THẢM CẢNH (Nguyễn Ninh Thuận)

THẢM CẢNH

Cả tháng nay Duy theo dõi thông báo của Tịnh Xá Minh Đăng Quang. Thượng Tọa Thích Giác Nhiên tổ chức một chuyến đến đảo Pula Bidong “vớt vong”. Duy thu xếp công việc nhà xong xuôi, và sắp đặt việc ở sở làm chu đáo. Duy lấy 2 tuần phép mang con trai độc nhất trở về đảo Pula Bi-dong. Dũng con trai Duy, nay đã khôn lớn, hơn hai mươi năm qua với bao cực nhọc lăn lộn ngoài đời trong cảnh gà trống nuôi con. Dũng nay là một thanh niên vạm vỡ, đã bước qua ngưỡng cửa đại học. Thời gian như một giấc mơ, mới ngày nào…

Cha con Duy đặt chân lên đảo Pula Bidông với 3 cái tang trên đầu: Vợ Duy và 2 con nhỏ đều chết trên chuyến tàu vượt biên cùng Duy. Sầu khổ, tang thương ập lên đầu cha con Duy. Như cái xác không hồn, Duy kéo dài cuộc sống trên đảo với đứa con trai còn lại vùa được 7 tuổi. Hòn đảo quạnh hiu được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc bảo trợ để đón nhận các thuyền nhân Việt Nam. Cuộc sống tạm dung ở đây như bừng lên niềm hy vọng, sau những ngày lênh đênh trên biển, tất cả mọi người đều trải qua bao gian nan nguy hiểm, tìm sự sống trong cái chết mới tới được đây, có biết bao người bỏ xác dưới biển sâu! Ôi Tự Do! Hai tiếng mà sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả người dân Việt Nam đều khao khát. Họ phải trả một giá rất đắt mới có được. Biết bao nhiêu thảm cảnh, kẻ ở người đi, kẻ còn người mất, Cha mẹ xa con vợ xa chồng, gia đình ly tán, tan nát, như trường hợp của Duy!

Cuộc sống ở đảo kéo dài cả năm mới được đi định cư tại Mỹ. Những ngày sống ở đảo thật khổ cực, khí hậu khắc nghiệt ngày nắng cháy da, đêm về gió lạnh thấu xương, có được nước xài phải sắp hàng, hứng mang về tới chỗ ở thật xa, quả thật là vất vả, rồi lại sắp hàng lãnh thực phẩm, làm vệ sinh riêng vệ sinh chung đủ chuyện mới cắp sách đi học ESL . Cuộc sống nhàm chán thật buồn, muốn rời khỏi đây càng sớm càng tốt.

Đêm ngóng ngày trông. Mỗi tuần có 2 ngày mọi người chờ đợi thư từ, tin tức: tin nhà, tin thân nhân ở nước ngoài, quà cáp, tin phỏng vấn, tin định cư… Ngoài những tiêu chuẩn được Cao Ủy cấp phát, mọi người ở đảo cũng cần có những nguồn tiếp tế khác từ thân nhân ở nước ngoài mới có tiền mua sắm lặt vặt.

Người Việt mình sẵn có đầu óc tự lập nên đi đến đâu cũng có khả năng tự lực cánh sinh, xoay sở buôn bán ngay trên đảo, có nhiều người làm ra tiền còn gởi về cho thân nhân bên VN, có người dành dụm để đi định cư sau này, tất cả nhờ vào đôi tay khéo léo óc sáng tạo của họ.Than thân trách phận mãi cũng bằng thừa, ngoài giờ đi học, cha con Duy còn trồng bầu, trồng mướp, luống rau, cây cải cây hành, cây ớt v.v… để giết thì giờ nhàm chán và quên đi nỗi thảm cảnh của gia đình, hơn nữa, không có nguồn tiếp tế từ nước ngoài nên Duy phải tạo ra thực phẩm cải thiện bữa ăn cho 2 cha con do bàn tay chai đá của mình làm ra. Duy sợ nhất là sức khỏe của 2 cha con ở đây cũng có nhà thương, bệnh xá, thuốc men nhưng không thiếu người bỏ mạng tại hòn đảo này vì ốm đau bệnh tật.

Là quân nhân VNCH. Duy ưu tiên được Mỹ nhận. Khám sức khỏe, làm các thủ tục khác xong xuôi, chỉ chờ chuyến bay. Duy nhớ lại ngày bước chân lên máy bay, hai cha con như hai thằng ngố từ quê ra tỉnh, nhất là thằng con, cái gì cũng nhìn cũng hỏi bố, Duy nghĩ bụng bố mày còn không biết nữa huống chi là mày. Sau một lần đổi máy bay, lần thứ hai phi cơ hạ cánh xuống phi trường Washington DC . Dưới sự hướng dẫn của Cao Ủy Tị Nạn. Mọi người được phát một túi nilong đựng tất cả giấy tờ tùy thân v.v.. Làm thủ tục xong xuôi, mỗi gia đình sang một máy bay khác nhau tản mát về nơi người bảo trợ của mình.

Duy cùng con được Hội nhà thờ Tin Lành tìm một gia đình người Mỹ bảo trợ, đây chính là số phận được an bài. Bước xuống máy bay, thời tiết rất lạnh, hai cha con co ro ngơ ngác tay đưa cao tấm bảng viết tên người bảo trợ. Một hàng người Mỹ cầm bảng tên người được bảo trợ cũng dơ cao, hai bên nhanh chóng nhận ra nhau, họ tỏ ra rất vui mừng. Cha con Duy được hai vợ chồng ông Mỹ già đưa về nhà họ tạm trú vài tháng.

Hai vợ chồng Mỹ này con cái đã có gia đình ở riêng, nhà họ rộng rãi nên cho cha con Duy ở tạm trong thời gian đầu. Họ rất hiền lành, đối xử tử tế, nhưng rất nguyên tắc là chỉ giúp bước đầu. Họ chở cha con Duy đi làm giấy tờ, đi khám sức khỏe, học lái xe, và học ESL . Làm đơn cho Duy được hưởng welfare vài tháng. Sau ba tháng, họ hướng dẫn Duy đi tìm việc làm. Người Mỹ họ không muốn người tị nạn ăn bám vào trợ cấp xã-hội lâu. Nhờ sự nhiệt tình của 2 vợ chồng người Mỹ, Duy kiếm được một chân làm trong một hãng Mỹ với đồng lương khiêm nhường, khi đó cha con Duy dọn nhà ở riêng, được Hội nhà thờ của người bảo trợ cho một số đồ dùng cần thiết như bàn ghế, giường nệm, mền gối, quần áo v.v… tương đối đủ dùng trong cuộc sống hàng ngày.

Sang mùa Đông băng tuyết, lần đầu tiên trong đời mới được thưởng thức thế nào là lạnh! Đứng ngoài trời đón xe bus 2 chuyến cũng là một nỗi khổ. Sau một thời gian ngắn Duy làm quen với bạn cùng hãng đổ xăng để đi nhờ. Mấy tháng sau vì chịu khó làm Overtime , thứ bẩy, ngày lễ cũng không từ chối nên Duy đã có một ít tiền, cộng thêm tiền dư khi còn ở với người bảo trợ. Duy mua được một chiếc xe cũ đi làm. Dũng thì có xe Bus trường đưa đón hàng ngày. Ngoài giờ đi làm, Duy kiêm luôn bổn phận làm mẹ, lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, cũng may Dũng rất ngoan hiền, ngoài giờ đi học Dũng phụ bố làm việc lặt vặt trong nhà, lau chùi nhà tắm, rửa chén bát v.v…

Cuộc sống êm đềm trôi qua được 10 năm. Nhưng không chịu được miền Đông tuyết lạnh, Dũng đau ốm hoài. Đó là điều Duy hằng ngày lo lắng. Duy nghĩ, phải đi khỏi xứ lạnh càng sớm càng tốt. Dịp may đến, Duy liên lạc được với mấy gia đình bạn ở bên Cali . Họ mách nước chỉ đường cho Duy xin về định cư luôn ở Tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ.

Khí hậu Cali giống như xứ nhiệt đới, rất thích hợp với cộng đồng người Việt mình, nên kéo nhau về định cư ở tiểu bang nắng ấm khá đông. Rất nhiều các Siêu Thị do người Việt làm chủ, hàng quán vô kể, thực phẩm VN bán đầy dãy, xin việc làm dễ dàng. Ở miền nam Cali , tiệm phở, tiệm cơm Việt Nam chỗ nào cũng có, cảnh độc thân hay đơn chiết như bố con Duy, siêng thì nấu lấy ăn, lời biếng ra mua cơm chỉ chỉ món nào lấy món ấy. Cuộc sống 2 bố con Duy đã tạm ổn. Đầu đã 2 thứ tóc, thuộc loại trẻ đã qua già chưa tới. Nghĩ đến Hồng người vợ cả một đời hy sinh cho chồng con, làm sao quên được. Nhưng nay, bạn bè thấy con trai đã lớn khôn, khuyên Duy, nên kiếm một người nâng khăn sửa túi cho cuộc sống đỡ cô quạnh, còn lúc đau lúc ốm nữa thì sao?. Nghĩ đi rồi nghĩ lại, cảnh gà trống nuôi con quen rồi. Bây giờ có thêm một người đàn bà xa lạ xen vào giữa 2 cha con, điều gì sẽ xẩy ra? còn đâu là tình cha với con, nên đành thôi!

Duy và Hồng, cùng lớn lên một xóm và học chung một trường. Duy học trên Hồng mấy lớp. Cha mẹ 2 bên quen thân, có ý muốn làm xui với nhau, Vì thế Duy-Hồng có nhiều thuận lợi được gần gũi nhau từ lúc còn bé. Hai đứa trẻ chạy nhẩy chơi đùa thỏa thích mà không bị cấm đoán gì cả. Hồng hay bị những đứa trẻ khác bắt nạt, Duy luôn luôn phải bênh vực, Hồng hay khóc nhè khi bị trêu ghẹo, người bênh vực cho Hồng cũng vẫn là Duy. Họ bày đủ các thứ trò chơi với nhau, họ sống hồn nhiên và lớn lên theo thời gian…

Họ như hình với bóng không thể thiếu nhau được. Khi Duy có giấy gọi nhập ngũ và thụ huấn tại Trường Sĩ-Quan Bộ-Binh Thủ-Đức. Hồng là một cô giáo giỏi dạy Tiểu-Học, hiện đang dạy tại một quận ngoại thành.

Duy mãn khóa ra trường, được hai bên cha mẹ chấp thuận. Duy-Hồng làm đám cưới, hạnh phúc thật sự đến với họ. Những ngày tháng sống bên nhau là tuần trăng mật vô tận. Họ hiểu tính nết, sở thích của nhau, chỉ một cái nhăn mặt, một lời nói, họ đã biết vợ hay chồng mình muốn gì, họ nhường nhịn, thương yêu nhau không lời nào tả được. Trên cõi đời này, họ là một đôi vợ chồng trời sinh ra để có nhau, để hưởng hạnh phúc mãi mãi bên nhau.

Dũng, đứa con đầu lòng ra đời là một chứng tích của tình yêu, rồi tiếp theo là Hương. Rồi thì… Miền Nam lọt vào tay Cộng Sản. Duy cũng như hàng trăm ngàn quân nhân khác, phải khăn gói đi trình diện cải tạo đúng nghĩa là đi tù khổ sai không hơn không kém. Nhắc đến đây, lòng Duy thêm sôi máu căm hờn.

Ở nhà, Hồng cũng khốn khổ không kém gì chồng bị giam hãm ở trong tù cải tạo. Với 2 đứa con thơ dại, Hồng phải nhốt trong nhà để lao ra đường giành mua giành bán ngoài chợ trời, gặp cái gì cũng mua, giá nào cũng bán miễn là có lời chút đỉnh. kiếm từng đồng, từng cắc nuôi con và nuôi chồng trong tù, Dũng ròng rã mấy năm trời khốn khổ trong trại cải tạo, nơi rừng thiêng nước độc, lúc nào cũng đói, cũng ốm đau cần thuốc men, cần tin tức vợ con ở nhà.

Cũng như bao người đàn bà khác có chồng đi cải tạo, Hồng cũng trèo non lội suối, gồng gánh hai bao thực phẩm nặng trên vai thăm chồng nơi đất Bắc. Rồi vội vã quay về miền Nam nơi con cái đang mong ngóng mẹ. Lòng thương chồng nhớ con đứt từng khúc ruột.

Người ta khen Hồng giỏi thật! Suốt ngày ngoài nắng ngoài mưa buôn bán nuôi chồng trong tù, nuôi con ăn học, thế mà còn dành dụm tiền để vượt biên cho cả gia đình.

Trước năm 1975, hai vợ chồng sống bằng đồng lương cố định của mình, không bon chen, không bổng lộc, họ sống rất giản dị thảnh thơi, những tưởng đời họ cứ êm đềm như mặt nước hồ thu. Hai vợ chồng ý hợp tâm đầu, họ có chung một nhân sinh quan: Mặc cho thế thái nhân tình hơn thua, tranh giành từng chút một. Họ không bon chen bất cứ lãnh vực nào. Họ chỉ hưởng cái gì họ đang có. Vì nếu cuộc sống có quá nhiều tham vọng về vật chất thì cái giá phải trả: sợ người khác nhòm ngó, rình rập, không lúc nào yên thân. Duy và Hồng chỉ cần có nhau! Hạnh phúc nhất đời!

Duy được tha về, gia đình sum họp, sau một năm, họ có thêm 1 con trai đặt tên là Dũng. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn, con cái không có tương lai, họ quyết định thu xếp tìm đường ra đi. Để rồi Hồng và 2 con gởi thân dưới lòng biển cả! Đau xót tận cùng cho Duy.

Sáng nay, Duy đánh thức con trai dạy thật sớm. Cha con Duy đến chỗ hẹn xuống tàu đi cầu hồn cho mẹ con Hồng ngoài biển của đảo Pula Bidong được siêu thoát. Chẳng may, tàu mắc cạn cả nửa ngày không di chuyển được, cha con Duy phải sang ghe nhỏ để vào bờ. Hai cha con Duy đứng trên bờ biển, đôi mắt đăm chiêu nhìn ra biển xanh như nhớ lại… Cuộc hành trình hai chục năm về trước. Một khung cảnh kinh hoàng như hiện ra trước mắt: Gia đình Duy, kẻ trước người sau được người hướng dẫn đưa đi ém. Họ chia ra từng toán nhỏ tuần tự đi đến điểm hẹn ở lại đó 1 ngày. Trên đường đi, họ lầm lũi như những con ma luồn lách trong bóng đêm, lánh mặt đám du kích địa phương, để đến điểm an toàn. Đợi đêm tối mới được đưa lên chiếc ghe nhỏ mà họ gọi là cá con rồi từ cá con được đưa ra cá lớn đậu ở ngoài khơi. Khi tập trung tất cả lên cá lớn, lúc đó người thân mới được gặp nhau.

Ai cũng tỏ ra mừng rỡ đã thoát được chặng đầu, nhưng còn rất nhiều hiểm nguy đang chờ trước mắt: Thoát từ sông ra cửa biển, rồi thoát từ cửa biển ra tới hải phận quốc tế mà không gặp bọn Công an Biên phòng bắt về nằm ấp. Trên đường đi ngoài hải phận Việt Nam, cầu mong làm sao cho tàu đi đúng hướng mình muốn và không gặp giông bão, cuối cùng thoát được nạn hải tặc Thái lan, bọn cướp nầy lòng người dạ thú, là nỗi kinh hoàng ám ảnh đàn bà con gái trên các tàu vượt biên. Tất cả đều thoát, mới thấy bến bờ tự do đang chờ đón bạn. Đi tìm cái sống trong cái chết!

Tầu chạy ròng rã 2 tuần vẫn không thấy đâu bến đâu bờ. Lương khô, nước uống gần cạn hết, mọi người tiết kiệm tối đa, lúc đầu mỗi người 1 bữa được 1 nắm cơm và 1 ly nước, lần lần giảm xuống, cả ngày chỉ 1 nắm cơm 1 ly nước. Bốn bề sóng vỗ ầm ầm, và vẫn không thấy bến bờ. Dưới ánh nắng chói chang, mọi người mệt lả đuối sức. Lương thực, nước uống còn rất ít, không đủ cung cấp cho từng người mà chỉ cấp phát cho cả gia đình tùy nghi chia nhau mà sống. Hai vợ chồng Duy cố nhịn để nhường phần cho 3 đứa con nhỏ . Mọi người cầu Trời khấn Phật cho một trận mưa để hứng lấy nước uống. Đói còn nhịn được chứ khát thì không chịu nổi, không có nước cổ họng nóng như thiêu như đốt, có người khát quá chịu không nổi, vục một ngụm nước biển uống thử, nước biển càng làm cho cơn khát gia tăng! cổ họng càng khô đắng thêm. Vô phương Thế mà Trời Phật làm ngơ không cho một hạt mưa rớt xuống? Mọi người dù kiệt sức, cố chống chọi với tử thần. Trên thuyền đã có vài đứa trẻ nằm rũ ra và thần chết đến đón. Tiếng than khóc bắt đầu vang lên ai oán, tức tưởi thương nhau, thương cả thân mình sẽ chung số phận.

Duy và Hồng cũng bất hạnh như người khác, cũng khóc than vật vã cho đứa con trai nhỏ mới hơn 1 tuổi, không chịu được đói khát đã buông tay níu mẹ ra đi dù mẹ bé cố nặn từng giọt sữa hiếm hoi vào miệng con. Nhưng bụng mẹ cũng trống rỗng, không làm gì có sữa cho con. Hồng chích đầu ngón tay mình nặn lấy vài giọt máu cho vào miệng con cầm hơi, cuối cùng cũng không giữ được mạng sống cho con. Con nhắm mắt bất động rồi nhưng Hồng vẫn ôm con trong lòng không muốn rời ra. Qua ngày hôm sau nghe lời khuyên của mọi người, vợ chồng Hồng đành đứt ruột vứt con xuống biển. Còn gì đau đớn hơn cảnh chia tay chưa bao giờ thấy như thế này.

Nắng vẫn đổ xuống như thiêu đốt tất cả. Lúc đầu mọi người còn chia xẻ cho nhau sống, bây giờ lương thực đã hết, không còn ai nghĩ đến ai, mà chỉ còn lòng ích kỷ, sinh tồn cho bản thân. Nhưng thảm cảnh chung trên con tàu này chẳng cho ai thoát. Số người chết tăng từ 5 lên 10 người trong mấy ngày, nay cứ tăng lên mãi trong số đó có bé Hương con của Duy, dù mẹ lấy máu cho con hút cũng không cứu nổi, cuối cùng vì lấy quá nhiều máu cho con, Hồng cũng kiệt sức gục xuống, miệng thều thào:

– Anh cố vượt qua khó khăn, chăm lo cho Dũng, đứa con duy nhứt còn lại của chúng ta, em mãn nguyện rồi, em sẽ phù hộ cho anh và con được bình yên!

Duy vuốt mắt Hồng và hứa:

– Anh sẽ đem hết sức tàn lực kiệt để bảo vệ con, Dù phải chết để con sống anh cũng không từ nan.

Hai cha con Duy đã nghẹn ngào khiêng xác Hồng thả xuống biển. Đó là người thứ 25 trên con tầu định mệnh khắc nghiệt này!

Như một phép lạ. Có lẽ những người chết đã phù hộ độ trì cho thân nhân họ đang thoi thóp chờ tử thần đến đón. Đúng lúc đó chiếc tàu đánh cá Mã Lai xuất hiện, họ là cứu tinh của những người liều chết đi tìm Tự Do. Được cứu rồi! Được cứu rồi! Tất cả mọi người còn sống sót trên tàu thều thào mừng rỡ.

Hôm nay hai cha con Duy theo Thầy trở lại Biển Đông để cầu hồn cho những người đã chết vì hai tiếng Tự Do. Trong lòng mang nặng nỗi buồn oan nghiệt, mất vợ lại mất cả 2 đứa con thơ. Cuộc đời chỉ còn một nửa sống lây lất trên xứ người như một kẻ không hồn.

Tàu đi 4 giờ trong đêm tối không trăng sao, bốn bề biển lặng. Vang lên tiếng kinh, kệ của Thầy và thân nhân những người xấu số, họ đi không đến đích phải nằm lại lòng biển khơi. Hồn hãy siêu thoát, mời hồn trở về với gia đình. Cho vơi đi nỗi khổ của kẻ thác oan và người còn sống.

THẢM CẢNH

Cùng nhau lén lút đi vượt biên.
Lênh đênh ngoài biển, nắng triền miên.
Lương khô dầu cạn, vơi dần nước,
Kẻ chết, người rên nằm sát bên.

Con thơ chết trước, vợ chết sau,
Vuốt mắt, khiêng con ném khỏi tàu.
Tan nát cõi lòng thương khóc vợ,
Hẹn ngày hội ngộ dưới biển sâu.

Nhờ Trời thoát được cảnh phong ba,
Được tàu cứu vớt Malaysia .
Đã mấy mươi năm giờ trở lại,
Viếng mồ đảo cũ dạ xót xa.

Đốt nén hương lòng, tâm khấn nguyện,
Cho người bạc phận lạc cõi tiên.
Bao năm cách trở bao thương nhớ,
Vẹn giữ tình em trọn ước nguyền.

Đây nén hương thơm, đốt gửi người
Biển khơi chắc lạnh lắm hồn ơi!
Hiển linh xin hãy về chứng giám
Suốt cả đời tôi nhớ mãi thôi.

NGUYỄN NINH THUẬN

(trích tuyển tập truyện ngắn NHỮNG MẢNH ĐỜI tập I)

This entry was posted in Nguyễn Ninh Thuận, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s