MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 19 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

CHƯƠNG MƯỜI CHÍN
NGƯỜI CHĂN VỊT ĐỒNG XA

chanvitdongxa2Sau khi uống cạn chén thuốc của bác Ba, Bền chui vào mùng đánh một giấc tới sáng bét mới mở bừng mắt dậy, nhìn quanh chỉ thấy bác Ba đang ngồi trên bàn ăn, còn thằng Tư Kê và Tẻo biến đi đằng nào không biết. Thấy Bền thức dậy, bác Ba nói:

-“Thức dậy rồi hả? Đi rửa mặt, ngồi ăn sáng với bác Ba!”

-“Thằng Tư Kê, nó đi đâu rồi bác Ba?” Bền hỏi.

-“Thằng Tẻo dẫn Tư Kê đi vô miệt rừng tràm hồi hừng đông, kiếm chút rau cỏ rồi. Chắc chúng nó cũng sắp về tới nơi.”

Rửa mặt xong, Bền ngồi vào bàn ăn đã thấy một tô cháo trắng còn nóng hổi, bốc khói thơm phức và mấy cái hột vịt muối chẻ làm đôi, tròng đỏ vàng ươm tươm dầu, Bền nói:

-“Bác Ba chu đáo quá, cháu cám ơn bác!”

-“Cánh tay của cháu còn đau nhức không?” bác Ba Tỵ hỏi.

Bền làm vài động tác thông thường, vui mừng, nói:

-“Con không còn cảm thấy đau nhức chút nào cả, có thể múa côn, đánh quyền được rồi đó bác.”

-“Ngày mai, cháu có thể đi về nhà được rồi!” bác Ba Tỵ nói. “Ăn cháo xong, đi với bác ra ngoài lều chăn vịt của chú Năm gần khu rừng tràm, bác Ba thăm chú ấy một lát nghe!”

Bền vừa húp cháo nóng, hỏi:

-“Chú Năm là ai vậy, bác Ba?”

-“Chú Năm là bạn già tri kỷ của bác Ba. Lều chăn vịt của chú Năm, trước kia là phần đất vô chủ, chú ra công khẩn hoang. Chỗ chú Năm ở cách nhà bác Ba cả chục sào đất, nếu cuốc bộ một lát là tới nơi.” Bác Ba nói.

-“Cháo nóng ăn với hột vịt muối ngon quá xá nghen, bác Ba!” ăn xong tô cháo, Bền khen, rồi hỏi. “Bao giờ bác cháu mình đi thăm chú Năm hả, bác Ba?”

-“Đi liền bây giờ, vừa đi, vừa nói chuyện, kẻo chú Năm đi khỏi là bác cháu mình không gặp,” bác Ba nói. “Có cái xuồng ba lá của bác cắm sào bên cái lạch nước gần đây, mình chống sào đi sẽ nhanh hơn.”

-“Để cháu chống sào cho bác Ba,” Bền nói. “Cánh tay của cháu hết đau nhức rồi!”

-“Ừ vậy cũng được!” bác Ba nói. “Cái lều của chú Năm nằm bên phải cái lạch nước, ngoài ra không có cái lều nào khác. Ở vùng nầy, chỉ có chú Năm là người duy nhất sống về cái nghề chăn vịt đồng xa, mặc dầu cái nghề nầy sanh lợi khá lắm đó cháu.”

-“Sao vậy bác Ba?” Bền hỏi.

-“Cái nghề nầy sống giữa đồng không mông quạnh, chỉ bầu bạn với bầy vịt,” bác Ba Tỵ nói. “Vùng Đồng Tháp Mười nầy, rắn độc nhiều vô số, đi chăn vịt dễ bị rắn mổ lắm!”

Tới cái lạch nước, chờ cho bác Ba ngồi vững trên xuồng, Bền nhổ sào chống đi ào ào vô trong sâu, bác Ba nói:

-“Cái lạch nước nầy ăn thông với con rạch Long Khốt, rộng chưa tới 4 thước, tuy không sâu lắm mà tôm cá có rất nhiều; thỉnh thoảng, bác Ba với thằng Tẻo ra đây kéo lưới, tôm cá bắt ăn mấy ngày không hết!”

Gần một tiếng đồng hồ sau, cái lều chăn vịt của chú Năm hiện ra trước mặt nằm bên phải cái lạch nước. Bác Ba nói:

-“Cháu thấy cái chòi dơi cao nghệu gần khu rừng tràm không? Đó là chòi dơi của bác Ba đó! Coi vậy, từ đó tới cái lều chăn vịt của chú Năm, băng đường đồng cũng cả cây số.”

Chú Năm đang sửa cái chuồng vịt đằng sau nhà, nghe có tiếng chó sủa rân, lật đật bỏ mấy khúc tràm xuống nước, leo lên bờ, đi ra ngoài cửa đón khách. Thấy anh Ba Tỵ tới thăm, mừng lắm, hỏi:

-“Chà, ngọn gió nào đưa anh Ba tới lều chăn vịt, thăm tui sớm vậy cà?” chú Năm nhìn Bền, hỏi. “Cháu nầy là ai vậy, anh Ba?”

-“À, anh Ba quên nói với chú, đây là cháu Bền, dưỡng tử của chú Hai Rồng đó mà.”

-“Có phải anh Hai Rồng, người vừa đánh bại cao thủ Thạch Sum vừa qua không?” chú Năm hỏi.

-“Đúng như vậy đó!” bác Ba nói.

-“Thú thiệt với cháu Bền nghen, tôi rất ngưỡng mộ chú Hai Rồng, tiếc rằng chưa gặp mặt chú Hai,” chú Năm quay sang bác Ba, hỏi. “Sao, anh Ba biết cháu Bền mà dẫn tới đây thăm tui vậy?”

Bác Ba cười, nói:

-“Sáng hôm qua, thằng Tư Kê, con của anh Chín Dậu, rủ cháu Bền đi dỡ một miệng chà lu trên con rạch; rủi ro, cháu Bền bị con rắn chàm quạp mổ trúng cánh tay. Nhờ chở tới anh Ba kịp lúc nên cháu Bền thoát chết vì nọc độc của rắn chàm quạp. Nhơn tiện, anh Ba đưa cháu Bền tới đây thăm chú cho biết.”

Thấy người khách lạ hai con chó xoáy gầm gừ, muốn tấn công Bền. Chú Năm quát:

-“Vô nhà! Khách quen mà!” chú Năm nói. “Hai con chó xoáy giống Phú Quốc nầy trợ giúp chú Năm trong việc chăn vịt đồng xa đắc lực lắm! Thôi, mời anh Ba và cháu Bền vào nhà nói chuyện chơi!”

Hai con chó nghe chủ quát, cả hai rủ nhau chạy vô phía rừng tràm săn mồi.

***

Căn nhà của chú Năm gọi là lều hay chòi gì cũng được, vì nó đơn sơ rất dễ thương như con người mộc mạc của chú Năm. Trải qua hai mùa mưa nắng, lúc nào bác Ba cũng thấy chú Năm ở trần trùn trục, mặc mỗi cái quần đùi mà vẫn khỏe mạnh vào cái tuổi xấp xỉ lục tuần, dù cuộc đời lắm phong sương cùng bầy vịt chạy đồng xa.

Căn nhà vách và mái lợp bằng lá dừa nước, nền nhà bằng đất nện, nửa nằm trên bờ, nửa kia nằm trên cái lạch nước, sàn lợp ván dựng trên những cọc tràm, cọc đước. Trong căn nhà bày biện thật đơn giản, một cái chõng tre ọp ẹp trải chiếu bông, kê dưới cừa sổ vừa là chỗ ngủ, chỗ ăn và chỗ tiếp khách, một cây đờn cò treo trên vách lá, một cái kệ nhỏ với vài chai rượu rắn nguyên con ngâm thuốc và một chồng sách cũ đủ loại, có cả sách Tây và truyện Tàu.

Sàn nước sau nhà có kê một cái bàn gỗ tạp, vừa đủ chỗ kê hai cái cà ràng dùng để nấu nướng, dưới bàn chất củi đước, củi tràm, vỏ dừa.. Cái lạch nước được vét rộng ra, chuồng vịt hình chữ nhựt bằng tre tầm vông và cây tràm bện lại, nhô lên khỏi mặt nước chừng 2 thước, bề dài khoảng 30 thước có cánh cửa kéo lên, sập xuống để lùa vịt ra vô, còn bề ngang chừng 10 thước. Trong và ngoài vuông rào nầy, cỏ lát được dọn sạch để cái lạch nước chảy thông thương cho vịt tung tăng bơi lội thoải mái, chóng lớn và một chiếc xuồng ba lá dùng để lùa vịt, đang cắm sào bên cạnh cây cầu ván.

-“Giấc mơ của người vào vùng hoang sơ nầy, khẩn hoang lập ấp, tạo dựng nhà cửa, ruộng vườn, chớ không ai như chú Năm, bỏ vợ buôn bán một mình ở chợ Mộc Hóa, rồi chạy nơi khỉ ho cò gáy để chăn vịt chạy đồng,” bác Ba Tỵ trách chú Năm, rồi đề nghị. “Cậu Hai Bảnh đã tuyên bố sẽ trả đất cho tá điền làm chủ phần đất của mình. Chú cũng nên yêu cầu cấp cho vài mẫu ruộng để dưỡng già với thím Năm, chú nghĩ sao?”

-“Miếng đất nầy do tôi khẩn hoang đã thành khoảnh đủ để nuôi vịt chạy đồng xa, huê lợi cũng đủ nuôi sống cho cả gia đình, còn làm ruộng cày, bừa, cấy, gặt chưn lấm, tay bùn suốt ngày trên đồng ruộng, cực nhọc hơn nghề nuôi vịt nhiều,” chú Năm cười, nói đùa. “Còn anh Ba cũng chạy vô đây; vất vả với cái chòi dơi có hơn gì tui đâu, anh Ba?”

-“Hoàn cảnh của tui khác, chú khác! Nuôi dơi lấy phân là nghề phụ, làm thầy thuốc cứu người mới là nghề chánh. Nhờ trời ưu đãi, ban cho vùng Đồng Tháp nhiều tôm, cá, rùa, ếch… làm chơi ăn thiệt, cuộc sống cũng dễ dãi, đúng không?” bác Ba Tỵ quay sang Bền nói. “Cháu ở nhà nói chuyện với chú Năm, bác Ba chống xuồng vô thăm chòi dơi một chút. Khoảng một tiếng sau, bác Ba trở lại đây đón cháu nghe!”

-“Ngồi chưa nóng đít đã bỏ đi vậy, cha nội!” chú Năm nói.

Căn nhà chỉ còn lại hai người, một già một trẻ trao đổi vài kinh nghiệm sinh sống trong vùng đất trũng Đồng Tháp Mười. Bền hỏi:

-“Cháu nghe dân gian họ nói như vầy: “Muốn giàu đào ao nuôi cá, muốn khá làm chuồng nuôi heo, muốn nghèo nuôi gà, nuôi vịt” biết có đúng không, chú Năm?” Bền nói. “Cháu thấy cái nghề chăn vịt chạy đồng xa, giữa đồng không mông quạnh, sống cô độc một mình buồn thấy mồ.”

Chú Năm nghe Bền hỏi, cười ngất, nói:

-“Trước hết, làm nghề gì muốn giàu phải có thời mới được. Đào ao nuôi cá mà một bầy rái cá lọt vào quậy là sạt nghiệp. Còn nuôi vịt, chẳng may, gặp một luồng gió độc thổi qua, bầy vịt bị dịch chết như rạ, chỉ còn có nước đem chôn hết, nghèo là như vậy. Chớ nuôi vịt chạy đồng cũng là nghề khá giã không kém nuôi heo, nuôi cá đâu. Nuôi vịt cực hơn một chút, nhứt là nghề nuôi vịt chạy đồng xa. Gọi là nuôi “vịt chạy đồng” là nuôi thả vịt ăn rông trên các cánh đồng vừa mới gặt xong, để bầy vịt ăn hết lúa rụng dưới đất,” chú Năm nói. “Còn buồn thì không buồn đâu, mỗi tối chú chông ngọn đèn dầu đọc sách, nghiền ngẫm mấy bộ truyện tàu. Nhiều đêm, chú Năm bình luận với anh Ba về những nhân vật trong “Tam Quốc Chí” tới nửa khuya mà không chán.”

-“Làm sao biết lúc nào vịt ăn no hoặc đói hả, chú Năm?” Bền hỏi.

-“Dễ ợt! Sau khi lùa vịt về chuồng; nửa đêm, nó bỗng nỗi chứng kêu ầm lên, nhốn nháo cả chuồng, bắt vài con rờ thử cái bầu diều mà thấy lép xẹp là biết chúng đói ăn, phải cho chúng ăn lúa dự trữ ngay. Nuôi vịt thả đồng có hai loại: loại vịt thịt và vịt đẻ trứng. Vịt thịt nuôi khoảng 3, 4 tháng là mối lái tới mua hết cả bầy, còn vịt đẻ trứng mua ở các lò ấp về nuôi khoảng 6 hoặc 7 tháng thì đẻ trứng. Vịt trứng thường đẻ ban đêm, nhiều con đẻ rớt trên đồng, phải cho nó ăn no mới đẻ sai,” chú Năm nói. “Cái nghề nuôi vịt chạy đồng là cái nghề cha truyền con nối, lao đầu vào cái nghề nầy để mưu sinh cũng ba chìm bảy nổi, chín cái long đong.”

-“Quê chú Năm ở đâu vậy?” Bền hỏi.

-“Quê chú Năm ở Hà Tiên, tỉnh Rạch Giá. Từ nhỏ tới lớn chú sống với tía ở một làng chài trong xóm Bãi Dâu. Vì chú Năm mồ côi mẹ sớm, nên tía bỏ nghề đi biển, vì đi biển nguy hiểm lắm. Tía thường nói: “đời ngư phủ cũng như danh tướng mấy ai hứa sống đến bạc đầu”. Ngư dân phải đối mặt thường xuyên với giông bão, bọn cướp biển và cả rắn biển. Tía của chú quyết định bỏ nghề đi biển, sống trên đất liền, sinh nhai bằng nghề làm cá khô, làm nước mắm, ai mướn gì làm nấy để có tiền dành dụm cho chú Năm lên tỉnh Rạch Giá ăn học,” chú Năm hồi tưởng lại chuyện cũ, tiếp. “Dĩ nhiên, làm mướn rất vất vả mà không đủ sống. Thấy tía sống cực khổ quá, chú đành phải bỏ học trở về làng chài ở Bãi Dâu làm nghề “gõ đầu trẻ” một thời gian. Khi chú trưởng thành, tía nghe lời một người bạn ở Núi Sập, tỉnh Long Xuyên, khuyên về đó nuôi vịt thả đồng, làm chơi ăn thiệt, còn có cơ hội phất lên lại đỡ vất vả, không phải khuân vác nặng nhọc hay dầm mưa dãi nắng, bán lưng cho trời suốt ngày trên ruộng đồng. Gia tài của hai cha con là con chó xoáy Phú Quốc trôi giạt ở trên biển, tấp vô xóm Bãi Dâu, được tía cứu sống mang về nhà nuôi nấng và cây đờn cò, kỷ vật còn lại của tía, chú máng trên vách lá, cháu thấy đó.”

Bền nói:

-“Hồi đó, cháu có theo tía má tới vùng nầy mấy lần, khu vực chung quanh Núi Sập là đồng ruộng bát ngát. Núi thấp có nhiều con đường mòn đi lên núi và có nhiều cây cổ thụ. Dịp cháu đến, mới xong mùa gặt, mùi gốc rạ mới cắt còn thơm mùi lúa chín. Núi Sập như được đặt nằm giữa tấm đệm bằng rơm rạ bát ngát chạy thẳng tắp đến chân trời. Vào mùa nầy, cháu thấy những túp lều nho nhỏ nằm rải rác trên khắp cánh đồng và những bầy vịt đông cả vài trăm con đi lanh thang ăn lúa rụng. Bây giờ, cháu mới biết lý do tại sao, nghề nuôi vịt chạy đồng xa tại vùng nầy rất phát triển. Nhưng, tại sao chú phải di chuyển nghề nuôi vịt chạy đồng về vùng Đồng Tháp hiu quạnh, buồn tẻ như vầy?”

Chú Năm thở dài thườn thượt, nói:

-“Nhớ lại những ngày theo tía bắt đầu vô nghề chăn vịt đồng xa ở núi Sập, sướng đâu không thấy, vất vả trăm bề, cũng phơi sương, phơi nắng, dãi nắng dầm mưa bám theo bầy vịt cũng đuối lắm. Từ tờ mờ sáng, hai tía con ăn qua loa vài chén cơm nguội dưa mắm, uống vài tách trà nóng cho ấm lòng, vận cái quần xà lỏn, cái áo bà ba, mỗi người cầm cây sào tre vừa để chống xuồng, vừa để lùa vịt ra đồng. Vịt thường đi thành bầy, nhưng cũng có con giở chứng tách bầy, chạy tùm lum hoặc đi lạc, nhưng nhờ con chó xoáy Phú Quốc giúp rất đắc lực, lùa những con vịt kiếm ăn lang thang trở lại bầy. Chăn vịt lời thì lời khẳm, còn chẳng may một cơn gió độc thổi qua làm cả bầy vịt bị “trúng gió”, chết sắp lớp trong chuồng cũng trắng tay. Vì vậy, muốn nuôi gà, vịt làm giàu phải có thời mới phất lên được, không thì trắng tay.”

Bền nói:

-“Hồi đi theo ghe thương hồ, cháu thấy người ta thả vịt lội dọc theo bờ sông, kinh rạch để bầy vịt ăn rông. Có những con vịt lạc bầy, nhập bọn với bầy vịt gần đó của chủ khác, khiến hai bên cãi vã nhau dữ lắm, đôi khi ấu đả với nhau cũng chỉ vì mấy con vịt lạc bầy.”

-“Đúng vậy đó, muốn tránh cãi vã lôi thôi vì những con vịt lạc bầy, chú Năm phải điểm dấu sơn màu lên mình của mỗi con vịt, rất dễ nhận lại khi nó nhập bầy với bầy vịt của người khác,” chú Năm nhớ lại hình ảnh của tía hồi đó, nói. “Những ngày đầu vừa mới tới vùng nầy, tía nhờ người bạn giúp vốn mua vịt con, lúa dự trữ và dựng một căn nhà lá bên dòng kinh Chắc Cà Đao, cách chưn Núi Sập khá xa. Khu vực nằm giữa con kinh Chắc Cà Đao và con kinh Rạch Sỏi đi Vàm Cống là đồng lúa phì nhiêu, rộng thẳng cánh cò bay, chó chạy le lưỡi cong đuôi là một nơi lý tưởng để nuôi vịt chạy đồng sau mỗi mùa gặt. Vụ đầu tiên, tía nuôi trên 1.000 con vịt thịt và 500 vịt trứng, bầu diều no lúa, vịt lớn như thổi nhưng cực lắm. Những ngày mưa tầm tã, gió lạnh thổi qua cách đồng vắng, không một người ra đồng vào lúc mưa gió như thế nầy. Chú chống một xuồng, tía đã có tuổi mà cũng chống một xuồng lo chăn vịt chạy đồng giữa lúc trời mưa trắng đồng, tiếng vịt gọi bầy xao xác lẫn tiếng ếch nhái kêu dậy đồng. Nhìn dáng tía đứng trên xuồng chống sào, lùa bầy vịt một quãng đồng thật xa để về chuồng trước khi trời chạng vạng, thấy tía tội nghiệp lắm! Vì vậy, chú Năm cất một cái chòi chăn vịt trên một cái gò đất, nằm chơi vơi giữa cánh đồng ngập nước gần ấp Tây Lân, cách kinh Bốn Tổng vài trăm thước để tía nghĩ ngơi lấy sức, ngày hôm sau lùa vịt về nhà sớm đỡ vất vả. Tối đến, chú Năm và con chó canh chừng bầy vịt.”

-“Bộ chú Năm không sợ ma hả?” Bền cười, hỏi.

-“Ma thì chú không sợ mà chỉ sợ bọn ăn trộm vịt, con chó đã phát hiện trước sau bốn vụ trộm. Nửa đêm, vừa lim dim đôi mắt, chợt nghe lũ vịt trong chuồng kêu rộ lên, nhốn nháo là hai cha con ngồi bật dậy, đốt đuốc bước ra lều quan sát động tĩnh,” chú Năm nói. “Vào những buổi chiều chạng vạng, mưa rỉ rả, tía nhớ quê nhà không ngủ được, chú Năm bắt ấm nước trà cho tía nhâm nhi, rồi ngồi co ro trong chòi nghe tía kéo đờn cò. Tiếng đờn cò trong đêm mưa gió buồn thúi ruột, thúi gan làm chú Năm nhớ cô Yến, con ông cai tổng Hoành quá trời! Tía định sau vài lứa vịt, để dành tiền trả nợ xong sẽ làm lễ dạm hỏi cô Yến cho chú. Nghe tía nói, ông cai tổng Hoành cũng đã đồng ý gả cô Yến cho chú Năm. Nhưng mà, trời không chìu lòng người!”

-“Sao vậy chú Năm?” Bền tò mò, hỏi.

Chú Năm giọng buồn buồn, nói:

-“Những năm đầu, hai cha con chú gặp vận may, nghề chăn vịt phất lên như diều gặp gió, chỉ vài ba tháng là vịt lớn như thổi, vốn một lời hơn chục lần. Tía trả nợ xong, mua đất cất nhà, chuẩn bị cưới vợ cho chú Năm. Nhưng, những năm kế tiếp thì thất bại ê chề, nuôi vịt lứa nào bị dịch chết hết lứa đó. Ngũ một đêm thức dậy, thấy bầy cả ngàn con chết nằm sắp lớp trong chuồng. Vụ cuối cùng, tía buộc phải vay nợ thêm mua lúa dự trữ và mua gần hai ngàn con vịt mong gỡ gạc lại vốn đã mất. Chỉ còn một tháng nửa là mối lái từ Long Xuyên xuống mua hết bầy vịt chở đi. Nhưng, vài ngày sau đó, trong một đêm mưa gió, cả nhà ngủ say, vịt xổng chuồng, bơi ra kinh Chắc Cà Đao theo dòng nước ra sông Hậu Giang. Sáng thức dậy, thấy chuồng vịt trống trơn không còn một con, tía buồn quá sinh bệnh, rồi qua đời. Chú Năm bán hết nhà cửa trả nợ cho tía. Chú trắng tay, ông cai tổng Hoành nuốt lời, không gả cô Yến cho chú Năm. Sau khi an táng cha già dưới chưn núi Sập, chừng một tháng sau, con chó cũng bỏ ăn rồi chết theo chủ. Chú Năm lìa bỏ nơi đó về Mộc Hóa, kế đó chú gặp thím rồi mở cái tiệm chạp phô nho nhỏ, buôn bán không đủ sống để nuôi hai mặt con. Nhớ nghề chăn vịt đồng xa, chú vào vùng Đồng Tháp Mười thử thời vận, cho đến bây giờ là hơn chục năm rồi.”

-“Sao, chú Năm thấy nuôi vịt chạy đồng ở Đồng Tháp Mười, có thuận lợi cho chú hơn không?” Bền hỏi.

-“Theo chú Năm thấy, nuôi vịt chạy đồng vùng nầy rất thuận lợi, một mình, một chợ không ai cạnh tranh; hơn nữa, trong đồng có nhiều đám lúa ma, mỗi đám rộng vài công tới cả mẫu, hột lúa chín rụng xuống đất không hư thối, tới mùa sau lại mọc thành đám khác mà còn mọc lan rộng ra thêm cho bầy vịt tha hồ ăn no nứt bầu diều. Đây là giống lúa ma trời cho, chỉ vùng nầy mới có, hột lúa tuy nhỏ, hơi đỏ, nấu chín để nguội ăn hơi cứng, hột cơm có vị ngọt. Nhưng, cũng có rất nhiều bất tiện nên không có ai dám vô vùng nầy nuôi vịt chạy đồng như chú Năm, vì vùng nầy có rất nhiều loại rắn độc như rắn hổ mang, mái gầm, chàm quạp?chú Năm cũng bị rắn mổ mấy lần, nếu không nhờ bác Ba cứu kịp thời, chắc chú Năm cũng hui nhị tỳ từ lâu.”

-“Theo cháu thấy, bác Ba nói vậy mà đúng đó! Chú nói với bác Hai Bảnh cấp cho gia đình chú vài ba mẫu đất, trồng cây ăn trái, vài ba năm sau là có huê lợi dưỡng già có hơn không? Chú Năm nên nghĩ lại coi!” Bền nói.

-“Chú cũng đang suy nghĩ tới vấn đề nầy, nghe cũng có lý. Nhưng, chú chỉ sợ thím không chịu thôi! Vô đây tiếp tế gạo, muối, nước mở, dầu?rồi ở chơi với chú được vài ngày, nghe tiếng bầy vịt kêu cạp cạp suốt ngày, mùi hôi lông vịt là than nhức đầu, chịu không nỗi, còn chú thì khác,” chú Năm cười giòn, nói. “Mối lái từ Long Xuyên xuống đây mấy ngày trước, chở hết bầy vịt đi rồi. Vắng tiếng bầy vịt kêu, chú thấy hơi buồn buồn, nhớ tụi nó, ăn cơm cũng không vô!”

***

Vừa lúc đó, hai con chó đi săn mồi, sục sạo trong rừng tràm chạy về. Một con ngoạm trong miệng một con rắn hổ mang, bự bằng bắp tay dài cả 2 thước, nó tha về bỏ dưới chưn của chú Năm, con rắn bị cắn gẫy cổ và cột sống, nằm ngo ngoe dưới dất. Chú Năm nắm cổ con rắn lên xem, rồi nói:

-“Miệng con rắn hổ mang nầy quá nhỏ mà ngoạm con mồi là con chuột cống nhum quá lớn so với cái miệng của nó, nuốt con mồi vô không được, nhả ra cũng không xong nên khi bị hai con chó tấn công đành chịu chết, bất lực không thể chống cự được,” chú Năm nói. “Con rắn nầy chết, nó dạy cho chúng ta một bài học kinh nghiệm ở đời là “quan dĩnh tự cầu khẩu thực”, có nghĩa phải đo miệng mà nuốt mồi; cho dầu, nó nuốt được con chuột cống nhum nầy, chính lúc đó, con rắn hổ nầy trở nên yếu nhứt vì con mồi trong bụng chưa tiêu hóa được. Còn thái độ con hổ ngược lại, “hổ thị trầm trầm, kỳ dục trục trục”, nghĩa là con hổ đăm đăm nhìn con mồi, thèm khát lên đến cực độ, để tự lượng sức mình vồ con mồi nầy được hay không? Nếu con mồi quá lớn mạnh như con voi thì lẳng lặng bỏ đi.”

Bền nhìn hai con chó của chú Năm, rồi tò mò, hỏi:

-“Hai con chó nầy thuộc giống gì mà có bộ lông màu vàng rất mượt, ôm sát thân mình giống như chó phèn. Nhưng, trên lưng đều có xoáy mà dãy lông mọc ngược chiều so với phần lông trên lưng vậy, chú Năm?”

-“Hai con chó nầy thuộc giống chó xoáy Phú Quốc, những cái xoáy lưng bí ẩn trên lưng chó Phú Quốc là đặc điểm riêng của giống chó nầy, cho tới nay, không ai giải thích nỗi. Cái xoáy lưng là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của nó, thích hợp cho việc dùng để giữ nhà hay dùng để đi săn. Các xoáy lưng thường bắt đầu từ vai tới mông hoặc từ vai tới hông. Ngoài ra, có những xoáy lạ nằm ở hai bên cổ, sau mông,” chú Năm nói. “Cách đây hai năm, nhân dịp bốc mộ của tía dưới chưn núi Sập đưa về an táng tại làng chài ở xóm Bãi Dâu, chú Năm quá giang ghe đánh cá tới đảo Phú Quốc thăm gia đình bác Hai Quyền, chú được biết là giống chó xoáy Phú Quốc là giống chó bản địa, nguồn gốc là chó rừng sống hoang dã trên đảo. Chúng đào hang khi sanh nở, khi chó con mới sanh ra đều nằm trong cái bọc, nếu con nào cựa quậy mạnh thì chó mẹ sẽ cắn bọc cho chui ra; nếu chó con nào yếu thì chó mẹ sẽ giết ngay. Chính vấn đề nầy đã giúp giống chó rừng Phú Quốc có khả năng sinh tồn, chống chọi với thiên nhiên rất cao. Một khi được dân sống trên đảo thuần dưỡng, nó đã nhanh chóng thích ứng với điều kiện sống bên cạnh con người. Một khi đã trở thành chó nhà, chó xoáy Phú Quốc rất tinh khôn, thành thạo đi săn heo rừng, săn nai, tấn công cả rắn độc để cứu chủ.”

-“Ngoài biệt tài đó ra, chó Phú Quốc còn có biệt tài nào khác hay không, chú Năm?” Bền hỏi.

Chú Năm huýt sáo, vỗ tay trên đùi mấy cái, con chó hiểu ý, chống hai chân trước lên đùi của chú Năm, chú cầm mấy ngón chưn của nó xòe ra, chỉ cho Bền, nói:

-“Mấy ngón chưn của nó được nối liền với nhau bằng một miếng da, giống cái màng cẳng vịt,” chú Năm nói. “Những gia đình ngư dân sống trên ghe thuyền ở đảo Phú Quốc, có con nhỏ thường nuôi một, hai con chó để trông chừng. Nhờ khả năng bơi lội rất giỏi, nó đã cứu nhiều trẻ em rơi xuống biển bằng cách cắn cổ áo của nạn nhân lôi vô ghe hay vô bờ. Nhưng, lòng trung thành và tính can đảm của loại chó Phú Quốc đã trở thành những huyền thoại được dân chúng lưu truyền trên đảo.”

-“Chú Năm có thể kể cho cháu nghe vài câu chuyện được không?” Bền hỏi.

-“Chuyện nầy xảy ra ở Bãi Khem, đây là bãi biển cát trắng mịn và có những gềnh đá nhấp nhô rất đẹp nằm cách thị trấn Dương Đông khoảng 25 cây số, phía xa xa trên Bãi Khem là khu rừng già chưa ai khai khẩn với nhiều gỗ quý giá và dã thú,” chú Năm kể. “Có một gia đình ngư phủ tên Dương, sống với vợ, hai đứa con trai và có nuôi một con chó xoáy Phú Quốc. Một hôm, ông ta cùng hai người con lên núi đốn gỗ về cất lại căn nhà của họ ở Bãi Khem. Trên đường vác gỗ về nhà, khi lội băng ngang qua một con suối, ông Dương bắt gặp 20 trứng màu trắng ngà trong một hốc cây cổ thụ mà mấy người ôm chưa giáp vòng. Tưởng là trứng gà rừng, ông ta hốt hết đem về nhà. Tối hôm đó, cha con chồng vợ đang quây quần bên mâm cơm chiều thưởng thức mấy quả trứng gà rừng luộc chín; bỗng thình lình, một con rắn hổ mang chúa dài khoảng 3 thước, từ ngoài cửa phóng ào vô nhà tấn công, làm mọi người quăng chén đũa chạy tán loạn, may nhờ con chó xoáy Phú Quốc phóng ra liều chết cứu chủ. Lúc đó, mọi người mới hoàn hồn, dùng cuốc, xẻng, gây gộc xúm nhau ví đập nó, làm con rắn hổ mang chúa phóng ra cửa chạy mất. Qua tối hôm sau, con rắn hổ mang chúa bò vô nhà lúc nào không hay. Sáng ra, cả nhà phát hiện ra đứa con trai lớn, nằm ngủ trên cái chõng tre bị rắn cắn chết lúc nào không một ai hay biết.”

-“Con chó xoáy Phú Quốc lúc đó ở đâu?” Bền ngắt lời, hỏi.

-“Có lẽ lúc đó, nó đang đi săn mồi ở đâu đó trong khu rừng. Sau khi mai táng cho đứa con trai xong, con chó xoáy Phú Quốc biến đi đâu mất, không thấy trở về nhà nữa. Ít lâu sau, ông Dương mới tìm thấy xác con chó xoáy của mình, chết bên cạnh xác con rắn hổ mang chúa gần gốc cây cổ thụ. Con rắn hổ bị con chó xoáy Phú Quốc cắn gẫy cổ, còn con chó xoáy bị nhiều vết mổ ở đầu, ở đùi, nó chết vì nọc độc của rắn,” chú Năm nói. “Câu chuyện nầy được đồng bào quanh vùng truyền tụng về lòng can đảm và trung thành của giống chó Phú Quốc.”

-“Hai con chó Phú Quốc nầy, chú đặt tên nó là gì vậy?” Bền hỏi.

-“Chú mua hai con chó xoáy nầy ở đảo Phú Quốc, tới nay được trên hai tuổi rồi,” chú Năm nói. “Con đực chú đặt tên “Tả”, còn con cái tên “Hữu”. Khi vịt thả chạy đồng, con Tả chanh chừng vịt chạy lạc bầy bên phải, còn con Hữu lo bên trái, khi nào thấy trứng do bầy vịt đẻ rớt trên đồng thì nó sủa lên cho chú tới lượm trứng. Hai đứa nó giúp chú đắc lực lắm, cực khổ tới mấy cũng không phàn nàn. Mấy thằng ăn trộm vịt sợ nó, còn hơn sợ cọp; vậy mà, nó chỉ chịu thua mấy thằng nhóc con, ăn trộm vịt ở ngoài rạch Long Khốt. Lúc trước, mỗi lần lùa bầy vịt ra ngoài rạch để mò cua, bắt ốc, tới buổi chiều lùa vịt về chuồng thì hao mất vài con. Hai thằng Tả, Hữu cũng “bó cẳng” luôn với tụi nhóc đó, thế mới ghê!”

Bền cũng ngạc nhiên, hỏi:

-“Mầy thằng nhóc ăn trộm vịt bằng cách nào mà ghê vậy, chú Năm?”

-“Lúc bầy vịt thả ăn rông dọc theo bờ rạch, chú và hai con chó xoáy ngồi trên xuồng, cấm sào dưới gốc cây bần tránh nắng thì bọn nhóc dùng cái tĩn nước mắm bằng đất nung nặng chình chịch, chung quanh tĩn có dây dừa bện lại dùng làm quai xách. Sau khi dùng hết nước mắm trong tĩn, bọn nhóc dùng nó để làm bẫy vịt, bằng cách đổ nước vô tĩn, vừa đủ cho nó nổi lềnh bềnh trôi theo dòng nước,” chú Năm phì cười, nói. “Một sợi câu dài chừng 3, 4 thước có móc mồi, thường là cá lòng tong hoặc cá rô non còn sống, bọn trộm cột sợi dây câu vô cái quai xách, chờ khi bầy vịt bơi trên rạch, kêu cạp cạp là thả những tĩn nước nầy xuống dòng nước. Vịt thấy cá lội như mèo thấy mở, lội tới đớp liền, ăn phải lưỡi câu, nó giằng qua, giựt lại làm cái tĩn chao nghiêng qua một bên làm nước tràn vô đầy tĩn chìm lỉm xuống nước, lôi con vịt xuống dưới đáy rạch và neo con vịt xuống đó. Chờ khi chú Năm lùa bầy vịt đi khuất dạng, bọn nhóc phăng theo sợi dây câu, kéo mấy con vịt tham ăn bị mắc bẫy lên, bỏ vô xuồng về nhà ăn nhậu với nhau.”

Vừa lúc đó, bác Ba Tỵ đi thăm chòi dơi trở về, thấy con rắn hổ mang còn ngo ngoe dưới đất, bác Ba Tỵ hỏi:

-“Con rắn hổ mang ở đâu vậy, chú Năm?”

-“Hai con chó mới đi săn trong khu rừng tràm tha về đó! Tôi chưa biết phải quăng nó đi đâu đây, anh Ba!”

Bác Ba Tỵ nói:

-“Nọc độc của con rắn hổ mang nầy thuộc hạng tối độc, nhưng mà thịt của nó lại lành, nấu nó với đậu xanh, ăn mát gan, giải độc, chiêu nầy gọi là lấy độc trị độc. Chú Năm cho tôi mang nó về nhà nấu cháo đậu xanh cho cháu Bền ăn để tẩy sạch nọc độc của rắn chàm quạp còn tồn động trong người của cháu Bền thì tốt lắm! Chỉ còn vài hôm nữa, cháu Bền phải đi theo giúp cậu Hai Bảnh lên Thất Sơn, săn hỗ dữ để giúp dân làng ở trên đó.”

-“Tôi có nghe tin đồn nầy rồi,” chú Năm nhìn Bền, hỏi. “Cháu giúp cậu Hai Bảnh lên Thất Sơn săn ác thú. Nhưng, cháu có kinh nghiệm gì về việc săn bắt mãnh hổ chưa?”

-“Dạ chưa, đây là lần đầu tiên cháu đi giúp cậu Hai Bảnh đi săn hổ dữ.” Bền nói.

-“Quê cháu ở Giang Thành, có khi nào cháu nghe nói sự tích núi “Ngũ hổ” ở Hà Tiên không?” chú Năm hỏi.

-“Cháu chỉ biết núi “Ngũ hổ” đó ở Hà Tiên, chớ cháu không sự tích của nó, tại sao có tên gọi là núi Ngũ Hổ.” Bền hỏi.

-“Thuở xa xưa, Rạch Giá có nhiều thú dữ lắm, có nhiều địa danh còn lưu lại địa phương cho tới bây giờ như: gò “Long Xà” ở kinh thứ 15 tại Tân Bằng, rạch “Thuồng Luồng”, rạch “Cà Bơ he” là rạch sấu lội từng bầy, “Vàm Trư” nơi heo rừng sống từng đàn ở đó, “Tắc Ráng” cánh đồng ráng, voi đi thành con đường mòn, “Láng Tượng” nơi voi ở thành đàn, còn “Giục Tượng” là nơi voi đến phá phách hoa màu. Núi Ngũ Hổ nằm về phía Bắc chợ Hà Tiên, các lão tiền bối ở đây kể lại rằng: Những người sống trong xóm nhà bên ven sông Hà Tiên thường tới chân núi đó để lấy nước ngọt trong một cái giếng nước gần đó để đem về nhà dùng nấu ăn, uống. Bỗng một hôm, cả xóm náo động vì có một người trong xóm đi lấy nước tới chạng vạng mà chưa thấy trở về. Anh em lực điền trong xóm tập hợp lại, đốt đuốc sáng rực một gốc trời, vừa đánh phèn la, vừa đi vừa la hét vang trời để thú dữ sợ tránh xa họ. Khi gần tới chưn núi, họ nghe tiếng bầy cọp rống vang lên rùng rợn trong đêm vắng. Họ sợ tới hồn vía lên mây, quăng đuốc, nạnh ai nấy chạy thục mạng về trong xóm. Từ đó, không còn một ai đủ can đảm, dám léo hánh tới giếng đó lấy nước ngọt nữa.”

-“Chắc bầy cọp hung dữ nầy có tới 5 con nên người ta đặt tên cho nó là núi “Ngũ Hổ, phải không, chú Năm?” Bền hỏi.

Chú Năm lắc đầu, kể tiếp:

-“Thế rồi một hôm, có một chiếc ghe bầu từ miền Trung, ghé bến Hà Tiên xin tiếp tế nước ngọt, để dự trữ trước khi vượt biển ra đảo Phú Quốc. Gặp mùa hạn hán, người trong xóm không đủ nước mưa để uống thì lấy gì để tiếp cho họ. Cuối cùng, họ phải liều mạng tới cái giếng ở dưới chưn núi để lấy nước ngọt, bất chấp lời cảnh giác của đồng bào địa phương về nạn cọp rừng hoành hành ở vùng nầy. Một thanh niên tình nguyện dùng cây thiếc côn gánh một cặp thùng thiếc đi về hướng giếng lấy nước ngọt và cho mãi tới xế chiều mà chưa thấy anh ta trở lại chiếc ghe bầu. Những người đi trên ghe bèn vầy đoàn với lực điền trong xóm đi tìm. Khi vừa đến chân núi, họ chứng kiến một cảnh tượng bi tráng. Trước mắt họ, cây cối ngả nghiêng, lông và máu cọp rải rác khắp nơi. Bốn xác cọp nằm bị đập vỡ sọ chết, nằm lăn lóc khắp nơi.”

Bền nôn nóng, ngắt lời, hỏi:

-“Còn người thanh niên võ sĩ đâu, chú Năm?”

-“Xác người thanh niên nằm ngữa trên mặt đất, chống cây thiết côn lên, chọc thủng xác con cọp rằn bự nhứt, ngọn côn xuyên suốt từ bụng lên trên lưng. Điều nầy chứng tỏ rằng, con cọp rằn chúa đàn bị trúng ngọn côn vỡ sọ. Nhưng, trước khi chết, nó dùng hết tàn lực phóng lên vồ móc họng người đã giết nó, còn người thanh niên võ sĩ kiệt sức, ông đã chống ngọn côn lên đỡ, đó là chiêu cuối cùng của đời võ sĩ để hạ ác thú,” chú Năm nói. “Người võ sĩ Bình Định đã lưu danh thiên cổ trên núi Ngũ Hổ tại Hà Tiên.”

Bền thắc mắc, hỏi:

-“Chỉ có 4 con cọp bị giết, tại sao gọi là núi Ngũ Hổ, phải gọi là núi “Tứ Hổ” mới đúng chớ, chú Năm?”

-“Dân chúng vùng Hà Tiên đã vinh danh người thanh niên võ sĩ Bình Định, có sức khỏe kinh người mạnh như mãnh hổ nên ông được tôn sùng là thần hổ; vì vậy, ngọn núi nầy có tên là Ngũ Hổ từ đó,” chú Năm nói. “Đây là một kinh nghiệm về bản chất của loài cọp dữ, trước khi chết, nó có thể vồ móc họng người thợ săn để cùng chết với nó. Phải đề cao cảnh giác, dầu thấy nó đã bị trúng đạn.”

-“Dạ, cháu sẽ ghi nhớ lời chú Năm dặn! Đây là một kinh nghiệm rất quí báu! Cám ơn chú Năm.” Bền nói.

Bác Ba Tỵ thấy mặt trời gần đứng bóng, nói:

-“Thôi, bây giờ bác cháu tui xin kiếu chú Năm về nhà, kẻo tụi nhỏ nó trông.”

-“Cám ơn chú Năm cho cháu con rắn hổ mang nầy nghe!” Bền nói.

-“Làm thịt rắn hổ có hai điều tối kỵ: tránh dùng thớt me để chặt khúc nó và khi nấu cháo đừng để bồ hóng rớt vô nồi, ăn vô có thể gây tử vong.” Chú Năm dặn.

-“Dạ, cháu nhớ rồi! Chào tạm biệt chú Năm nghen!” Bền nói.

-“Cháu Bền còn ở với anh Ba tối nay, ngày mai đi rồi. Nếu có rảnh rang, tối ra nhà anh Ba ăn cháo rắn hổ nấu với đậu xanh, bàn chuyện “Quốc sự” nghe chơi, anh Ba có một vài thắc mắc muốn hỏi chú Năm!” bác Ba Tỵ nói. “Ở vùng nầy, ngoài chú Sáu Trí ở nhà cậu Hai Bảnh ra, chú Năm là người có ăn, có học hiểu biết nhiều hơn ai hết.”

-“Anh Ba quá khen, học lực của tôi không bằng ai đâu, nhờ đọc sách nhiều để mở mang thêm sự hiểu biết. Tối nay, tôi ra nhà Ba bàn chuyện “trà dư tửu hậu”. Sáng mai, tôi sẽ về Mộc Hóa thăm vợ con vài ngày, rồi chèo ghe ra chợ Thủ Thừa mua vịt con tại mấy “lò ấp”, gầy dựng lại bầy vịt kế tiếp. Nhờ trời thương, mấy năm nay được mùa nuôi vịt chạy đồng, dành được một ít tiền cho vợ sửa lại căn nhà tươm tất.”

-“Thôi, anh Ba về nhà trước nghen! Hẹn gặp chú Năm tối nay!” bác Ba quay sang Bền nói. “Nhổ sào đi cháu!”

 

—> Chương 20

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

2 Responses to MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 19 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

  1. Nguyen Thien Chanh says:

    Xin quý vị dùm cho đọc đến hết truyện Mekong sóng dậy phù sa của tác giả Nguyễn Vĩnh Long Hồ. Xin đa tạ
    Nguyen Thien Chanh tran trong

    Like

    • Lê Thy says:

      Ông Nguyen Thien Chanh kính,

      Khi nào tác giả gưi chương kế tiếp chúng tôi sẽ đăng lên ngay. Tôi sẽ chuyển lời yêu cầu của Ông đến tác giả.
      Cám ơn Ông đã theo dõi truyện của anh NVLH trên trang BVCV.

      Trân trọng,
      LT

      Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s