MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 18 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

CHƯƠNG MƯỜI TÁM
HUYỀN THOẠI THIÊN HỘ VÕ DUY DƯƠNG

ThienHoDuongTrời càng về khuya, ánh trăng tròn mười sáu tràn ngập ngoài sân. Ánh trăng len vào nhà qua mấy qua khung cửa sổ lung linh, chập chờn tỏa sáng căn nhà. Bác Ba Tỵ ngồi yên lặng trên cái ghế đẩu ộp ẹp như pho tượng, thỉnh thoảng nhấp môi từng ngụm trà nóng rồi thở dài; có lẽ, bác Ba đang hồi tưởng về quá khứ. Vườn khuya thật yên lặng làm ánh sáng trăng trở nên mơ hồ huyền bí đang ngự trị trong hồn bác Ba Tỵ, bác quấn điếu thuốc rê, châm lửa phì phà; thỉnh thoảng, nghe tiếng con chim quốc kêu “tù oa! tù oa! tù oa?” lạc loài từ ngoài bìa rừng buồn bã vọng về nghe thê thảm làm sao.

Bác Ba Tỵ nói:

– “Tội nghiệp con chim quốc lẻ loi chung tình nầy, nó sẽ đi lang thang kêu rỉ rả suốt năm canh để tìm người bạn tình.”

– “Tại sao bác Ba biết là tiếng chim quốc kêu?” Bền nói. “Nếu là chim quốc, nó phải kêu: “quốc! quốc! quốc?” mới đúng chớ, bác Ba!”

– “Trời sinh ra loài chim quốc để làm tấm gương soi cho những kẻ bạc tình, xem nhẹ nghĩa tào khang!”. Chim quốc là giống chim chung tình, suốt một đời chung thủy, gắn bó, sống chết có nhau. Nếu cặp uyên ương đó đủ đôi, đủ cặp thì nó kêu: “quốc! quốc! quốc?”, còn chẳng may, mất một con, con còn lại nó kêu lên: “tù oa! tù oa! tù oa?” tiếng kêu của nó buồn thê thảm lắm. Nó sẽ đi lang thang hết cánh đồng nầy, đến cánh đồng khác, khảng giọng gọi người tình cho chết khi kiệt sức rồi ngả ra chết. Dân gian gọi con vật đáng thương là con “quốc rục”. Hồi còn nhỏ, bác Ba có lần bắt được một con quốc đang ấp trứng. Chiều về, con quốc trống tha mồi về cho vợ. Nhưng, nó không thấy không thấy con quốc mái. Nó đậu trên trên miệng khạp khô nước cạnh cái chòi chăn vịt gần đó, nó cất tiếng kêu thảm thiết suốt mấy đêm liền: “tù oa! tù oa! tù oa?” tiếng kêu nghe thật não nuột, xót xa. Còn con mái, bác nhốt trong lồng không chịu ăn uống gì hết, cũng cất kêu “tù oa” nghe buồn đứt ruột. Vài ngày sao, bác mang con mái ra đồng, định trả lại chỗ cũ thì tìm thấy con quốc trống chết rủ trong cái khạp. Bác thật ân hận, đặt con mái nằm bên cạnh xác con trống. Nó không còn kêu nữa và nằm bên cạnh xác con trống chờ chết với theo bạn tình.”

Biết Bác Ba tự ví mình như chim quốc nên mang tâm sự buồn, Bền nói lãng sang chuyện khác, tò mò, hỏi:

– “Sáng mai bác ra chòi dơi, cho con theo giúp bác một tay, được không bác Ba?”

– “Ngày mai, bác ở nhà không ra chòi dơi,” bác Ba nói. “Sáng mai, chắc thế nào cũng có người đến thăm bác, nhờ giúp đỡ cho mà coi!”

– “Ai vậy bác?” Bền hỏi.

Bác Ba Tỵ nói:

– “Có gì đâu, mưa mà cháu!”

– “Mưa?” Bền ngạc nhiên, hỏi.” Cháu không tin đâu, ánh trăng còn tỏa sáng ngoài sân mà, bác ngó xem.”

– “Ậy, coi vậy mà đêm nay trời sẽ mưa vì vầng trăng tán đỏ, tròn to thì mưa giông phải lo dự phòng,” bác Ba Tỵ nói chắc như đinh đóng cột.” Ngược lại, khi nào cháu thấy vầng trăng quầng bạc sáng ngời thì điềm trời chớ lo; vả lại, hồi chiều, bác thấy bầy kiến cánh vỡ tổ bay ra, bão táp mưa sa cũng gần tới rồi đó. Hồi chiều hôm trước, bác còn thấy mặt trời lặn đỏ chân trời, đêm nay chắc chắn mười phần có mưa. Nếu cháu không tin, chờ coi bác Ba đoán có đúng hay không nghe?”

– “Những cơn vào buổi chiều, bầy dơi có ra rời chòi dơi, bay ra ngoài đi kiếm mồi không, Bác Ba?”

– “Trời mưa, thì khí trời trở lạnh, bầy dơi thường đậu xúm xít với nhau để truyền hơi ấm cho nhau để ngủ, còn mưa nửa đêm về sáng, bầy dơi sẽ bay về chòi dơi sớm; vì vậy, buổi sáng nầy, bác không ra dọn phân vì bị động bầy dơi sẽ bây túa đi, có khi không trở lại.”

– “Còn nữa, sao bác biết, sau cơn mưa sẽ có người tới thăm, ai vậy bác Ba?”

– “Trời mưa vào ban đêm, là từ thanh niên tới trẻ em trong làng nầy háo hức đi soi ếch để đổi món nhậu, ăn cá đồng hoài cũng chán. Thế nào, cũng có vài người bị rắn cắn cho mà coi. Cháu biết, vùng Đồng Tháp Mười là vùng đất trũng mênh mông, rừng tràm mọc xen kẽ những cánh đồng hoang vắng cỏ bàng, lác, sậy mọc tràn đồng, có những bàu, đìa, bưng trấp, lung sen bát ngát vươn lên trên những bãi sình lầy ngút ngàn. Nơi đây còn có nhiều giồng cát dài gần nửa cây số tạo thành những cụm gò nổi, trên gò có nhiều cây cổ thụ như cây trôm, gáo, sao, dầu, thau lau đứng sừng sững giữa rừng tràm thâm u bạt ngàn. Những vạt rừng bạt ngàn có hàng ngàn loài chim nước về làm tổ, sinh sôi nẩy nở như trích mồng đỏ, trích cồ, trích ré, cồng cộc, le le, gà nước, diệc mốc, diệt lửa, vạc, nhan điển, bìm bịp, nhiều nhứt vẫn là những đàn cò đủ loại như cò ngà, cò trâu, cò trắng, cò lửa? mà đây cũng là giang sơn của nhiều loại trăn, rắn độc như hổ mang bành, hổ đất, hổ mây, mái gầm, rùa, chuột, ếch, cua đinh. Đi soi ếch là dễ gặp phải rắn, vì ếch nhái là món ăn khoái hẩu của loại rắn đó cháu.”

– “À, cháu hiểu rồi.”

Bác ba Tỵ ngáp dài mấy cái, nói:

– “Thôi, bác Ba đi ngủ đây! Chúc cháu ngủ ngon!”

*

Bền ngủ thiếp đi lúc nào cũng không hay, cho đến khi nghe sấm động, nổ xé trời làm Bền giật mình thức giấc. Tiếng gió từ con rạch Long Khốt lồng lộng thổi lên từng cơn, khua những tàu lá chuối xào xạc, mấy bụi tre gai cọ vào nhau kêu kẻo kẹt, cái phên cửa bị gió dập từng chập. Những giọt mưa bắt đầu rơi lộp độp trên mái lá, chẳng mấy cơn mưa thật to dồn dập đổ tới. Bền chống cái phên cửa lên, nhìn ra ngoài sân, mưa giăng trắng xóa, nước mưa từ trên mái lá chảy ồ ồ xuống đất. Rừng khuya bỗng trở nên ồn ào, náo nhiệt bởi những tiếng kêu những ếch, nhái, ểnh ương ..vang đều lên khắp mọi nơi. Lũ ếch đã rời khỏi hang ra đón mưa và gọi bạn tình, chúng say sưa bắt cặp với nhau, đây là lúc dễ bắt nhứt. Trẻ em trong làng đã chuẩn bị sẵn những bó đuốc bằng lá dừa nước hoặc cây sậy khô đập dập bó chặt lại. Cả con đường làng bên kia con rạch bỗng sáng rực lên những ánh đuốc bập bùng di động, lặng lẽ phân tán đi khắp nơi, rồi biến mất trong bóng đêm, trong khi cơn mưa vẫn rơi đều nặng hạt.

Không hiểu tại sao, Bền cảm thấy trong người nóng ran, bức rức khó chịu, Bền cởi phăng quần áo chạy ào ra ngoài sân tắm mưa, những giọt mưa lạnh lẽo rơi xuống người làm Bền cảm hấy dễ chịu rồi quày trở vô nhà thì thấy bác Ba Tỵ đang ngồi trên bàn, bên cạnh tách trà còn bốc khói nghi ngút là chén thuốc nam. Bác Ba Tỵ nói:

– “Lau mình, mặc quần áo vô rồi uống chén thuốc nầy sẽ khỏe ngay.”

Bền lau mình, mặc quần áo vô, tới ngồi gần bác Ba Tỵ, hỏi:

– “Hồi nãy, lúc con thức giấc, thấy trong người có một luồng khí nóng ran, bức rức khó chịu lắm, có sao không, bác Ba?”

– “Không sao đâu cháu, vì nọc độc của con chàm quạp vốn nóng nên làm cháu khó chịu đó thôi. Uống xong chén thuốc nầy, luồng khí nóng trong người cháu sẽ từ từ biến mất,” bác Ba Tỵ nói.” Ngày mai, bác Ba biểu thằng Tẻo ra giàn mướp ngoài bìa rừng hái mấy trái mướp rắn, nấu canh với cá trê, ăn xong nồi canh mướp nầy, thân nhiệt của cháu sẽ trở lại bình thường.”

Bền cầm chén thuốc gia truyền, ực một hơi, nói:

– “Con cám ơn bác Ba đã cứu mạng con.”

Bác Ba Tỵ, vỗ vai Bền, thân mật, nói:

– “Ơn nghĩa gì cháu! Đối với ai, bác Ba cũng phải làm như vậy thôi mà!”

Ngoài trời, cơn mưa vẫn rơi đều đều trên mái lá; thỉnh thoảng, gió lùa vào trong căn nhà lá làm ngọn đèn dầu mù u lung linh chao qua, chao lại chực tắt. Bền vội vàng đứng dậy đi khép cánh cửa lại. Tách trà sen trên tay bác Ba vẫn còn bốc khói, hương trà quen thuộc làm bầu không khí ấm áp riêng tư, ấp ủ tâm hồn cô độc của bác Ba, bác thả hồn mình chìm đắm trong kỹ niệm xa xưa, nhứt là vào những đêm mưa như thế nầy.

Bền phá tan bầu không khí yên lặng, hỏi:

– “Con nghe tía Hai thường nói vùng Đồng Tháp Mười là vùng “địa linh nhân kiệt”, ngoài ngài Thiên Hộ Võ Duy Dương, còn có vị anh hùng nào nữa hay không, bác Ba?”

Bác Ba Tỵ uống một trà nóng, nói:

– “Tại vùng Đồng Tháp Mười nầy, ngoài vị anh hùng dân tộc là Thiên hộ Võ Duy Dương, còn có Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều, hai ông đã chọn Gò Tháp làm căn cứ địa của nghĩa quân yêu nước trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là nơi xuất phát những trận đánh kinh hoàng làm cho quân Pháp kinh hoàng khiếp sợ.”

– “Tía cháu là người rất ngưỡng mộ lòng yêu nước ngài Thiên hộ Võ duy Dương. Bác Ba có biết tiểu sử về ngài không? Kể cho con nghe, được không?” Bền hỏi.

Tượng Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (nguồn: http://www.panoramio.com/photo/91678773)

Tượng Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (nguồn: http://www.panoramio.com/photo/91678773)

– “Theo truyền thuyết, ông Võ Duy Dương sinh năm 1827 tại thôn Cù Lâm, quận Tuy Viễn, trấn Bình Định. Tổ tiên của ngài Võ Hữu Man từ miền Bắc vào làng Nam Tượng lập nghiệp, tới Võ Duy Dương là đời thứ 6. Cha của Võ Duy Dương là Võ Hữu Đức. Thuở nhỏ Võ Duy Dương có thể chất cường tráng, thông minh và gởi võ nghệ. Nhà nghèo, ông phải đi chăn trâu. Về sau, có một vị quan địa phương thương tình nhận làm con nuôi. Tương truyền, trong một kỳ ti võ nghệ, ông cử được một lúc 5 trái linh, mỗi trái nặng 60 cân. Hai tay xách 2 trái, hai nách kẹp 2 trái, răng cắn 1 trái nên từ đó người ta gọi ông là “Ngũ Linh Dương”. Năm 1857, hưởng ứng chính sách đồn điền của triều Tự Đức, Võ Duy Dương vào Nam tìm đến đất Ba Giồng, ven Đồng Tháp Mười chiêu mộ dân chúng khẩn hoang lập ấp và trở thành một hào phú ở địa phương.”

Bền hỏi:

– “Nguyên nhân nào khiến ngài Võ Duy Dương lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp?”

Bác Ba Tỵ nói:

– “Sau khi Gia Định thất thủ. Tháng 4 năm 1861 Pháp đánh chiếm Mỹ Tho, Võ Duy Dương cùng Thủ Khoa Huân kéo lực hượng về Gia Định đánh Pháp. Thất trận ở Gia Định, ông vượt biển về kinh, bái yết vua Tự Đức hiến kế đuổi giặc. Ông được điều về Quảng Nam dẹp cuộc nổi dậy của người Thạch Bích và được phong làm Chánh Bát Phẩm Thiên Hộ. Một tháng sau, ông được sung vào phái bộ của Khâm Phái Quân Vụ Đỗ Thúc Tịnh vào Nam với nhiệm vụ chiêu mộ nghĩa dõng chống ngoại xâm. Ông đóng quân tại Bình Cách, liên kết với Trương Định ở Gò Công đánh phá các đồn Pháp ở Tân An, Chợ Lớn, về sau bị Huỳnh Công Tấn làm phản và hy sinh, Trần Xuân Hòa ở Thuộc Nhiêu và Đỗ Thúc Tịnh ỡ Mỹ Quí. Võ Duy Dương lãnh đạo nghĩa quân lấy trung tâm Đồng Tháp Mười là vùng đầm lầy, hiểm trở ở Nam Bộ làm tổng hành dinh. Ông cho Trần Trọng Khiêm xây dựng đại đồn ở Gò Tháp, trên 3 con đường ra ngoài có 3 đồn: Đồn Tiền, Đồn Tả và Đồn Hữu án ngữ. Đồn hình vuông, mỗi chiều dài khoảng 200 thước, cửa đồn vững chắc. Ngoài ra, còn nhiều đồn nhỏ đóng xung quanh bảo vệ căn cứ.”

– “Muốn đi vào các đồn nầy để tiếp tế cho nghĩa quân, dân chúng phải đi vào bằng cách nào vậy, Bác Ba?” Bền hỏi.

– “Hồi đó nơi nầy chưa có con kinh đào nào cả,” bác Ba Tỵ nói. “Vì vậy, dân chúng muốn tiếp tế cho nghĩa quân phải đi bằng đường mòn, chỉ có 3 con đường đi vào Đồng Tháp Mười: một con đường từ Gò Bắc Chiêng đi xuống phải qua Đồn Tả, một con đường từ rạch Cần Lố đi lên phải qua Đồn Hữu và một con đường khác từ Cái Nứa đi lại phải qua Đồn Tiền. Ba đồn nầy bảo vệ an ninh Tổng Hành Dinh của Thiên Hộ Dương. Đồn nào cũng có lũy đất bao chung quanh, cao gần 2 thước và bề dầy khoảng 1 thước rưỡi, có thiết trí nhiều lỗ châu mai. Mỗi đồn chứa từ 200 tới 300 nghĩa binh, 10 khẩu súng và 4, 5 chục thớt bắn đá và vài khẩu đại bác 12 ly. Ngoài ra, còn 5, 6 đồn nhỏ như đồn Gò Bắc Chiêng, đồn Aáp Lý?để có thể báo động từ xa, mỗi đồn có khoảng 150 nghĩa binh và có từ 15 tới 30 thớt súng bắn đá. Tổng cộng có tới 1.000 nghĩa binh.”

Bền ngạc nhiên, hỏi:

– “Sao bác Ba biết rành rọt đường đi nước bước để tiếp tế trong các đồn của Thiên Hộ Dương. Cháu có cảm tưởng bác Ba là nghĩa binh của ngài Thiên Hộ Dương, đúng không?”

– “Vũ khí, đạn dược thì có ghe, thuyền chở từ Hà Tiên, Rạch Giá vào. Còn thực phẩm do đồng bào địa phương quanh vùng Đồng Tháp tiếp tế. Con đường chuyên chở thận lợi nhứt đi từ Cần Lố vào Tháp để chở gạo nuôi nghĩa quân, nên còn có tên là “Đường Gạo” nuôi quân.” Bác Ba Tỵ nói tiếp. “Từ đây, nghĩa quân dùng chiến thuật du kích đánh Pháp trên cả vùng rộng lớn từ Hà Tiên, Rạch Giá đến Đồng Tháp, gây cho đối phương nhiều tổn thất. Nhưng, giữa lúc nghĩa quân quyết tâm quyết chiến thì triều đình Huế ký hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1962, nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho giặc Pháp cùng với Côn đảo và bồi thường cho giặc Pháp và Tây Ban Nha 4 triệu đồng bạc, trả làm 10 năm. Triều đình Huế buộc các tổ chức kháng chiến của nghĩa quân phải hạ khí giới, bãi binh.”

– “Ngài Võ Duy Dương có tuân lệnh triều đình Huế hay không, bác Ba?” Bền hỏi.

Bác Ba Tỵ nói:

– “Ngài Võ Duy Dương bất tuân thượng lệnh nên bị triều đình tước binh quyền và lùng bắt. Về sau, Nguyễn Hữu Huân rồi Trương Định lần lượt hy sinh. Võ Duy Dương cùng với nghĩa sĩ khác như Nguyễn Tấn Kiều (tức Đốc Binh Kiều, phó tướng). Trần Kỳ Phong, Thống Bình, Lãnh Binh Dương, Thương Chấn, Thống Đa, Quản Long, Quản Là?vẫn không nãn lòng, càng tổ chức đánh Pháp quyết liệt hơn. Nghĩa quân thường đánh phá các đồn, chợ ở phía Nam. Ngày 22 tháng 7 năm 1965, lực lượng nghĩa quân khoảng 100 người, chỉ có 56 khẩu súng, 2 khẩu đại bác đốt chợ Mỹ Trà. Kế đó, Thiên Hộ Dương tấn công Cái Bè, Mỹ Quí, đánh tan nhiều toán quân Lê dương Pháp.”

– “Cuộc kháng chiến của nghĩa quân kéo dài được bao lâu?” Bền hỏi.

– “Còn dân tộc ta nhất định không chịu ách đô hộ của ngoại bang, phất cờ khởi nghĩa chống xâm lăng khắp nơi và liên tiếp trong vòng 10 năm cuộc chiến đấu không lúc nào ngừng,” Bác ba Tỵ hồi tưởng lại chuyện xưa, kể tiếp. “Thủy sư Đô đốc Bạc Má (De La Grandiere) trở qua Nam Việt đặt kế hoạch tổng tấn công chiến khu Đồng Tháp Mười. Ngày 14 tháng 4 năm 1866, Đô đốc Bạc Má huy động một lực lượng lớn khoảng 1.000 quân Pháp có thủy quân phối hợp với quân bộ chiến do hai tên Việt gian Trần Bá Lộc và Huỳnh Công Tấn dẫn đường, cùng tàu chiến, đại bác chia làm ba mũi tiến công từ ba hướng: Gò Bắc Chiêng, Cần Lố và Cái Nứa, quyết triệt hạ Tổng hành dinh của Thiên Hộ Dương ở đồng Tháp Mười cho bằng được. Cánh quân của viên quan ba Bu-Bê (Boubé) tiến từ Cần Lố tấn công đồn Sa Tiền. Khoảng 150 nghĩa quân chống cự mãnh liệt làm quan hai Vi-nhi (Vigny) bị thương, nhưng cuối cùng nghĩa binh phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Cánh quân của quan tư Đê-rơm (Dérôm) chiếm được đồn nhỏ trên đường từ Cái Nứa đến Đồn Tiền. Còn quan ba Galy Pasêbóc (Gally Passebosc) thì chiếm được Gò Bắc Chiêng do 120 nghĩa quân chống giữ với 15 thớt bắn đá. Phía bên pháp bị thương và chết không bao nhiêu. Như vậy, nội nhật 15 tháng 4, quân Pháp hầu như đã làm chủ tình hình, quyết tâm chọc thủng Đồn Tiền, Đồn Hữu, Đồn Tả buộc nghĩa binh phải rút về Tổng hành dinh ở trung tâm Đồng Tháp Mười.

Bác Ba Tỵ chợt hỏi Bền:

– “Quân Pháp muốn tấn công, tiêu diệt chiến khu Đồng Tháp Mười nhiều phen; sở dĩ, chúng còn do dự vì sợ ba vị đại tướng lợi hại nhất của ngài Thiên hộ Võ Duy Dương. Cháu biết ba vị đại tướng phò tá đắc lực cho ngài Thiên Hộ Dương là ai không?”

– “Là ai vậy, bác Ba?”

– “Rắn, đĩa và muỗi đã cản bước quân thù. Nhưng, rắn đâu phân biệt được ai là thù ai là bạn đâu, nghe nghĩa binh bị đóng quân trong vùng đầm lầy bị rắn độc cắn cắn chết cũng nhiều lắm; vì vậy, sau khi được thầy Năm Hơn đồng ý cho tía của bác Ba vào mật giúp nghĩa binh kháng chiến chống giặc Pháp. Ở trong chiến khu, tía của bác Ba phụ giúp cho thầy thuốc nam tên Bảy Ân, cả hai mới kết nghĩa anh em và trao đổi kinh nghiệm nghề thuốc rắn và thuốc nam lẫn nhau để giúp đở nghĩa binh. Về sau ông nầy là dưỡng phụ của bác Ba,” bác Ba Tỵ uống một ngụm trà cho thấm giọng, rồi kể tiếp. “Sau mùa nước nổi, cánh đồng Tháp Mười ngập nước ít nhứt 6 tháng, nhiều chỗ nước sâu gần một thước là chuyện thường. Bắt đầu tháng 4 là bắt đầu mùa nắng, nước đã rút hết để lại một bãi sình lầy bao la, không chỗ nào khô nước hẳn. Lính tây đi giày ống mà lội qua những bãi sình, len lõi trong những bụi lau sậy, cỏ lát, cỏ năng? không phải chuyện dễ dàng, lại còn phải đeo túi đạn vào cổ cho đạn khỏi bị ướt nữa mà bọn Tây sợ nhứt là muỗi mòng, khi bị động nó sẽ bay túa ra, bu đầy đầu cổ, chui vào lỗ mũi, lỗ tai làm bọn Tây không mở mắt được, vuốt mặt không kịp để thở.”

Thằng Bền bây giờ mới vỡ lẽ, nói:

– “Trong bùn thì có vô số đỉa trâu lội lềnh như bánh canh, mỗi khi hút no máu là mình nó phình lớn lên lớn lên bằng ngón chân cái, nó mà luồn vào giày ống, vào những chỗ sâu kín như kẹt háng nên bọn Tây sợ là phải lắm, đúng không bác?”

Bác ba Tỵ nói:

– “Đúng vậy, ngoài ra sức nóng của mặt trời gay gắt làm hơi nước bốc lên, nóng hừng hực cũng đáng sợ lắm, làm nhiều lính Tây bị khó thở lần lượt ngã bịnh vì kiệt sức, tinh thần mệt mỏi bải hoải, không chiến đấu được.”

– “Còn rắn thì sao hả, bác Ba?”

– “Đây là chuyện do cha nuôi Bảy Ân sau nầy kể lại cho cho bác,” Bác ba Tỵ nói. “Từ rạch Cần Lố muốn đi tới Đồn Hữu phải qua một cái “doi đất” nằm chắn ngang chia dòng sông Mekong làm hai nhánh: một nhánh chảy vô Rạch Miễu (Tháp Mười), nơi đó có một tiền đồn kiên cố gọi là”Doi Đồn”do hai tướng Huỳnh Lục và Huỳnh Thất trấn thủ, cầm chân quân Pháp không tiến vô được. Doi Đồn sầm uất, có một cây me cổ thụ hai người ôm không giáp. Hàng tuần có ba chuyến đò vận tải lương thực, vũ khí đạn dược từ Doi Đồn về Tổng hành dinh của ngài Thiên Hộ. Tại Giồng Cát hay Động Cát có cất một trạm gát để đoàn ghe vận tải nghỉ ngơi lấy sức. Bỗng một đêm kia, sau bữa cơm chiều, có một số nghĩa binh canh gát tại trạm và người vận tải lương thực ngủ qua một đêm tới sáng đều chết cả, không một người nào sống sót. Thiên Hộ đến quan sát tại Động Cát tìm thấy một cái hang rắn, miệng hang bằng một cái lu. Thiên Hộ tạm để yên vì có tin Doi Đồn bị quân binh Pháp tấn công. Dũng tướng Huỳnh Lục và Huỳnh Thất chỉ huy nghĩa binh chống trả mãnh liệt, nhưng vì hỏa lực kém buộc phải rút lui về Tổng hành dinh cố thủ. Quân Pháp đuổi nghĩa binh đến Động Cát thì trời bắt đầu chạng vạn, bèn hạ trại dưỡng quân, chuẩn bị tiến vào chiến khu vào sáng ngày mai. Không ngờ, trong đêm đó quân Pháp chết hơn chục mạng khiến tên chỉ huy là viên đội “Cuộc Si” (Courcy) hoảng sợ không dám tiến sâu vô nữa. Đồng bào địa phương đồn rằng Thiên Hộ nhờ đạo binh “rắn thần” đẩy lui giặc Pháp ra khỏi vùng Động Cát. Tin đồn làm giặc Pháp hoang mang lo sợ, rút luôn về Cao Lãnh. Quân ta tái chiếm Doi Đồn như cũ.”

Bền khoái chí vỗ tay, bật cười, nói:

– “Đáng đời cho giặc Pháp cướp nước ta!”

– “Còn nữa, chưa hết chuyện đâu,” bác Ba Tỵ kể tiếp. “Ít lâu sau, quân Pháp tấn công Doi Đồn, quân ta rút lui, quân Pháp đuổi theo đến Động Cát thì đóng binh ngủ qua đêm. Trong đêm ấy, nhiều tên đang ngủ bỗng lăn đùng ra chết như lần trước. Viên đội chỉ huy và bộ hạ phát giác ra miệng hang rắn bèn ra lệnh đổ dầu lửa vào trong hang đốt. Trong lúc khói lửa mịt mù, bỗng đâu giông gió nổi lên ào ào. Từ trong rừng, một con rắn hổ mây khổng lồ, bề tròn bằng miệng thúng phóng ra như giông, như gió quật ngã bọn lính Pháp làm giặc Pháp kinh hồn hoãng vía bỏ chạy tán loạn hàng ngũ, càn bừa trong lau sậy để thoát thân. Thiên Hộ ra lệnh cho nghĩa binh phản công toàn thắng, tịch thu nhiều chiến lợi phẩm và giết được viên đội chỉ huy. Thế là “rắn thần” đã giúp ngài Thiên Hộ ba lần đánh lui quân Pháp làm tăng uy tín của Nghĩa binh chiến đấu vì chánh nghĩa!”

Bền hỏi:

– “Theo như bác Ba nói, ngài Thiên Hộ Dương người gốc Bình Định, chắc võ nghệ của ngài phải cao cường lắm, phải không bác Ba?”

– “Đúng vậy đó cháu! Tục truyền rằng ngài Thiên Hộ có đường roi “song đôi” tuyệt kỷ rất tài tình. Diễn võ trường của ngài để huấn luyện nghĩa binh là một cái sân đất rộng, chung quanh là rừng tràm che kín chung quanh. Ngài thường tới đây biểu diễn võ nghệ dạy võ công cho nghĩa binh. Binh khí của ngài là cây roi bằng khúc mây rừng lớn hơn cườm tay, dài khoảng hai thước. Khi ngài múa lên, lúc đầu còn thấy bóng người, về sau chỉ nghe tiếng gió vù vù, cây roi bao bọc lấy thân người, tiếng gió phát ra từ đường roi vi vút ghê mình. Đường roi “yểm bách” vô cùng lợi hại: “Thượng thảo kỳ thân, hạ bảo kỳ mã”, có nghĩa khi nào bị quân địch vây khổn giữa vòng thì”trên giữ thân mình, dưới che được ngựa”. Trước khi chấm dứt cuộc biểu diễn, ngài đập cây roi xuống đất, ngài phi thân lên đứng cái gò cao gần 3 thước, một tay chống nạnh, một tay chống cây roi xuống gò đất oai nghi lẫm liệt làm mọi người vô cùng thán phục ngài một viên kiện tướng, kỳ tài trong thiên hạ.”

Bền hỏi:

– “Sau khi ba đồn Tiền, Tả, Hữu hệ thống phòng thủ thứ nhứt bị quân Pháp vây khổn, quân binh Pháp sẽ dừng lại ở đó hay không hay tiếp tục đánh thẳng vào Tổng hành dinh của ngài Thiên Hộ vậy, bác Ba?”

– “Hôm sau 16 tháng 4, đội quân của Dérôme tiến đến Đồn Tiền. Tên Việt Gian Huỳnh Công Tấn xin đi tiên phong, không đợi quân Pháp đi tới, vội vàng tấn công nhưng bị nghĩa binh đẩy lui, bỏ chạy. Đến ngày 17 tháng 4, Dêrôme mở cuộc tấn công Đồn Tiền, còn Gally thì tấn công Đồn Tả do đích thân Thiên Hộ chống giữ. Thế là, nghĩa binh bị quân Pháp bao vây ba mặt, chỉ còn mặt hậu, quân Pháp đã phục kích chận đường rút lui nghĩa binh về trung tâm Đồng Tháp Mười. Sau 10 ngày chiến đấu quyết liệt với vũ khí thô sơ chống lại hỏa lực hùng hậu của quân giặc. Cuối cùng, Thiên Hộ buộc phải rút quân khỏi Đồn Tả để bảo tồn lực lượng. Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều tình nguyện ở lại chặn địch và chống trả quyết liệt để Thiên Hộ có đủ thời gian rút quân. Trong trận đánh quyết liệt nầy, tía má của bác Ba đã hy sinh cùng với Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều.”

Bền xúc động, hỏi:

– “Lúc đó bác Ba ở đâu?”

– “Vào lúc dầu sôi lửa bỏng đó, bác Ba mới 2 tuổi. Mẹ phải đai bác Ba trên lưng vừa đánh giặc; không may, mẹ trúng đạn ngay ngực, viên đạn xuyên qua người đã để lại một vết xẹo ở cánh tay mặt của bác Ba, nhờ vậy bác mới sống sót. Bây giờ mỗi lần nhìn vết xẹo trên cánh tay phải là bác nhớ đến tía má.” bác Ba vẻ mặt hơi buồn, nói. “Trong cơn hấp hối, mẹ trao bác Ba cho tía và dặn phải rút đi theo cánh quân của ngài Thiên Hộ để bảo toàn lực lượng, chờ ngày phục quốc. Nhưng, tía không nở bỏ mặc vợ lúc sắp lìa đời bên cạnh chiến hào, tía mới giao con lại cho chú Bảy Ân nuôi dưỡng. Sau khi Thiên Hộ rút quân ra khỏi Đồn Tả theo kế hoạch, Đốc binh Kiều và số nghĩa binh tình nguyện ở lại tiếp tục chiến đấu ác liệt để cầm chưn địch cho tới ngày hôm sau, Đồn Tả và Đồn Tiền đều thất thủ. Khi quan ba Gally dẫn quân tiến vào đồn không còn một ai sống sót, tất cả đều hy sinh đền nợ nước. Quan ba Gally kính cẩn nghiêng mình chào kính phục những nghĩa binh anh hùng đã chiến đấu dũng cảm đến người cuối cùng, nằm xuống trong danh dự, thà chết không hàng địch. Trong đồn chỉ còn vài chục nóc gia, kho chứa lương thực và đạn dược, quân Pháp nổi lửa đốt sạch, cháy đến 2 ngày ngọn mới tắt. Tổng cộng trong trận Đồng Tháp Mười, quân Pháp thương vong trên 100 tên. Quân pháp tuy đại thắng nhưng quá mệt mỏi vì Thiên Hộ Dương phục kích nên vội vã rút lui không kịp thiêu hủy hết các đồn nghĩa binh còn lại. Ngày 22 tháng 4, một đoàn tàu chở quân Pháp về tỉnh Tân An dưỡng quân, một chiếc tàu bị nghĩa binh phục kích đánh chìm, làm 11 lính Pháp tử trận.”

Bền hỏi:

– “Sau trận đánh quyết định đó, ngài Thiên Hộ Dương còn tiếp tục chiến đấu hay không vậy, bác Ba?”

Bác ba Tỵ nói:

– “Sau khi quân Pháp rút đi rồi, mãi đến 20 ngày sau, tên tham biện Rây-na (Rheinart) và tên Việt gian Trần Bá Lộc đưa quân trở vào Đồng Tháp Mười để phá sạch, đốt sạch những gì còn lại trong các đồn ấy. Họ đổ muối vào các họng súng đại bác rồi đẩy xuống hầm hố ngập nước cho súng mau rĩ sét. Riêng Thiên Hộ Dương tiếp tục lãnh đạo nghĩa binh tiếp tục hoạt động, song không có kết quả, rồi mang bệnh mà chết trong sự tiếc thương của đồng bào. Thật sự, không ai biết chính xác ngài qua đời vào ngày nào, chỉ căn cứ vào vào câu ca dao sau đây:

Ai về Ngã Sáu, Ấp Trung
Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên

Bền hỏi:

– “Ngày giỗ của ngài Thiên Hộ vào tháng giêng, nhưng chính xác là mùng mấy? Cháu thiệt không hiểu.”

– “Sự tích là như vầy: Giữa đêm mùng 3 Tết, bà con trong xóm đội bánh tét đi biếu họ hàng. Khi họ đi ngang qua một nghĩa địa, trong ánh đuốc chập chờn giữa đêm trường hoang vắng, họ thấy một người, đầu bịt khăn be, mặc võ phục, đi giày ống như võ quan đàng cựu, ông đi từ ngôi mả nầy đến ngôi mả khác như hỏi thăm thuộc hạ, khi tới gần cái miếu hoang, rồi biến mất. Họ cho rằng, đó là anh linh của ngài Thiên Hộ hiện ra. Với lòng tôn kính vô biên người anh hùng vùng Đồng Tháp Mười hết lòng vì dân, vì nước chống ngoại xâm nên họ lấy ngày mồng 3 Tết là ngày giỗ của ngài,” Bác ba Tỵ nói tiếp.”Tuy nhiên, có một thuyết khác cho rằng: Sau khi rút quân ra khỏi Đại Đồn Gò Tháp, Thiên Hộ Dương đem quân phối hợp với người con của Trương Định là Trương Quyền và thủ lãnh người Cao Miên là Acha Xoa, tiếp tục đánh Pháp nhiều trận ở vùng biên giới giáp với Tây Ninh. Tháng 10 năm 1866, Võ Duy Dương dùng thuyền theo đường biển ra Bình Thuận liên lạc với nghĩa sĩ miền Trung. Nhưng, khi đến cửa biển Cần Giờ bị bọn cướp biển sát hại tại mũi Thị Khiết (Thuần Mẫu) thuộc vùng biển Cần Giờ, lúc đó ông mới 39 tuổi.”

Bền hỏi:

– “Sau khi ngày Thiên Hộ Dương qua đời, ông Bảy Ân và bác Ba sống ra sao?”

Bác ba Tỵ nói:

– “Vì không muốn nghề trị rắn độc bị thất truyền nên chú Bảy Ân đưa bác Ba về quê ngoại của bác Ba ở Kiên An, nhưng thân nhân của bác Ba không còn ở ấp Cái Su nữa, họ đã tản cư đi nơi nào không biết. Nhân một chuyến du hành về ấp Thới Mỹ, nơi dòng sông Trèm Trẹm gặp gỡ Kinh Xáng Chắc Băng thuộc quận Thới Bình. Chú Bảy Ân gặp dì Khanh góa phụ sống đơn chiết với đứa con gái tên Thủy, trạc tuổi bác Ba, rồi hai người gá nghĩa trăm năm với nhau. Về sau, chú Bảy Ân chẳng những trở thành Thần Y vùng U Minh Thượng chuyên trị rắn độc và là thầy thuốc Nam vang danh cả vùng U Minh Hạ, chú cứu sống không biết nhiêu mạng người ở vùng nầy; vì vậy, bác Ba xin từ giã dưỡng phụ trở về quê nội sinh sống ở đây, rồi lập gia đình tại vùng Đồng Tháp Mười, như cháu đã biết rồi đó!”

– “Còn thằng Tẻo?” Bền hỏi.

– “Còn cháu Tẻo là con trai út của chị Thủy, Tẻo bây giờ là truyền nhân của bác Ba. Tẻo nó sáng dạ lắm!” bác Ba Tỵ nói. “Cách đây 2 năm, chú Bảy Ân qua đời ở tuổi 96, bác Ba có về Kiên An thọ tang, Tẻo xin mẹ theo cậu Ba về Đồng Tháp Mười học nghề thuốc chuyên trị rắn độc cắn.”

– “Nếu không thằng Tẻo cứu cháu kịp thời để chờ bác Ba về, chắc cháu đã ngủm cù đeo rồi.” Bền nói. “Cháu có một điều tâm nguyện là sau khi giúp bác Hai Bảnh diệt trừ ác thú tại Thất Sơn. Nếu cháu còn có dịp trở lại Đồng Tháp Mười, nhờ bác Ba đưa cháu đi viếng miếu thờ ngài Thiên Hộ Dương.”

– “Chuyện nầy dễ thôi mà cháu!”bác Ba Tỵ nói.

*

Ngoài trời cơn mưa đã tạnh từ lâu, Bền cảm thấy trong người dễ chịu và buồn ngủ, ngáp dài mấy cái. Bác Ba thấy vậy, nói:

– “Thôi, bác Ba cũng đi ngủ đây, sáng mai sẽ có nhiều việc phải làm đó!”

Bền ngủ thiếp đi lúc nào cũng không hay cho tới khi có tiếng đập cánh cửa ầm ầm làm tất cả mọi người trong nhà thức giấc. Thằng Tẻo nhanh chóng thức dậy đầu tiên, chạy ra mở cửa thằng Nhản. Thằng Nhãn ở làng bên kia con rạch, cõng thằng Quít trên lưng chạy sòng sọc vào nhà, đở thằng Quít ngồi trên ghế. Thằng Tẻo thấy vậy, hỏi:

– “Xảy ra chuyện gì vậy, Nhản?” Không đợi bạn trả lời, Tẻo hỏi tiếp.”Chắc đi soi ếch bị rắn cắn rồi, phải không Nhản.”

– “Chắc là như vậy rồi,” Nhãn nói. “Tao với nó đang đi soi ếch gần cái đìa cạn, bỗng nghe nó hét lên một tiếng thiệt lớn, tao bèn chạy tới thấy nó nằm xỉu dưới đất, tao biết ngay thằng Quít bị rắn cắn, liền cõng nó xuống xuồng, đưa nó về đây, nhờ bác Ba chữa cứu nó.”

Tẻo nói:

– “Đâu để tao coi thằng Quít bị rắn cắn chỗ nào vậy,”

Ngay lúc đó thằng Quít mở mắt ra, nói:

– “Tao bị rắn cánh ở cườm tay mặt. Lúc tao vừa phóng chĩa xuống bụi cỏ lát để đâm một con ếch bà, bự tổ chảng; thình lình, một con rắn gì tao biết, từ dưới nước phóng lên mổ trúng chườm tay, tao sợ quá ngã xuống đất xỉu tại chỗ.”

Tẻo nhìn vết thương trên cườm tay thằng Quít, nói:

– “Không phải là rắn độc, có thể là rắn nước,” Tẻo cười, chọc quê. “Mầy nhát như thỏ đế mà cũng bày đặt đi soi ếch.”

Thằng Nhãn cũng cười toe tét, nói:

– “Nó sợ đến té đái chèm nhẹm trên lưng của tao, bốc mùi khai ngấy mà sao mầy biết nó bị rắn không nọc độc cắn?”

– “Người bị rắn độc mổ như rắn hổ chẳng hạn, thường để lại hai vết răn nanh, cách nhau độ một, hai phân tây để nhả nọc độc, thấy đễ biết lắm!” Tẻo nói. “Để tao đi lấy thuốc cho nó.”

Sau khi xức thuốc cho thằng Quít xong, Tẻo đưa cho thằng Quít một trái mù u nói:

– “Nếu ngày mai, vết thương bị rắn cắn còn đau nhức hay làm độc thì lấy thuốc đựng trong trái mù u nầy mà bôi vào vài ba lần sẽ khỏi.”

Thằng Quít hỏi đùa:

– “Còn thuốc uống đâu?”

– “Chỉ có rượu đế thôi!” Tẻo hỏi. “Mầy muốn uống không hả, thằng quỉ?”

– “Mầy nói tới rượu đế tao mới nhớ, còn chút xíu nữa tao quên,” Nhãn nói. “Tao có mồi nhậu để dưới xuồng, để tao chạy đi lấy, biếu bác Ba nhâm nhi giải sầu. Chờ tao một chút xíu nghen, Tẻo.”

Nhãn chạy ù xuống đang cắm sào dưới con rạch, lấy một xâu ếch bốn con bự tổ chảng nái, chạy trở lên đưa cho Tẻo, nói:

– “Tối nay, tao soi được chục con ếch bà tổ bà nái, tao biếu bác Ba với mầy 4 con.”

– “Bốn con ếch nầy làm món ếch xào lăng với nước đừa, ăn chắc đã lắm! Mầy chờ tao chút, tao cũng có vài con cá trê vàng cho mầy đây.” Tẻo nói. “Ếch đi, cá trê lại mới toại lòng nhau, phải không Nhãn?”.

Tẻo chạy xuống nhà bếp, lựa 6 con cá trê vàng bự nhứt, xỏ xâu rồi đêm lên nhà đưa cho Nhãn nói:

– “Tao tặng mầy và thằng Quít, mỗi đứa ba con cá trê.”

Quít hỏi:

– “Mấy con cá trê nầy làm món gì ăn đây, anh Tẻo?”

– “Mầy khờ quá đi, Quít! Cá trê nướng lửa than, chấm với nước mắm gừng hoặc cá trê kho tộ là ăn với cơm mệt nghỉ,”

Thấy trời sắp sửa rạng đông, Nhãn nói.

– “Thôi, tụi tao đi về nhà đây. Cho tao gởi lời thăm bác Ba nghen!”

—> Chương 19

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s