa. Cô ấy không còn cần tôi nữa. Ngược lại chính tôi mới là người cần cô ấy! Tôi cũng không biết rằng vì tình yêu hay chính là những quan niệm cổ xưa đã là sợi dây trói buộc chúng tôi với nhau. Tôi cảm thấy tội nghiệp cho vợ tôi đã phải uổng phí cuộc đời vì tôi. Đôi khi tôi bảo vợ tôi rằng mặc dù tôi vẫn rất yêu thương cô ta nhưng tôi không muốn cô ấy phụ thuộc vào tôi nữa vì tôi không thể biết bao giờ tôi mới được thả ra. Tôi rất mong việc ấy, nhưng mọi cái đều không còn tùy thuộc vào tôi nữa! Tôi chỉ mong cô ta hãy nuôi dạy con chúng tôi trở nên người tốt trong xã hội mới này mà thôi.

Cuối năm 1983, trại bắt đầu cho phép những trại viên mới về từ trại Tân Lập được thăm nuôi qua đêm. Điều này trước đây chỉ áp dụng cho những trại viên thuộc diện đặc biệt như các “đội trưởng”, “ban thi đua”, và các trại viên làm trong các “bộ phận lẻ”. Vợ tôi bảo tôi tìm cách hỏi cán bộ để chúng tôi được gặp nhau qua đêm ít nhất một lần để chúng tôi có dịp nói những điều xảy ra trong thời gian dài mà tôi xa nhà. Không hiểu tại sao tôi lại cảm thấy chút nào đó lo lắng về ý định này của vợ tôi.

Cán bộ quản giáo của đội lúc ấy tên là Tư. Hắn ta cũng đang nhờ tôi làm một vài công việc riêng. Hắn ta bảo tôi rằng hắn chỉ có thể giúp tôi được việc này nếu tôi là đội trưởng hay đội phó mà thôi vì đó là quy định của ban giám thị trại. Hắn ta dựng ra một chức vụ mới cho tôi là “đội phó đặc trách về đời sống” cho trại viên trong đội, và đó là lần đầu tiên mà tôi được gặp vợ tôi qua đêm vào tháng mười năm 1983.

Nhà thăm gặp cho trại viên và gia đình ở qua đêm là một căn nhà lá nằm trong vòng rào đối diện với khu thăm nuôi. Nó có bốn phòng ở hai đầu nhà để thăm gặp và một căn phòng ở giữa dành cho cán bộ. Phòng thăm gặp là một phòng nhỏ hình vuông mỗi cạnh khoảng ba thước, vách lá và nền đất. Chỉ có một cái giường nhỏ với chiếc chiếu cói và một cái bàn không có ghế ở bên trong phòng. Một bóng đèn điện treo phía dưới mái nhà cung cấp một ánh sáng vàng vọt cho căn phòng.

Đêm ấy, vợ tôi đã nói rất nhiều về cuộc sống của cô ấy kể từ khi rời trường Chu Văn An để về nhà, và điều chính yếu là cô ấy muốn tôi nói với gia đình tôi để cô ấy được phép về sống với gia đình ba má cô ấy. Tôi cũng đã biết về những sự xung khắc giữa vợ tôi với gia đình tôi từ lâu, nhưng tôi nghĩ cô ấy có thể vượt qua được những điều ấy. Vợ tôi luôn luôn dễ hòa hợp với mọi người! Ở lại với vợ tôi, tôi đã không thể ngủ được, suốt đêm nằm nghe những điều cô ấy nói cộng với tiếng dế và tiếng côn trùng rên rỉ bên ngoài phòng. Trở vào trại vào chiều ngày hôm sau, tôi suy nghĩ rất nhiều về những điều mà vợ tôi đã tâm sự và bỗng cảm thấy một cái gì đó không ổn mà tôi sẽ phải đối phó trong những ngày sắp tới. Đó không đơn giản như mọi việc bình thường. Tôi không thể từ chối những yêu cầu của vợ tôi, nhưng tôi biết rằng tôi sẽ mất cô ấy. Tám năm chờ đợi đã quá dài đối với cô ấy; tôi không thể nào ích kỷ! Cô ấy phải có cuộc sống riêng, ngay cả không có tôi trong đó. Cô ấy có thể làm việc ấy một mình, nhưng cô ấy đã hỏi tôi trước, chính điều này khiến tôi lâm vào tình trạng tiến thối lưỡng nan. Tôi vẫn còn yêu vợ tôi quá nhiều, nhưng tôi lại không muốn cô ấy bỏ phí cuộc đời vì tôi. Cô ấy có thể bắt đầu làm lại cuộc đời ở cái tuổi ba mươi hai; nếu không thì sẽ quá trễ! Với ý nghĩ ấy, tôi đã viết thư cho gia đình tôi.

Hai tháng sau, vợ tôi lại lên thăm tôi lần nữa. Cô ấy cảm ơn tôi về quyết định của tôi. Chúng tôi ở lại với nhau đêm ấy, và đó cũng là lần cuối cùng! Cô ấy đã dời trở về nhà với cha mẹ.

Ba tháng sau đó, vợ tôi lại lên thăm tôi. Nhưng lần này thì cô ấy không muốn ở lại và chỉ cho tôi biết cô ấy đang sửa soạn đi ra nước ngoài với người “anh họ” của cô ấy. Theo lời vợ tôi cho biết thì ông anh họ ấy đã di tản sang Mỹ vào năm 1975, và hiện đang có ý định bảo lãnh cô ấy sang đó với anh ta. Tôi hoàn toàn không biết gì về ông “anh họ” này, và tôi nghĩ tôi cũng không cần phải biết. Điều duy nhất tôi biết là lần ấy sẽ là lần cuối cô ấy lên thăm tôi. Cô ấy trông có vẻ xa xôi đối với tôi mặc dù vẫn đang ngồi gần nhau trong nhà thăm gặp. Cô ấy ăn mặc cũng có vẻ sang trọng hơn những lần trước. Và cô ấy nhất định quay về nhà sau giờ thăm gặp mặc dù tôi đã xin được ở lại đêm ấy. Vợ tôi chưa nói tiếng “từ giã” nào cả, nhưng qua thái độ của cô ấy tôi biết đó là lời nói giã từ. Tôi phải chấp nhận bất cứ điều gì xảy ra cho tôi vì “đất nước mất vào tay Cộng Sản là mất tất cả.”

Trong lần gặp nhau cuối cùng ấy, vợ tôi đã nhờ tôi ký tên vào giấy cho phép con tôi đi với cô ấy ra nước ngoài. Tôi đợi tờ giấy ấy, nhưng mãi vẫn không thấy. Tôi biết tôi cũng sẽ mất cả con tôi một khi tôi ký vào giấy ấy. Tôi luôn luôn sẳn sàng chấp nhận mọi mất mát, và chỉ cầu mong cho vợ con tôi được một cuộc đời khá hơn. Tôi đã viết rất nhiều bức thư cho vợ tôi nhưng rồi lại xé đi! Tôi không muốn cứ mãi làm một vật cản đường tiến của cô ấy. Cô ấy phải được đền bù cho những mất mát mà cô ấy đã phải chịu suốt tám năm trường!

Tôi phải ở trong trại bao lâu nữa đây? Không ai biết được điều này. Cô ấy đã hoàn toàn đúng khi viết cho tôi trong một bức thư sau đó rằng cô ấy phải “thực hiện những điều thật tế trước mắt chứ không thể mất thời giờ để chờ đợi một sự viễn vông!” Đó là một lời “từ giã” mà tôi nhận được từ vợ tôi. Để ghi khắc điều này, tôi quyết định bỏ hút thuốc. Tôi trao lại cho bạn bè tất cả thuốc hút mà tôi có và nói với họ rằng kể từ giờ phút ấy sẽ không bao giờ tôi đặt một điếu thuốc lên môi. Điều ấy quả là một điều không dễ dàng đối với một người nghiện thuốc lá như tôi, nhưng tôi quyết phải làm được việc này để chứng tỏ cho mọi người thấy tôi sẽ làm được cái mà nhiều người vẫn thường cho rằng họ chỉ có thể “bỏ được người yêu chứ không thể bỏ được thuốc lá.” “Cô ấy đã bỏ tôi; tôi sẽ bỏ hút!” Tôi nghĩ đó có lẽ sẽ là chấm dứt cho chuyện tình của mình, nhưng rồi nó vẫn đeo đẳng tôi mãi mãi trong suốt thời gian tôi ở trong trại cải tạo. Nó chỉ mới là lời “từ giã” chứ vẫn chưa phải là lời “vĩnh biệt”!

—>Chương 44

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, KALE. Bookmark the permalink.