CHỒNG LÍNH (Mỹ Hiệp)

CHỒNG LÍNH

giotnangxien_frontKhông gian cô đọng, thời gian như ngừng trôi. Chốc chốc Mai vén tay áo dài xem đồng hồ, quả thật hai chiếc kim hình như cũng ngừng di chuyển, đối với Mai trong trạng thái bồn chồn lo lắng cực điểm nầy. Quái lạ, có gì bất trắc đã xảy ra chăng. Nàng nói với chính mình và tìm câu giải đáp để tự trấn an. Tiếng kẻng tan trường ngân vang, Mai thở phào nhẹ nhõm, nhanh nhẹn thu vội sổ sách, bút phấn và đi về phía văn phòng. Nàng thoát nhanh ra khỏi ngôi trường mà không gặp một đồng nghiệp nào. Mai miên man suy nghĩ lẫn lộn từ chuyện nầy sang chuyện khác, không đầu đuôi không ngọn ngành…

“Chàng thì đi vào nơi gió cát
Đêm trăng nầy nghỉ mát nơi nao?”

Mai mang tâm tư của người chinh phụ dõi bước theo chân người yêu. Trải bao thế kỷ chiến tranh vẫn không chấm dứt, nó chỉ thay tên đổi họ, khoác một lớp áo hồng sặc sỡ cho những mỹ từ, mà trong đó sự giết chóc và tù hãm con người với con người, chủ nghĩa và lý tưởng… Phút chốc nàng đã đứng ngay trước cổng nhà. Nghe mẹ bảo:

– Có thư của Hùng, mẹ để trên bàn trong phòng con đấy.

– Dạ!

Trống ngực Mai đập mạnh, nàng tưởng chừng như nếu có người đứng cạnh cũng nghe thấy, Mai đặt tay trên ngực như để dằn không cho tim bắn ra khỏi lồng ngực mình. Không thay áo quần, nàng bay vào phòng, nhanh như có bà tiên huyền diệu tháp cánh cho tự bao giờ. Nhìn nét chữ ngoài phong bì Mai cười mắng yêu: “ Chữ viết không khác con gà mái” . Trong khoảng khắc Mai đã đọc xong bức thư, tuy tràn đầy bốn trang nhưng nàng chỉ còn nhớ vỏn ven một câu “Em hãy đến với anh một lần, một lần rồi thôi, thôi mãi cũng chẳng sao!”

Mai lẩm bẩm nhiều lần cố tìm hiểu tâm trạng của người yêu. Cô đơn và hãi sợ chăng? Dầu sao Hùng cũng vừa rời quân trường khoảng một tháng. Chính ngay giây phút làm lễ mãn khóa, anh đã tự hiểu, đã đến lúc mình phải dấn thân cho an nguy đất nước, dùng đến khối óc, buồng tim để bảo vệ cho chính bản thân và cho những đồng đội quanh mình. Đèo Phủ Cũ, một địa danh trong tỉnh Bình Định, nằm trên quốc lộ số một, từ Qui Nhơn ra Bồng Sơn, em phải đi ngang qua đèo nầy… Hùng tả sơ để Mai có thể đến thăm chàng. Đó là nơi chàng đang đóng quân. Bức thư trước còn đóng dấu KBC 4100, Hùng cho biết sau lễ mãn khóa chàng không có phép về thăm Mai được, mà phải ra ngay đơn vị vì tình hình khẩn trương của đất nước. Tết Mậu Thân và liên tục những tháng kế tiếp là một chuỗi tấn công… Khóa 26 là một khóa đặc biệt phải vào vùng chiến sự ngay sau lúc đeo lon… Hùng còn cho biết anh chọn được về nguyên quán Bình Định. Thấy Hùng dùng động từ “được” là Mai an lòng ngay. Quê Mai ở Khánh Hòa đến Bình Định không bao xa, mặc dầu thế, Mai chưa được một lần đặt chân đến. Nhưng sau khi tâm sự cùng vài người bạn, họ đều bảo Bình Định là vùng chiến trường ác liệt hoặc là dân bị đì mới bị đưa về đó. Một người bạn học cũ, nay đang phục vụ ở sư đoàn 22 kể rằng vùng Tam Quan Bình Định con gái thật đẹp, ở đó có rừng dừa nên thơ, các cô du kích nằm vùng dụ dỗ quân nhân vào uống nước dừa, rồi thừa cơ dùng dao chặt đầu và sau đó biến mất… Nghe đến đấy Mai lạnh toát cả người, dường như chất lạnh kim khí của loại dao nầy cũng đang ngự trị trên cổ nàng. Bình Định là vùng xôi đậu. Đối với Hùng được về nguyên quán nhưng đối với Mai bị về nguyên quán thì đúng hơn. Chỉ còn hơn tháng nữa là đám cưới của chúng tôi, thế mà chẳng nghe Hùng nói đến có được về phép hay không…

****

Mùa xuân năm 1964, trong lúc thu xếp sách vở trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị đón tết, trong ngăn tủ sách của anh Nhi, tôi bắt gặp một phong bì gởi cho tôi. Trên tấm thiệp “Một câu chúc xuân, một lời làm quen” dưới ký tên là Hùng. Tôi hiểu ngay là bạn Hướng Đạo của anh mình, nhưng không biết đích xác là người nào. Vì trong toán Tráng nầy có ba người cùng tên, một cao, một mập, một lùn. Muốn hỏi ông anh nhưng lại ngại ngùng. Bạn của anh Nhi nếu không quen cũng không phải là lạ, hàng tuần họ sinh hoạt về, lăn ra ngủ trên tấm phản gõ đặt ở phía trái phòng khách sát cửa sổ… Người nào cũng thân trần với chiếc quần đùi… Tôi thật ngượng ngùng khi phải đi qua phòng nầy những khi có bạn của anh Nhi ở đấy. Nhưng sau đó tôi cũng tò mò và biết được anh nào là Hùng họ Lê. Trong bộ đồng phục áo kaki vàng, quần sọt xanh của người Hướng Đạo mang tên rừng “ Sóc Lanh Lợi” đã dễ dàng chiếm được cảm tình của tôi…

Ngày đám cưới, chỉ có mẹ và bác của anh từ Sài Gòn đem lễ vật ra. Đám cưới không có chàng rể. Ba tôi có ý từ chối không cho cử hành, nhưng mẹ tôi thì dễ dãi nói “ Duyên phận của nó là vậy, cũng vì thời cuộc cả mà!”. Ngay ngày hôm sau, mẹ chồng, mẹ tôi và tôi đáp máy bay ra Qui Nhơn. Trời đẹp mây xanh, mẹ tôi bảo “Chưa tan viên kẹo đã đến nơi rồi, giống như má ngồi trên tấm phản ở nhà “. Tôi mừng lắm, sợ đi máy bay không quen mẹ bị ói, nhưng may mắn quá, trời thật tốt, máy bay lên và xuống đều nhẹ nhàng êm ái. Ba người chúng tôi ghé vào nhà cậu Bốn (anh ruột mẹ chồng tôi) thì được nghe Hùng vừa rời khỏi nơi này khoảng một giờ, “nó đang đợi giấy phép về cưới vợ.”

Mẹ chồng giới thiệu tôi với cậu, cậu vui vẻ xách xe đạp tìm Hùng. Khoảng nửa giờ sau chúng tôi gặp nhau. Cậu nhanh nhẹn vui vẻ và thật hiếu khách, khiến tôi an tâm và cảm thấy thân thiện với người họ hàng nhà chồng đầu tiên tôi gặp.

Sáng hôm sau tôi lại lên đường. Ba người chúng tôi hôm nay có thêm Hùng. Tôi cũng cảm nhận được rằng cuộc hành trình của tôi sẽ còn dài và mãi mãi không biết đến bao giờ dừng lại! Tương lai là đâu? Nơi nào là nhà? Tôi và Hùng chưa bao giờ dệt với nhau về mộng tương lai; cũng chưa hề kề bên nhau thủ thỉ như những cặp tình nhân mà tôi đã đọc được trên những trang tiểu thuyết một mái nhà tranh, hai quả tim vàng Tôi biết tôi đang rời vòng tay bảo bọc của mẹ, xa căn nhà ấm cúng của cha…

Đêm đêm hỏa châu soi rực cả bầu trời, khẩu súng cối 105 ly đặt nơi sân vận động Ninh Hòa, ngày ngày phát đi những tiếng nổ kinh hồn làm rung chuyển những cánh cửa kính nhà ven quận lỵ… Những chiếc lều vải giăng giữa trời là nơi tạm trú của những người lính trẻ, nay ở quận lỵ này, mai di chuyển đến địa danh khác. Họ cũng chẳng có nhà cửa và cũng chẳng hiểu tương lai mình về đâu! Tôi muốn chính mắt mình nhận diện hình thù cuộc chiến, tôi sẽ đi với Hùng bất cứ nơi nào, vì tôi không còn chịu đựng được nổi khắc khoải chờ mong và những cơn oằn oại đớn đau của sự mất mát sẽ có thể đến với tôi bất cứ lúc nào.

Trên đường từ Qui Nhơn ra Bồng Sơn, Hùng chỉ cho tôi xem đèo Phủ Củ, nơi anh đang đóng quân trong ngút ngàn màu xanh và lổ chỗ ổ vết bom rơi. Một con đồi trơ trọi giữa những dãy núi Trường Sơn mà con quốc lộ cô đơn vắt ngang như giải lụa lạc loài…và những túp lều nghèo nàn xa xa rải rác, cô đơn và hiu quạnh! Gần ba giờ trên xe xuôi về hướng Bắc, chúng tôi đến quận lỵ Bồng Sơn. Xe vượt qua chiếc cầu lát gỗ chung với cầu giành cho xe lửa. Hùng giải thích rằng chiếc cầu qua sông Lại Giang giành cho xe hơi đã bị phá và đang sửa chữa ! Một cảnh trí xanh mát mở ra, với ngút ngàn những ngọn dừa, nhà không lớn lắm, phố không sầm uất nhưng thân mật và dễ thương…

Hùng cho tôi biết, một người bạn học cũ hồi anh còn là học sinh trường Tăng Bạt Hổ, đã nhường cho anh một căn phòng để xây tổ ấm cho hai vợ chồng… Tôi lẽo đẽo theo Hùng, theo sau là hai bà già ngơ ngác trong khung cảnh vừa nhà binh vừa dân sự lạ lùng trong phố thị, một góc chiến tranh đang rình rập! Không bạn bè, không thân thích, nhưng tôi cũng thật an tâm vì có Hùng bên cạnh.

Hùng đưa tôi vào một căn nhà cổ rộng lớn. Nền cao tường dày và nứt nẻ đầy rêu phong, nhưng địa thế thì thật là thuận tiện cho việc kinh doanh. Không hiểu vì sao chủ nhân của nó đã bỏ chạy vào Qui Nhơn sinh sống và giao lại cho đứa con trai quản thủ. Nơi đây trước kia là một tiệm thuốc Bắc lớn và nổi tiếng, theo Hùng kể. Căn nhà tuy lớn thênh thang song không được sơn phết đã nhiều năm, lại có nhiều vết nứt chạy dài từ nóc xuống tận chân tường. Chiến tranh đã xảy ra chính tại nơi này chăng? tường nứt mái loang! Đến chân cầu thang gỗ, Hùng chỉ “Lên cầu thang này là phòng tụi mình trên ấy!” Chiếc cầu thang bằng gỗ cũ kỹ tối om, hun hút. Tôi bắt gặp một cảm giác là lạ, tần ngần không muốn bước lên. Hùng nhanh nhẹn lên trước, nện những bước chân nhà binh thình thịch làm chiếc cầu thang rung rinh nhẹ. Những chiếc va ly đã được đưa lên, hai bà mẹ cũng đã lên phòng, tôi là người lên cuối cùng. Trong phòng vỏn vẹn một chiếc giường gỗ, một tấm nệm, không gối không mền, không vải trải giường. Tôi đoán không lầm, đây cũng là lần đầu Hùng mở cửa căn phòng này. Một mùi hăn hăng hắt, ngai ngái tăng tăng trong mũi. Đó là những hương vị lâu ngày không ai ở… ẩm thấp và trống vắng! Từ ngày ra đơn vị Hùng chỉ ở trên đồi với đồng đội, được thư nhà là vội về tỉnh xin và đợi phép, chàng đâu có thời gian nào để trang hoàng và sửa sang tổ ấm của vợ chồng cho chu đáo hơn! Mai không cảm thấy tủi thân tí nào. Nàng lấy giấy bút kê ra những món cần thiết phải mua sắm cho một gia đình mới. Một ngày sau cuộc sống của cặp vợ chồng trẻ được ổn định ngay…

Qua hai đêm ngủ nửa mê nửa tỉnh vì lạ cảnh lạ nhà, sáng hôm sau chúng tôi lại lên đường để viếng thăm ông bà nội bên chồng. Chúng tôi di chuyển bằng xe lambretta , dọc đường Hùng luôn luôn giới thiệu từng địa danh đây chợ Bộng, gần bên kia là đồi Đệ Đức, Trung đoàn 40 thuộc sư đoàn 22 đóng ở đó! … Đây cầu Nước Mặn…

Dọc hai bên đường, những cánh đồng lúa xanh tươi vươn mình đầy sức sống, khoa trương dưới ánh nắng mặt trời. Tôi hít hơi dài để tận hưởng hương cỏ thơm đồng nội. Từng cơn gió nhẹ thổi qua, các nàng lúa ngã chúi vào nhau thì thầm cười khúc khích, thật an vui bình thản. Tôi muốn được biến thành một nhành lúa nhỏ, sống trên cánh đồng nầy, hòa mình trong đời sống đó, mặc thiên hạ đua chen giết chóc, mặc sanh tử không làm mình vướng bận buồn đau. Phải! Tôi muốn trở thành Lúa, Bà chúa Lúa ơi! giúp tôi đi, hãy giúp tôi đi.

“Hạt vàng ta hiến cho người
Lá thân gia súc vui cười no nê!”

Bỗng một khách đồng hành ngồi bên cạnh cất tiếng : “Cách đây hai hôm trên chặng đường nầy bị đắp mô, một toán trẻ dưới mười tuổi chận xe và liệng lựu đạn vào, làm chết mấy người lính và thường dân”. Trong cảnh vật êm đềm thơ mộng nầy, tôi cứ ngỡ nơi đây có một đời sống thanh bình yên ổn, nào ngờ kẻ khủng bố không buông tha một thủ đoạn nào trên mảnh đất nầy. Họ dùng lời đường mật dụ dỗ trẻ thơ ngây ngô, chúng được gán cho những mỹ từ anh hùng tí hon. Nghe cũng êm ái lắm chứ, cũng hiên ngang và anh hùng lắm chứ! Những đứa bé suốt đời chỉ biết con bò, đồng cỏ, làm gì để được gọi là anh hùng đây? Quả lựu đạn bằng nắm xôi, cũng vừa tầm tay của những đứa con nít, nếu thoát chết sẽ được hoan hô chúc tụng, nếu chết đi cũng được tuyên dương và truy tặng liệt sĩ kia mà…! Ôi! ngán ngẩm làm sao cho những kẻ lấy sự máu đổ thịt rơi, lợi dụng lòng yêu nước để mưu cầu cho một trong những ý đồ điên cuồng nhất thế kỷ… Và cười vui sau những chiến công giết người, tự hào cho sự hiển hách đó. Tôi không muốn làm đồng loại với họ. Bà phù thủy ơi! Bà hãy biến tôi thành cây cỏ đi. Tôi sợ ngay chính cả tôi nữa rồi.

****

Một vị mặn đắng thấm vành môi mỗi lần liên tưởng đến Ánh tôi đều xúc động mãnh liệt. Một buổi tối, tôi chẳng bao giờ quên được, đang soạn bài cho buổi học ngày mai… Tiếng gõ cửa dồn dập, cấp bách, tôi vội vàng mở, nhưng trong thâm tâm vẫn sợ kẻ gian, nên chỉ hé nhỏ không đủ một người lọt vào:

– Cho Ánh vào đi .

Tiếng nói của nàng run lập cập, hơi thở dồn dập. Tôi vội vàng mở rộng để nàng vào và đóng nhanh lại. Linh tính cho tôi biết là Ánh đang trong tình trạng nguy hiểm

– Tắt đèn đi! Tôi làm theo. Sau đó đầu óc tôi bấn loạn vì sợ hãi. Ánh chỉ mặc một chiếc áo lót nhỏ và chiếc quần màu đen…Nếu Ánh làm gì có hại đến an ninh thôn xóm, ví dụ như đi rải truyền đơn… Mình cũng bị vạ lây vì đồng lõa! Ý tưởng nầy lóe lên, tôi hãi sợ đến ngộp thở. Mấy phút trôi qua Ánh và tôi không nói với nhau lời nào, có lẽ Ánh đã nghĩ được những gì trong đầu tôi nên bảo “Cám ơn, mở cửa cho mình về”. Tôi làm theo, và cũng mong nàng rời khỏi nhà tôi càng sớm càng tốt. Suốt đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Vì tò mò không hiểu Ánh làm gì mà ăn mặc kỳ chướng quá khi ra đường, nhất là nàng là cô giáo. Tại sao nàng hãi sợ và hãi sợ điều gì? Sáng hôm sau chúng tôi lại gặp nhau ở trường, không ai bảo ai, chúng tôi không hề nhắc đến chuyện xảy ra tối hôm qua, mỗi người lo nhiệm vụ nấy. Một ý nghĩ lóe lên, sau giờ tan trường tôi đợi Ánh ở văn phòng :

– Trưa nay tụi mình đi ăn mì hoành thánh ông Tù đi! Tôi hy vọng Ánh không từ chối, tôi muốn biết bạn bè của Ánh là ai! Muốn biết đến đứa con của Ánh, cha của nó là ai! Dù tò mò tột đỉnh tôi cũng chưa bao giờ dám hỏi nàng về người yêu và sự ra đời của đứa con nàng. Nhưng Ánh trả lời ngay :

– Hôm nay mình có việc phải đi đàng kia, mình đi gởi Bé cho người ta chăm sóc, mình không có thì giờ săn sóc con, nó đau yếu luôn.

– Mình đi theo chơi được không? nhà ấy gần hay xa, Ánh có thể thăm cháu hay đem cháu về ngủ với mẹ không? Tôi nghĩ Bé cũng cần hơi mẹ lắm.

– Tôi đã đưa cháu đến nhà họ hôm qua, nay chỉ ghé tạt vào xem nó ra sao thôi, vì còn nhiều việc khác phải lo, Mai không đi cùng tôi được đâu..

– Thế thì thôi! gởi một cái hôn cho Bé nhé!

Tôi không thực hiện được ý muốn. Tôi cũng không biết gì hơn về Ánh. Vào những ngày có lương, tôi mua tặng Bé của Ánh bộ quần áo xinh xinh, hoặc sẵn sàng vui vẻ đưa tiền cho Ánh mượn để mua thuốc cho con hoặc đi bác sĩ. Nàng thường lâm vào cảnh túng thiếu vì phải trả tiền cho người nuôi và đứa bé thì thường xuyên đau yếu…

Một đêm, thôn xóm tôi trong cảnh yên lành. Mọi người đang trong cơn say ngủ…Những tiếng nổ kinh hoàng, đạn bay, tiếng lẻng xẻng của mảnh bom văng lên mái tôn làm mọi người tỉnh giấc hớt hãi chuyện gì vậy! Sao đánh nhau gần quá vậy! Sau đó tiếng còi hụ, xe cứu thương, tiếng bước chân dồn dập, không một ai dám mở cửa. Thôn trang chìm trong cơn kinh hãi, chết chóc. Chúng tôi chưa thể biết được những gì xảy ra quá gần nhà mình, cách một căn nhà, hai căn nhà, ba căn nhà… làm sao giải thích được.

****

Ngày ấy là ngày 23 tháng giêng năm Mậu Thân. Tôi đã vĩnh viễn mất Ánh rồi. Nàng mang theo bí mật vào lòng đất mẹ. Và cũng từ hôm ấy tôi luôn luôn có cảm giác như có ai theo dõi mình. Trong giấc mơ lại gặp Ánh! Ánh đi nhanh đi! người ta theo dõi tôi đấy! Nàng cử động nhẹ, chân bước lên mái nhà ra đi, nàng không đi bằng cửa chính như hôm nào.

Mãi đắm chìm trong triền miên quá khứ, những khách bộ hành đã xuống dọc từng chặng đường tự bao giờ tôi không hay biết – Đoạn đường dài bao nhiêu cũng chẳng cần thiết. Hình ảnh ghi được trong tôi là cánh đồng lúa xanh hai bên đường đến cảnh chết chóc của vài ngày trước do người khách đồng hành kể…

– Đến nơi rồi Mai! Tôi chỉ biết mỉm cười lững thững bước xuống xe, lẽo đẽo theo Hùng. Theo sau là hai từ mẫu tội nghiệp…

Căn nhà tranh vách đất và chật hẹp trong con hẻm sâu hun hút ở phố ga Tam Quan, nơi đây Hùng giới thiệu tôi với ông bà Nội. Ông nội quắc thước, phương phi, râu trắng và dài. Tôi tưởng ông là một ông tiên , ông tiên của riêng tôi!.Ông quý tôi như Ba tôi quý tôi, hình như trong mắt ông, trong lòng ông, tôi chỉ là con búp bê bé nhỏ. Tôi mó tay vào làm việc gì, ông cũng réo gọi người khác giúp đỡ. Vừa bỏ chiếc gàu xuống giếng đã nghe : “Hùng! ra xách nước giùm nó”. Ngày hôm sau ông bà cho giết heo gà để cúng tổ tiên và ra mắt hàng xóm láng giềng. Tôi được nghe kể, Ông bà ở bên Cữu Lợi, vì chiến tranh cửa nhà ra tro, chạy lánh nạn nơi nầy. Ông bà duy nhất có một con. Chồng tôi là cháu đích tôn đó và… nay mai ông bà hy vọng sẽ được lên chức Cố! Tôi cũng không hiểu bà con liên lạc nhau bằng cách nào mà chỉ qua một đêm, họ hàng tụ họp đầy đủ, mỗi người góp một tay, trang hoàng nhà cửa, nấu nướng, nhanh nhẹn lẹ làng để tổ chức đám cưới. Phần tôi, lần đầu đặt chân đến đây, tôi không thể hoàn toàn hiểu được những từ ngữ mà người địa phương nói. Đến tối, khi mọi người ra về hết, ông bà nội cũng đã vào giường ngủ. Tôi nằm ôn lại mẩu chuyện xảy ra ban chiều. Một người chị họ tâm sự với tôi rằng: “Mấy tháng nay tôi “đeo” quá, uống nhiều thuốc không bớt!” Tôi ngẩn người và nhìn từ cổ đến tay của chị ta và có ý muốn hiểu chị ấy muốn nói là đeo vật gì! Nhưng rồi chợt nhớ đến câu nói sau, sao lại không thể bổ nghĩa cho câu trước. Tôi cứ suy nghĩ và ngu đần đến nỗi không tài nào đoán được. Tôi lại mỉm cười để giấu sự ngờ nghệch của mình. Chợt nhớ cụ Nguyễn Văn Vĩnh phê trách An Nam ta có cái lạ là gì cũng cười Ừ! tôi là dân An Nam thì cũng phải mang trong máu cái tật đó chứ! .

… Tiếng động nhẹ, giống như sự di chuyển, tôi bỏ ngay suy nghĩ đó để theo dõi tiếng động lạ. Im bặt trong thoáng giây, lại bắt đầu, tiếng động thật nhẹ nhàng và hướng về chúng tôi. Đêm tĩnh mịch, thanh vắng…Tôi phân biệt được rõ ràng tiếng thở phình phịch của ông bà nội vì họ không còn răng, tiếng thở nhẹ của chồng tôi và của hai bà mẹ… Duy chỉ có tôi là không ngủ được. tôi nghĩ đến câu chuyện người khách kể trên chuyến xe Lam đồng hành, tôi nghĩ đến bọn khủng bố đã theo dõi chồng tôi từ ngày hôm trước và dò la đến nơi này. Tiếng động lạ rõ mồn một và ngừng hẳn ở cửa nhà bếp. tôi nghĩ đến quả lựu đan mà Hùng mang theo, hiện giờ nằm ngay gầm giường trong tầm tay tôi… Quả lựu đạn bằng nắm tay nầy, tôi có ý định sẽ làm một chiếc nơ đỏ gắn vào và may một chiếc mũ nhỏ đội lên đầu, biến nó thành một con búp bê đội mũ đeo nơ. Bây giờ tôi phải dùng đến nó để thoát thân hay sao! Tôi sẽ chạy về hướng nào? Tôi đến đây tuy được hai hôm, nhưng quá bận rộn chưa quan sát được hướng nào để gặp Nhân Dân Tự Vệ tiếp cứu. Tôi ngồi dậy vói tay sờ quả lựu đạn. Ôi! sao nó lạnh quá! cái lạnh của tử khí, tôi rụt tay, cái lạnh nhanh chóng chuyền vào cơ thể, chạy dọc theo đường xương sống, tôi rùng mình nổi gai ốc. Hùng giật mình:

– Em chưa ngủ à! đi tiểu hả?

Tôi đưa ngón tay trỏ lên môi ra dấu im lặng. Hùng nhanh như chớp chụp ngay khẩu súng lục đã đặt ngay dưới gối, lên đạn…

Ông nội tôi giật mình hỏi vọng :

– Tụi con chưa ngủ sao, trời sắp sáng rồi, mấy con mèo hoang lục đục suốt đêm.

– Mèo hoang hả nội! Con cứ tưởng có người rình nhà mình.

– Ở đây có nhân dân tự vệ và nghĩa quân canh gác, tuần tiễu suốt đêm, bình yên lắm, ngủ chút nữa đi…Tôi hít hơi thật sâu và thở ra nhè nhẹ, làm như thế nhiều lần để tim được về nhịp đập bình thường, thần kinh tôi giảm dần căn thẳng…Mặt trời chói chang chiếu qua khe cửa, tôi đã chìm sâu vào giấc ngủ vì quá mỏi mệt, tinh thần đã trở lại trạng thái bình thường.

Hùng mượn xe Honda của người anh họ gần nhà, đưa tôi đi xem thắng cảnh quanh vùng. Trước tiên là anh chở tôi hướng ra ngã ba lộ có cái tên Dốc Lò Vôi. Phía trái quốc lộ là một miếu nhỏ.

– Đây là miếu Cô Xíu, linh lắm, em có nhìn thấy không, đáng lý con đường quốc lộ nầy phóng thẳng nhưng không tài nào thực hiện được nên phải phóng cong. Anh nghe người ta kể rằng, hai anh em nhà cô ấy mồ côi cha mẹ, sống với nhau chỉ có hai người, người anh thường uống rượu say sưa. Một hôm kéo bạn bè về nhà nhậu nhẹt, say ly bì, anh ta lăn ra ngủ. Mấy thằng bạn thấy cô em gái xinh đem ra hiếp dâm rồi giết chết. Khi tỉnh rượu thấy em đã chết thì đem chôn. Nhưng hồn cô Xíu đã ra đến Huế đội đơn kiện kêu oan, báo mộng cho quan hình bộ. Quan hỏi cô có cách nào giúp tìm ra thủ phạm nhanh chóng để giải oan cho cô không. “Có! hãy quật mồ tôi lên, để xác tôi cho đồng bào đến xem, thủ phạm cũng sẽ tới và tôi sẽ phun máu vào mặt người nào đã giết tôi” Thế là thủ phạm đã bị bắt và bị xử tử. Tuy được giải oan, nhưng không hiểu sao cô thường cho dân làng gặp và giúp đỡ, phò trợ… cho nên dân làng đã lập miếu thờ cô. Khi Pháp làm đường quốc lộ, người cai Pháp ra lệnh phóng thẳng khúc đường nầy, nhưng Cô báo mộng là không được động đến miếu. Tên Cai Pháp không tin. Hôm sau vẫn cho giải tỏa, Hắn liền bị hộc máu tại chỗ. Hắn sợ quá không dám tiếp tục đành phải phóng cong con đường như em đã thấy. Còn ngôi mộ kề bên luôn bị nứt nẻ là mộ của ông anh, vì xấu hổ nên tự tử và được chôn ngay cạnh mộ em. Nhưng có một hôm trời sấm sét đánh vào ngôi mộ nầy và từ ấy đến nay không làm sao cho vết nứt ấy biến mất được…

Đây là chuyện truyền tụng nhân gian, thật hư thế nào không rõ, nhưng nó cũng là bài học đạo đức, lưới trời lồng lộng, kẻ ác đâu dễ thoát thân.

Cách mả cô Xíu độ năm trăm thước là nơi chôn cất dòng họ A Sầu. Tôi ngẩn ngơ trước loại đá cẩm thạch dùng xây mộ ở đây. Trong khu vườn rộng là những lối đi trải toàn sỏi đủ màu sắc, tàng cây ngọc lan và mùi thơm nhè nhẹ lâng lâng lòng du khách. Khu nhà thờ và hồ sen tuyệt đẹp. Những bia mộ xây khéo léo toàn cẩm thạch xanh hoa văn mua từ Ý. Tôi chỉ có một thắc mắc là giữa vô số dân chúng vùng nầy hiện thật cơ cực, nghèo nàn, lại có một dòng họ giàu sang lắm của nhiều tiền đến như thế. Tiền đâu ra, ho kiếm được bằng sự lương thiện hay lừa đảo? Nơi nào có bất công thì nơi đó có đối kháng. Phải chăng là đây. Vì chính nơi nầy tôi đã nhìn thấy người ta làm việc trong đêm bên ngọn đèn dầu. Họ cặm cụi đập từng miếng vỏ dừa cho đến lúc tơi tả, xe thành giây thành sợi, bao nhiêu nhát đập là bao giọt mồ hôi, bao nhiêu giọt lệ rơi, bao nhiêu thời khắc trôi để nhận được vài đồng tiền nhỏ nhoi đủ đổi lấy vài lon gạo, bụng có đủ no không? Lần đâu tiên tôi rời vòng tay cha mẹ, tôi cảm thấy như chơi vơi hụt hẫng, mọi thứ, mọi điều, đều bất công vô lý… Lời ba tôi văng vẳng : “sống với cha mẹ, muốn gì có nấy, chứ khi có chồng thèm tô phở chảy nước giải chưa chắc có mà ăn”. Tôi hoảng hốt khi nghĩ đến cuộc hành trình của mình chưa chấm dứt, đến túi tiền sẽ cạn, đến tiền lương của chồng quá ít oi và tự hỏi tôi sẽ làm gì, Tôi cũng sẽ đập xơ, tiếp giây dừa như đồng bào ở đây sao! Có ai chết đói đâu! Chồng tôi thường nói: “Anh chỉ thấy người ta chết vì no say.” Rõ ràng tôi là đàn bà, dễ dàng quên mau những lo âu vì những lời nói ngọt ngào, an ủi…

Rời khu thắng cảnh A Sầu, xe lăn bánh nhẹ nhàng đến ga Chương Hòa mua mè xửng. Mè xửng Huế nổi tiếng trên thị trường nhưng thật sự kẹo ở đây tôi thấy có phần trội hơn, nhưng không hiểu tại sao lại không được nổi tiếng. Ngay chiều hôm ấy chúng tôi trở lại Bồng Sơn, căn phòng nhỏ của vợ chồng tôi trên căn gác gỗ. Trước lúc lên đường Hùng nhắc :”Mai có thích mắm thu không, anh đưa em đi mua”.

– Anh hứa sẽ làm cho em ăn mà! Nếu không lầm, anh cũng có bằng hỏa đầu quân trong Hướng Đạo…!

– Cái đó tính sau, bây giờ mua ăn tạm, mắm thu mà em khen ngon lúc ăn cơm ở bến xe Qui Nhơn đó.

– Phải đó, mua một ít gởi má đem về cho mấy em ăn thử

Thế là Hùng đưa tôi xuống phố Tam Quan. Con đường đá gồ ghề thảm hại, đó là dấu tích bao nhiêu năm chinh chiến mà Tam Quan phải chịu đựng. Con phố điêu tàn đầy vết đạn bom từ thời Pháp thuộc và chín năm kháng chiến… Thưa thớt những gian hàng bày bán đặc sản Tam Quan, mắm thu, bánh đậu xanh, bánh in nếp gói giấy hồng điều. Bánh đậu xanh cứng mười hai thẻ gói thành một phong dài. Bánh cứng quá tôi không dám cắn, sợ bể răng, nhưng mẹ tôi rất thích, bà nhúng vào nước trà cho mềm rồi ăn… Ngoài những thứ đặc biệt ấy còn có bánh tráng mì nước dừa rất dày, sau khi nướng chúng ta sẽ mê say trong hương vị vừa thơm vừa giòn vừa béo. Hùng chỉ cho tôi món đặc sản tại chợ Tam Quan, đó là món bánh hòn bên ngoài là khoai mì mài nguyên xác, bên trong là nhân dừa trộn với đậu trắng và muối. Tôi còn nhớ lúc nhỏ, ở quê tôi, có người đi Bình Định về, cho tôi một cái bánh như thế nầy. Ăn xong mà nhớ và kiếm tìm mãi, hôm nay nó ở đây, ngay quê hương của chồng…Ôi! có lẽ cũng là số mạng… mê đặc sản củ mì !

…Tôi đã thực sự sống cuộc đời dân du mục. Giã từ trường và đám học trò thân yêu – Giã từ con phố nhỏ êm đềm với những chuỗi ngày thơ mộng. Hành trang tôi mang theo là tình yêu và nổi khát khao kiếm tìm sự đổi thay – Hành trang của Hùng là chiếc ba lô và cây súng trên vai… Chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình, bất chấp mọi hiểm nguy!

Gió mây là bạn đồng hành,
Tim yêu, trái phá bên anh suốt đời.
Chiến chinh khói lửa ngợp trời,
Giấc mơ, lý tưởng một thời xuân xanh…

Mỹ Hiệp
Trích tuyển tập truyện ngắn GIỌT NẮNG XIÊN của Lê Anh Dũng và Mỹ Hiệp

This entry was posted in Lê Anh Dũng & Diệp Thế Mỹ, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s