TRỞ VỀ CÕI TÔI (Ninh Hạ)

dutule_title

Mai Thảo sắp hạng Du Tử Lê là một trong bảy nhà thơ Bắc đẩu của văn chương Việt Nam hậu bán Thế kỷ Hai mươi. Bên cạnh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên.

1-
Tại sao Du Tử Lê là nhà thơ mà không là nhà văn?

Vào năm 1952, Lê Cự Phách mới mười tuổi đã viết văn đăng báo. Khởi đầu nghiệp dĩ văn chương của mình. Di cư vào Nam năm 1954. Di tản khỏi nước năm 1975. Sau hơn bốn thập niên viết văn và làm thơ, với tập thơ mới. “Sông núi người thơm, nỗi nhớ nhà / Your Scented Garden, My Nostalgia.” (Nhân chứng 96), Du Tử Lê đã cống hiến cho đời 32 tác phẩm. Tác phẩm văn là số lớn. Gồm 20 truyện dài, truyện ngắn, truyện tuổi thơ và đặc biệt là tùy bút. Chỉ có 12 tập thơ mà thôi. Thế nhưng, người đời biết Du-tử-lê-người-làm-thơ-thứ-thiệt chứ không là Du-tử-lê-nhà-văn.

Cũng dễ hiểu. Cho đến thời điểm này, Du Tử Lê thành công ở thơ hơn. Nói thời điểm này vì không chắc còn đúng ở vào một lúc khác sau này. Bởi vì, trong nỗ lực sáng tạo, không ngừng đi tìm một đổi mới cho văn chương, đổi mới về cấu trúc hành văn, về ý tưởng và liên tưởng, về sử dụng ngôn và từ. Thơ Du Tử Lê luôn thay hình đổi dạng. Trăn trở lột xác, để có một-cái-gì-đó cho đời. Để. “Không ăn gian điếu thuốc hút mỗi ngày. Không ăn gian ly cà phê uống mỗi ngày. Không ăn gian nơi trọ mỗi ngày.” Du Tử Lê thường nói với bạn bè. Có một điều không chối cãi, Du Tử Lê đang là một ngạc nhiên thích thú và cũng có nhiều chưa thích thú được. Hứa hẹn nhiều ngạc nhiên khác.

Trở lại. Du Tử Lê thành công ở thơ vì chính-thức­được-thừa-nhận. Tác phẩm “Thơ Du Tử Lê 1964-1972” đã được Giải Thưởng Văn Học Toàn Quốc 1973 về bộ môn thơ của Miền Nam. Nhưng quan trọng hơn, chính những vần thơ trong thời gian này viết về tình yêu, về chiến tranh, về con người. Rất xúc động cho người đọc thơ. Đây mới là sự xác quyết đáng tin cậy về giá trị và danh xưng Nhà-thơ-du-tử-lê.

Đọc lại một hai đoạn trong “Khúc Thụy Du”. Bài đầu trong tập thơ vừa dẫn.

Như con chim bói cá
Tôi thường ngừng cánh bay
Ngước nhìn lên huyệt lộ
Bầy quạ rỉa xác người
(Của tươi đời nhượng lại)
Bữa ăn nào ngon hơn
Làm sao tôi nói được

Hoặc:

Mịn màng như nỗi chết
Hoang đường như tuổi thơ
Chưa một lần hé mở
Trên ngọn cờ không bay…

Vào lúc đó, lúc mà thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền còn là một khám phá mới. Như Du Tử Lê bây giờ. Thì ý thơ và lời thơ đó rất lạ.

Khi ra khỏi nước, thi sĩ làm thơ hay hơn, làm thơ nhiều hơn. Mất nước, nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con. Những thao thức khắc khoải, nỗi đau dằn vặt là những chất liệu nuôi dưỡng cho những bài thơ hay, cảm động, có hồn. Có thể nói, thơ Du Tử Lê hay nhất về thân phận lưu vong. Trong đó có bài “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”. Bài thơ rất xúc động và buồn. Bài thơ được nhiều người biết đến. Cả trong lẫn ngoài nước. Ngoài nước thì rõ rồi. Ở trong nước, cộng sản dùng bài thơ này để vẽ nên một hình ảnh thảm thương của người Việt di tản, nhằm chận bớt những bước chân hốt hoảng ồ ạt bỏ nước ra đi. Một anh thuộc diện H.O, trong khi tâm sự với Du Tử Lê và tôi, cho biết, vì đọc bài thơ đó anh đã có ý định bỏ đi Mỹ.

Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển
Đời lưu vong không cả một ngôi mồ
Vùi đất lạ thịt xương e khó rã
Hồn không đi, sao trở lại quê nhà

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi
Bên kia biển là quê hương tôi đó
Rặng tre xưa muôn thuở vẫn xanh rì

(nhảy 4 đoạn)…

Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng chết
Đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

Phải ở trong hoàn cảnh, nếu không tan nát thì cũng mất mát gần hết, khánh tận cả đến những hoài vọng cỏn con, nhẫn nhục sống trên đất nước quê người, mới thấm trọn bài thơ.

Cho nên tôi sẽ không đồng ý với Đổ Quý Toàn khi cho rằng “… đó là một bài thơ bình thường. Ai cũng có thể làm được. Cái đó không khó.” (Đêm DTL Montreal 94). Nếu nói bài thơ đó không lạ, thì hoàn toàn đồng ý. Tôi cũng có ý này khi đọc bài “Cõi tôi.” (cõi tôi, cõi nát, cõi tàn…). Đây là một bài-thơ-không-DTL. Bởi vì nó phảng phất hơi hám của thi-sĩ-thoát-đời Bùi Giáng. Hoặc, tựa như lời một ca khúc rã rời của Trịnh Công Sơn. Nhưng nếu cho rằng. “Khi tôi chết…” là bài thơ ai cũng có thể làm được, không khó thì quá đáng chăng! Một bài thơ đọc nhiều lần vẫn cảm động, rõ ràng đó là bài thơ hay.

Nói gọn lại. Du Tử Lê là nhà thơ. Từ đầu đến cuối, cũng chỉ muốn mình như thế. “Khởi đầu cũng như cuối chót, tôi muốn được là một người làm thơ. Ở con người này tôi thấy nó mang nhiều cái tôi chân thật hơn cả.” (Chấm dứt luân hồi: em ước ra. DTL). Đam mê dằn vặt, vất vưởng lận đận, bệnh đau dày vò, để chung thủy với thơ. Du Tử Lê là một trong những trường hợp hiếm thấy.

2-
Về, một bài thơ của Du Tử Lê được phổ nhạc. “Khúc Thụy Du.”

Thơ phổ nhạc có lẽ là một thể loại sáng tác đặc biệt Việt Nam. Có thể vì bản chất thơ VN là vần điệu. Trong thơ đã có nhạc. Các nhạc sĩ đã làm cho các bài thơ được đại chúng hóa. Sự phối hợp giữa thơ và nhạc nhiều khi đã nâng giá trị bài thơ lên cao hơn về mức độ thưởng ngoạn. Ngậm Ngùi của Huy Cận, Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư… được Phạm Duy phổ nhạc; Chiều, thơ Hồ Zếnh, nhạc Dương Thiệu Tước… là những thành tựu tuyệt vời. Thơ, không bị đổi hay thêm lời cho đúng theo nhịp điệu và âm sắc, đã nhờ nhạc mà hay hơn. Nhạc có thơ mà ngôn từ hóa, chuyên chở cảm xúc trực tiếp, cụ thể đến người nghe.

Thế nhưng, không hiếm khi chính các bài nhạc phổ đã giết chết bài thơ tức tưởi. Bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan do Zũng Chinh và sau này Phạm Duy phổ nhạc là một trường hợp. Khoảng đầu thập niên 1950, học sinh thành phố chuyền tay say mê đọc và học thuộc lòng bài thơ. Bài thơ bi hùng và lãng mạng đó được Zũng Chinh phổ theo điệu bolero rất bình dân và phổ biến vào lúc đó. Nhạc sĩ trẻ quân đội này (hình như là một thiếu úy đã hy sinh tại Phan Thiết?), thay đổi và thêm lời cho đúng nốt nhạc và điệu nhạc. Bài nhạc được hát nơi nơi. Nhưng, kể từ đó nó đã kết liễu luôn một trong những bài thơ hay nhứt thời kháng Pháp. Nhạc sĩ Phạm Duy, bạn đồng lứa của Hữu Loan, có lẽ muốn cứu sống lại bài thơ, đã phổ nhạc với tựa đề “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”. Lấy từ câu áp cuối của bài thơ. Bản nhạc hay hơn, tiết tấu thay đổi lôi cuốn hơn. Nhưng với tài năng của mình, Phạm Duy không cứu nổi bài thơ. Nếu không muốn nói, bài thơ đã bị giết chết lần thứ hai!

Trường hợp này gặp lại với Khúc Thụy Du của Du Tử Lê do Anh Bằng phổ nhạc. Duy Cường hòa âm. Lại thêm giọng nam hàng đầu Vũ Khanh. Đây là một bản nhạc tình hay. (CD Quê Hương Là Người Đó. Mười nhạc phẩm phổ thơ DTL). Thế nhưng, với những ai đã đọc và thích bài thơ này từ lâu, không biết có như tôi không. Rất khó chịu.

Như đã nói ở trên. “Khúc Thụy Du” vốn là một bài thơ dài 68 câu. Như hầu hết thơ của DTL vào giai đoạn này. Trong đó Du Tử Lê nói đến cái đau đớn dằn vặt, nỗi cô đơn, bất lực, cái phi lý về chiến tranh, về cái hạn hẹp thân phận người và về cả tình yêu. Trên quan điểm chiến tranh chính trị hồi đó, đây là một bài thơ phản chiến, Bộ Thông Tin đã đục bỏ mấy chục câu. Trên quan điểm văn học nghệ thuật hiện thực, Du Tử Lê là một nhân chứng. Bài thơ phản ảnh thực trạng một mảnh đời nào đó, dưới góc độ xúc cảm của người làm thơ. Cũng như Ca Khúc Da Vàng là xúc cảm của người viết nhạc Trịnh Công Sơn về chiến tranh và bom đạn.

Ngoài những câu đã trích dẫn, thêm mấy câu:

Trên xác người chưa rữa
Trên thịt người chưa tan
Trên cánh tay chó gậm
Trên chiếc đầu lợn tha
Tôi sống như người mù
Tôi sống như người điên

Bài thơ này, dứt khoát không phải đơn thuần về tình yêu ray rức trai gái. Nhưng khi trích phần cuối để phổ nhạc

Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh…

Bài thơ hay của Du Tử Lê, đã trở thành một bản nhạc tình, không hay hơn các bản nhạc tình có sẵn. Chìu theo âm sắc, “con chim bói cá” sửa thành “loài chim bói cá” ; “trong vụng nước cuộc đời.” đổi thành “trong vũng nước cuộc đời.” Các tác dụng tượng hình, tượng thanh của chữ và nghĩa, gợi lên sự cô đơn cùng cực của con người trong cái hạn hẹp chật chội của kiếp người, đã bị đánh mất trọn vẹn. Như tôi đã nói đùa với Du Tử Lê. Việc này tương tợ như cắt một khúc nào đó trên thân thể Du Tử Lê. Rồi bảo. Đây chính là hắn đó. Thì quá tội nghiệp cho Du Tử Lê và cũng tra tấn người lỡ yêu bài thơ!!!

Dạy học ở đây tôi thường can dự hòa giải việc thầy cô giáo và nhà trường kiện các cha mẹ tội bạo hành đánh con. Child Abuse. Cũng nên đưa Du Tử Lê ra tòa vì tội đã đồng tình cho người ta hành hạ con mình. Nếu như coi bài thơ là con đẻ với mệnh hệ riêng, như chính DTL đã viết. “Mỗi bài thơ một mệnh hệ riêng.” (Tình yêu/Trang ruột và, /Bìa sách).

3-
Văn thơ Du Tử Lê, cái lạ chưa hề thấy.

Du Tử Lê giờ được biết đến, được hâm mộ, như là người làm thơ hay, người làm thơ thứ thiệt. Nhưng cái nổi ở Dư Tử Lê là nỗ lực sáng tạo đổi mới thơ văn. Còn quá sớm để có thể có một kết luận về công lao của Có nhiều người thích và cũng có nhiều người không thích hay chưa thích được. Có người cảm được và cũng rất nhiều người chưa cảm được. Một điều chắc chắn, trên suốt hành trình gần năm mươi năm làm thơ và viết văn, từ trong nước và những năm đầu ngoài nước, Lê bây giờ không phải là người năm xưa nữa.

Thơ Du Tử Lê bây giờ rất ngắn. Nếu lật tập “Thơ Du Tử Lê 64-72”. Hay những tập thơ đầu xuất bản ở hải ngoại, hầu như những bài thơ thường dài sáu, bảy mươi câu. Du Tử Lê trong giai đoạn này như ham hố muốn nói thật nhiều điều trong một bài thơ. Hay đúng hơn, cần dùng nhiều câu thơ mới trang trải hết một ý thơ của mình. Người đọc thơ nhờ vậy cũng không khó để hiểu, để cảm. Những bài thơ này rất dễ ngâm. Giờ đây, Du Tử Lê sâu sắc, lắng đọng, tự tin. Nên thơ thường rất ngắn, rất đọng, rất sâu. Mỗi bài thơ không còn dễ đọc. Nó đòi hỏi một trình độ suy tư và trực giác bén nhạy để có thể giao thoa với hồn thơ của tác giả.

Lại nữa. Thơ Du Tử Lê bây giờ rất nhiều dấu. Dấu loạn xạ. Trước đây thơ thường không dấu. Chẳng chấm, chẳng phẩy, không viết hoa gì ráo trọi. Thơ đi một mạch từ đầu đến cuối. Giờ thử lật tác phẩm “Sông núi người thơm, nỗi nhớ nhà”. Bài thơ nào cũng tùm lum dấu. Dấu chấm, dấu phẩy, dấu than, dấu hỏi, dấu chấm than, dấu gạch ngang, nhiều dấu giữa hai ngoặc đơn… và đặc biệt chưa hề thấy, dấu chéo/slash, một sáng tạo đề nghị của Du Tử Lê. Đọc bài “Chỗ ngồi đâu lưng”. Thấy đủ.

Tôi yêu tôi: trong tôi/người/
Chuyến xe song mã;chỗ ngồi:đâu lưng. (?!,)
Tôi yêu tôi: trong tôi/nguồn/
Vai nghiêng mái biển/chân/lần,khân,/chia/
Tôi yêu tôi: trong tôi/về/
Tới ngang khúc quẹo tâm lìa, biệt, đi; (,.)
Tôi yêu tôi: trong tôi/quỳ/
Dưới chân Đức Phật em vừa/quy y/.

Rất đồng ý với Bùi Bảo Trúc. “Thơ Du Tử Lê bây giờ để nhìn và đọc.” Những ngâm sĩ trứ danh một thời như Hoàng Thư, Hồ Điệp, Quách Đàm, chắc cũng lắc đầu. Giữ vần thì không hết ý. Hết ý thì lạc vần. Trúc trắc, trục trặc. Thơ như thế thì làm sao mà ngâm được!

Nói thêm về dấu chéo / slash. Đặc-sản-du-tử-lê. Đọc lại bài thơ trên rồi nghe Lê giải thích về tác dụng của dấu chéo.

“Dấu chéo / như một ký hiệu, báo thị cho người đọc biết rằng những chữ đằng sau hay ở giữa hai dấu chéo/ slash, người đọc có thể hoán đổi vị trí của chúng và, nó cũng mang tính xô đẩy hai chiều thuận nghịch nữa.”

Bằng cấu trúc hành văn mới mẻ này, Du Tử Lê mong tạo cơ hội để độc giả trở thành một tác giả thứ hai. Bằng cách hoán đổi. Để có một câu thơ khác theo ý mình. Lê đã trưng dẫn ví dụ, trả lời phỏng vấn đài Tiếng Nói Hoa Kỳ.

“Với câu thơ. Rừng/sâu/tôi/thở nốt chân trời. Áp dụng hoán vị sẽ có ba câu thơ khác”

Tôi/rừng/sâu/thở nốt chân trời
Sâu/rừng/tôi/thở nốt chân trời
Thở nốt chân trời/rừng/tôi/sâu

Không biết có ai đã nghe theo lời của Du Tử Lê để thử làm một tác giả thứ hai không. Riêng tôi, chỉ đọc không thôi cũng đủ “oải” rồi. Ngoài những bài thơ, không còn sử dụng được từ vần thơ khi nói về thơ Du Tử Lê, tùy bút là nơi được sử dụng tối đa các dấu chéo /slash.

Đọc một đoạn trong tập tùy bút “Chỗ một đời em vẫn để, dành” ((Trang 171. Nhân Chứng 75).

Họ mang thân xác/nước mắt / lý tưởng / trí thức / tâm lý / đảm đang / trong trắng (?) / ngây thơ (?) / mồ hôi / sức lao động / tinh thần hy sinh / mơ ước thờ chồng,nuôi con /… làm bả thơm (?) dụ những con mồi ngây thơ (thực sự ngây thơ?) sập bẫy.

Thú thật, các tấm lá chắn / đối với tôi vẫn chỉ có tác dụng như những dấu phẩy với cái lấn cấn của hình thức. Mong sao đến một lúc nào đó sẽ nắm bắt được, cảm được cái hồn thơ và ý văn của tác giả. Sinh ở Huế và lớn lên ở Sài Gòn. Tôi không còn một ký ức nào về cái lần đầu tiên mạ tôi cho tôi ăn ớt. Chắc cay lắm. Đã chảy nước mắt. Nhưng giờ đây, một tô bún bò không cay xè thì tôi thấy nhạt nhẽo vô duyên vô cùng. Biết đâu thời gian sẽ giúp cho tôi, cho người đọc Du Tử Lê hôm nay (cũng như Thanh Tâm Tuyền trước đây với “Một cửa sổ, hai cửa sổ…” trong tập thơ choáng váng mặt mày Tôi Không Còn Cô Độc. Sáng Tạo 55) sẽ ghiền các dấu chấm tùm lum, dấu chéo lạ đời khó chịu. Như tôi và người xứ Huế ghiền ớt cay ở tô bún bò.

4-
Về, hình bìa của tập “Love Poem/Thơ Tình” của Du Tử Lê.

Trước 75, có một nhà thơ lính chẳng nhiều người biết, nhưng anh là một nhà thơ Kaki rất phiêu bồng sảng khoái. Tôi muốn nhắc đến Nguyễn Bắc Sơn. Thơ của anh như thế này đây:

Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá và hăng say chiến đấu
Ta vẫn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo

Tôi thích câu này

Trong Nguyễn Bắc Sơn có kẻ làm thơ
Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng
Hoặc nhà tu theo khí hậu từng mùa.

Ý thơ này bất chợt đến với tôi khi cầm và ngắm bìa trước, bìa sau tập “Love Poem/ Thơ Tình” của Du Tử Lê gửi tặng. Bìa trước, hình thi sĩ ở trần trùng trục, mặt cô hồn. Bìa sau, áo hở ngực, mặt bơ phờ sau khói thuốc. Hai hình ảnh Du Tử Lê trước sau cuộc tình. Mới hôm, chuyện trò với một bà giáo Việt quen thân. Khi nhắc đến buổi nói chuyện về Du Tử Lê, bà ngắt ngang, phán một câu. “Nghe mấy người quen nói ông này mới viết một tập thơ gì bậy bạ lắm phải không anh?” Tôi chưng hửng, nhưng hiểu ra ngay. Qua hình bìa, một số các đấng đã gắn luôn một nội dung không hề mang cho tập Thơ Tình. Thôi thì đề nghị tác giả cho Nguyễn Thụy Long mượn hình bìa này cho lần tái bản truyện du đãng “Loan mắt nhung”. Hoặc muốn giữ lại cho mình thì thêm vào tập thơ bài thơ “Làm Tình” của Lê mới làm đề tặng Phạm long, Hòa long và một số bạn bè. Lấy tên bài thơ nầy làm tựa đề luôn cho tập thơ là tiện.

5-
Ai người đọc thơ văn Du Tử Lê mai hậu?

Cụ Nguyễn Du lo xa, ba trăm năm sau có ai còn nhớ mà khóc cho mình, thì tôi lại lẩn thẩn hỏi. “Bất tri tam thập dư niên hậu, thiên hạ hà nhân độc Tử Lê?” Ba mươi năm nữa liệu còn ai hiểu để đọc DTL? Những người đọc đương đại, với tri thức và bản lĩnh về ngôn ngữ Việt và trình độ cảm quan nghệ thuật còn oải khi đọc thơ văn hiện nay của Du Tử Lê. Thử hỏi thế hệ con cháu chúng ta lớn lên hay sinh ra ở “Cõi người” chắc sẽ không còn đủ trình độ Việt ngữ để hiểu, để cảm Du Tử Lê. Mới tháng trước đây, trong một lớp Việt ngữ Hè, khi thầy giáo thiên nguyện chép câu ca dao “Công cha nghĩa mẹ khôn đền.” Hầu hết các học sinh đã nhanh nhẹn và tự động sửa lại là “Công cha nghĩa mẹ không đền.” Các em tưởng là giảng viên viết thiếu chữ “g”. Các em không hiểu được chữ “khôn” trong tiếng Việt.

Nửa thế kỷ với hai lần vượt trốn cộng sản vĩ đại. Từ Bắc vào Nam. Từ Nam ra hải ngoại. Người Việt tị nạn đã đem theo mình một dòng văn học tự do mang tính người.

Với tất cả cái hay cái dở. Cái đúng cái sai. Cái được trân trọng giữ gìn và cái tự thân đào thải. Đối nghịch với dòng văn học này, là dòng văn học chuyên chế. Ham hố, trịch thượng, giả nhân. Luôn luôn đúng, luôn luôn tốt. Chắc chắn sẽ có một ngày, xa gần chưa biết, chế độ “lệnh xé xác” cộng sản sẽ nổ vụn tan tành. Tới lúc đó, khối lượng trẻ già trong nước, sẽ đón nhận các tinh hoa văn chương hải ngoại, trong đó chắc phải có Du Tử Lê. Được như vậy, công khó của Du Tử Lê hôm nay sẽ không là xa xí phẩm!

Để dứt. Nếu tập “Thơ Ở Đâu xa” (Văn 1990) của Thanh Tâm Tuyền, với những bài thơ hay nhất, cho đến nay, về người và ngày cải tạo trong các trại tù cộng sản. Nếu bài thơ dài 122 câu “Ta Về” của Tô Thùy Yên, man mác bùi ngùi. Một bài thơ trác tuyệt viết ngày trở về từ địa ngục, hậu cải tạo. Thì, thơ của Du Tử Lê hay nhất về mảnh đời và mảnh hồn tị nạn. Thanh Tâm Tuyền là người làm cuộc cách mạng thơ, bằng những bài thơ tự do. Du tử Lê cũng đang làm mới thi ca bằng chữ và dấu.

Du Tử Lê trả lời đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA). “Tôi tự biến mình thành vật thí nghiệm. Có thể tôi thất bại. Nhưng hy vọng người khác sẽ có những nỗ lực cách tân hoàn chỉnh hơn.”

Với thái độ này không thôi, cũng đủ cho tôi nói riêng với Du Tử Lê. “Ta chịu Người-Cự-Phách”.

6-
Viết thêm.

Bài này ghi những phát biểu chuẩn bị và bất chợt của Ninh Hạ trong đêm Thơ Nhạc Du Tử Lê, đầu Thu 1996 tại Chicago

Khi viết những giòng này cho sách ấn hành, thì bạn tôi giờ đã thật sự trở về “Cõi Tôi”. Mấy năm vật lộn với thần chết. Mà có lần trên bàn mổ đã ghé qua “Cõi Trời”. Nhưng nay mỗi sáng Du Tử Lê/ (Đọc theo hoán đổi của bạn tôi là Lê Tử Du. Có nghĩa là Lê vòng chơi cõi chết. Đúng quá!) lại có thể gặp bạn bè năm ba đứa cà phê tán gẫu. Khi trả lời câu hỏi của Vũ Chung của đài VNCR. Đại ý. “Sau khi chết đi sống lại, có việc gì phải cần làm lại”. “Sống tử tế hơn với người.” Ngoài thơ văn trả ơn đời, ơn người, một lần chết đi sống lại, Du Tử Lê nhắn cho bạn bè chừng đó.

Ninh Hạ

(Lê Thy đánh máy lại từ sách THOÁNG NGẬM NGÙI do tác giả gửi tặng BVCV)

 

 

This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Ninh Hạ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s