BÀI THƠ DANG DỞ (Thiên Lý)

Lời giới thiệu

Khi tôi bắt đầu nghĩ nhiều về quá khứ là tôi biết mình đã già. Đúng như câu nói: “Người già luôn sống với quá khứ”.

Giữa cuộc sống thầm lặng ở thành phố nhỏ “đi lên đi xuống” này, dòng đời tẻ nhạt vẫn mãi làm tôi trăn trở với những chuyện nhớ và quên, thương và ghét, tha thứ và chấp nhất. Cái điên của tôi là ở chỗ:

Khi ngồi buồn, tôi thường tìm vui trong những kỷ niệm đẹp.
Khi vui, tôi lại hay nhớ đến những ngày buồn đã qua.

Buồn vui cứ thay nhau xen kẽ trong ký ức tôi, nhào nháo lên những hồi tưởng về chuyện xưa cũ, để rồi, một ngày tháng Tư buồn, tôi ngồi ôn lại một phần đời thực của mình với chút hư cấu, tạo dựng lên số phận và nỗi bất hạnh của hai nhân vật trẻ tuổi trong địa ngục “hòa bình”. Mà thời điểm đó, sự khủng hoảng của đói nghèo luôn là nỗi ám ảnh dai dẳng nhất trong tôi. Nỗi niềm tâm tư, thống khổ về sự mất mát quá nhiều của người lính, sự khao khát tự do trong gông cùm tù tội, sự mơ ước một tình yêu đã không thể nào trọn vẹn trong cuộc đời đầy những thù hằn, nghi kỵ, đầy nhiễu nhương, đầy ô trọc. Những phẫn uất đó đã được gói trọn trong một bài thơ thầm kín, một bài thơ chưa kịp nói hết lời, một bài thơ dang dở…

baithodangdo1.

Tôi ngồi giữa đống sách ngổn ngang lựa từng cuốn xếp lên kệ. Lần này, tôi quyết phải xếp riêng sách tiếng Việt một bên, tiếng Anh một bên. Bốn năm đèn sách đã làm cho cái kệ nhỏ của tôi chật thêm những sách học (đã không thể bán được cho ai). Nào tự điển, nào sách tâm lý, giáo dục trẻ em, nào sách khoa học, nào sách thơ, truyện tiếng Việt… tôi cứ nhét lung tung không ngăn nắp tí nào. Tôi chồng những cuốn sách nặng trịch ấy vào một ngăn kệ dưới cùng, có cái gì đó kẹt lại ở phía sau khiến tôi không thể đẩy hết chồng sách vào trong được. Tôi phải lôi ngược nó ra, thì thấy kẹt ở chính giữa là một cuốn tập nhỏ. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra đó là cuốn nhật ký đã cũ của tôi, cuốn tập học trò hai trăm trang bìa xích lô máy màu cam đã bạc phếch. Tôi không nhớ là tôi đã giữ lại cuốn nhật ký này từ lúc nào, lấy tay phủi những hạt bụi bám đầy ngoài bìa. Tôi từ từ mở trang sách đầu, nét chữ của tôi hồi còn học trung học nắn nót điệu đà, vẫn còn đậm nét trên trang giấy trắng đã ngả vàng cùng với mùi cũ mốc. Đây là cuốn nhật ký tôi ghi vội vào năm học cuối của bậc trung học. Hàng chữ đầu tôi đã viết thật vắn tắt: tháng 10 năm 1975, đi lao động thủy lợi gặp Phú, một người vừa cởi áo lính để mặc lại áo học sinh. Tôi lẩm bẩm: Phú, Phú.., lâu quá rồi trí não tôi đang bị lão hoá. Tôi đọc tiếp câu kế. Anh hơi nhỏ con, có vẻ nghịch ngầm, trên khuôn mặt anh dễ nhớ nhất là bộ ria mép trên cái môi dày với nụ cười ngạo mạn. Anh thổi harmonica rất hay… Đọc đến đây thì tôi đã nhớ ra Phú, lòng tôi chợt bâng khuâng, xao động. Thời gian như ngừng lại trên những dòng chữ diễn tả về anh, rồi thong thả từng phút quay về thuở còn đi học.

o O o

Ngôi trường Văn Học trên đường Phan Thanh Giản ba mươi lăm năm về trước… Tôi quen Phú trong một lần đi công tác lao động ở một nông trường cách xa Sàigòn mấy chục cây số. Năm ấy tôi đang học lớp 12 trong chương trình giáo dục học đường mới của nhà nước cộng sản. Lao động là một công tác bắt buộc học sinh trung học phải tham gia để rèn luyện ý thức “Lao động là vinh quang”, và tinh thần xây dựng đất nước với câu ” Nơi nào khó có thanh niên”. Người phụ trách việc chuyên chở và phân công lao động cho chúng tôi theo chỉ thị của cấp trên là Hạnh. Một người đã qua tuổi học sinh, nên chúng tôi thường gọi Hạnh bằng anh. Nghe nói trước 75 anh đi lính Việt Nam Cộng Hoà, sau khi đi “ học tập” 3 ngày về anh đi học lại. Anh học chung lớp với tôi, nhưng ít khi thấy anh ngồi ở lớp vì anh cứ bị sai đi làm công tác đoàn thể hoài. Cuối ngày, khi công tác lao động đã xong xuôi, học sinh chúng tôi được sắp xếp lên xe để trở về trường. Gọi là sắp xếp chứ thực ra chẳng có trật tự gì hết, cảnh chen nhau giành lên xe thật là hỗn loạn, và tôi, do quá chậm chạp lại nhỏ con nên đã bị sót lại cùng với 5 người khác. Tôi lại là một nữ sinh duy nhất trong nhóm. Anh chàng Hạnh chạy ngược xuôi lo tìm xe cho chúng tôi. Anh có một chiếc Honda có thể chở được hai người, còn ba người kia có cả tôi trong đó chưa biết làm sao. Tôi lo lắng nhìn trời đang tối dần. Bỗng từ xa có một người thanh niên ì ạch đạp chiếc xe đạp mini tới, tôi nghe anh Hạnh gọi rối rít:

– Phú, Phú, về một mình hả, có đón ai nữa không?

Anh chàng Phú dừng xe lại lắc đầu: Không.

Anh Hạnh hỏi ngay:

– Cho gửi một người nghe?

Phú gật đầu:

– Được, nhưng mà gửi ai nhẹ nhẹ thôi nghe, xe tao là xe mini mày thấy đó.

Hạnh nói liền:

– Tốt quá, có người nhẹ cho mày đây nè. Rồi quay sang tôi, Hạnh ra lệnh – Mai, lên Phú chở về đi.

Tôi tròn mắt hỏi lại:

– Em hả, ủa mình không về chung sao?

Hạnh gắt nhẹ:

– Xe đâu mà về chung, bây giờ có người chở về là tốt rồi, lẹ đi

Tôi ngần ngại hỏi lại:

– Anh này là học sinh trường mình luôn hả anh Hạnh?

Hạnh khoát tay, đẩy tôi về phía xe của Phú:

– Học sinh trường mình chứ ai xa lạ, không sao đâu đi lẹ đi.

Tôi vẫn còn ngại ngùng chưa chịu lên xe, Hạnh bực mình vừa gằn giọng, vừa kéo tay tôi lại gần yên xe sau của Phú:

– Lên xe lẹ đi, trời sắp tối rồi đó thấy không.

Lúc ấy, Phú quay lại nói thêm:

– Tôi không có chở em đi mất tiêu đâu mà sợ.

Tôi ngồi lên chiếc yên sau theo sự thúc giục của anh Hạnh. Đây là lần đầu tiên tôi đi chung với một người con trai không quen biết. Tôi vẫn không hiểu sao khi đi, thì xe lại đủ chỗ để chở học sinh mà lúc về thì lại thiếu chỗ. Kỳ cục thiệt! Xe bắt đầu lăn bánh, tôi nhìn những đồng cỏ khô cháy vàng hai bên đường dưới ánh nắng chiều hiu hắt một chút gió nhẹ, lòng chợt thâý buồn lo vu vơ. Chạy được một quãng, Phú hỏi tôi:

– Mai muốn anh chở về nhà hay về trường?

Tôi bối rối, chở về nhà ư… sợ mẹ hỏi thì không biết trả lời sao cho mẹ tin là mình đi lao động về trong tình trạng thiếu xe, nên phải đi quá giang như thế này. Tôi ngập ngừng:

– Chở Mai… về… trường cũng được.

Rồi im lặng một lát, tôi rụt rè hỏi Phú:

– Anh… Phú ơi…ừm, khoảng bao lâu thì mình về tới trường hả anh?

– Anh không biết chắc.

– Vậy chắc mình về tới Sài Gòn trời tối lắm rồi há, Mai sợ trễ quá, ở nhà mẹ Mai sẽ lo lắm.

Phú trấn an:

– Có thể trời tối, không sao đâu anh sẽ cố gắng đạp nhanh hơn.

Tôi nghĩ đến đoạn đường phải lết bộ từ trường về nhà mà cảm thấy ngao ngán, nếu như trời tối, rồi tự trách mình sao không bảo anh ta chở thẳng về nhà, thả mình ngay đầu ngõ như thế mình chỉ đi bộ một quãng ngắn thôi. Tôi ngập ngừng muốn nói mấy lần nhưng lại thôi. Chợt Phú hỏi:

– Mai học lớp mấy vậy?

– Mai học lớp 12C1, còn anh?

Giọng Phú ngạc nhiên:

– Học lớp 12 lận hả, nhìn Mai nhỏ xíu anh cứ tưởng Mai học lớp 10 hay lớp 11 gì đó.

– Bộ anh lớn lắm sao?

– Dĩ nhiên là lớn hơn Mai rồi, anh đâu phải là học sinh đâu, anh đi học lại như Hạnh thôi.

– Ồ, vậy hả, Anh học lớp nào?

– 12 B2

– Chắc anh giỏi toán lắm hả?

– Tàm tạm thôi, hồi trước học xong lớp đệ nhị là lớp 11 bây giờ, phải thi tú tài 1, anh rớt tú 1, học lại thêm một năm cũng bị rớt, ba anh la hoài, nên anh buồn xin đi lính. Nếu chăm chỉ thì anh đã học xong trung học từ năm 72 rồi.

– Đi lính khổ lắm hả anh? Sao anh đi lính chi sớm vậy?

– Ờ, khổ lắm, nhưng nhờ vậy anh mới thấy mình trưởng thành ra. Không đi lính trước thì cũng phải đi sau thôi, con trai lớn lên trong chiến tranh, đi lính là nghĩa vụ mà.

– Bây giờ đi học lại anh thấy có vui không?

– Cũng có vui vì được sống lại thời học trò, nhưng cũng có cái chan chán vì chương trình học thay đổi nhiều. Anh ghét mấy môn chính trị quá.

Nghe anh nói, tôi như người được mở đài than vãn nên mạnh dạn tiếp lời ngay:

– Anh học ban B là còn ít giờ chính trị hơn ban C của Mai mà còn thấy ngán, Mai học chính trị lồng vào văn chương hầu như mỗi ngày, thơ cũng có phải có thép trong đó, thiệt là ghê. Học chán muốn chết!

– Anh chán học thì được chứ Mai thì không nên.

– Sao vậy?

– Vì Mai còn cả một tương lai thật dài phía trước.

Tôi cười:

– Trời ơi, anh làm như anh già dữ lắm, anh cũng có tương lai phía trước vậy.

– Không, anh cảm thấy mình mất tương lai từ ngày buông súng, ước mơ hoà bình của anh không phải như ngày hôm nay.

Tôi nghe giọng anh thật buồn, có một nỗi chán chường bất mãn trong câu nói ấy. Thực sự trong chiến tranh tôi hãy còn nhỏ nên đã không hiểu biết gì nhiều về đời lính chiến, về các binh chủng. Song, qua những thước phim tài liệu đã xem trên T.V, tôi cũng nhận ra được sự gian khổ, chiến đấu kiên cường của người lính qua làn tên mũi đạn, khi phải đối đầu giữa sự sống và cái chết trong gang tấc. Người lính nào cũng có ước mơ một ngày thanh bình cho quê hương, một ngày trở về được nguyên vẹn hình hài xum họp bên gia đình. Nỗi buồn chán cho ngày hoà bình hôm nay không chỉ là cảm giác của riêng Phú, mà còn là nỗi xót xa tê tái trong tôi. Cuộc sống mới đang làm sụp đổ những mơ ước của tôi, và phá tan hết mọi dự định của cha mẹ tôi cho các con. Tôi nhớ đến cha tôi, không biết giờ này cha đang “học tập cải tạo “ở nơi nào? Cha đã sống ra sao? Còn mẹ tôi thì đang phải đương đầu với cuộc đời cơm áo để lo cho chúng tôi. Bữa đói bắt đầu nhiều hơn bữa no. Nơi học đường, những học sinh như tôi và Phú luôn bị nhồi nhét biết bao nhiêu là bài học tuyên truyền chính trị, ca ngợi bác và đảng, cùng lòng hận thù đối với những người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã bị nhục mạ bởi những từ như “ngụy quân” “lính đánh thuê”, “ôm chân đế quốc”, “việt gian” … Tôi biết, đã từng là một người lính Việt Nam Cộng Hoà như Phú, chắc chắn anh phải rất khó chịu và uất hận vì những lời tuyên truyền đó. Ngay cả tôi, khi làm một bài luận phân tích về hai chữ “độc lập, tự do” dưới sự lãnh đạo của đảng. Tôi cũng thấy mỉa mai, cay đắng làm sao!!! Tự do và no ấm đã ở đâu trong khi gia đình tôi đang ngày càng rơi vào sự nghèo đó, cha tôi thì bị lệnh đi “học tập” biệt tăm mấy tháng nay rồi. Chỉ hai điều ấy thôi, cũng đủ cho tôi trí khôn để hiểu rằng những gì tôi nghe từ trên bục giảng hôm nay chỉ là dối trá… Đường phố đã lên đèn, nhìn lưng áo Phú mồ hôi đã ướt đầm một nửa, tôi cảm thấy tội nghiệp anh quá, tôi mong có một ngọn gió mạnh thổi lên cho anh đỡ mệt. Mải miết nghĩ ngợi tôi không biết là Phú đã đậu xe trước cổng trường, anh hỏi:

– Trời tối rồi Mai vào trường làm gì có ai trong đó đâu, để anh chở Mai về nhà nghe. Nhà Mai ở đâu lận?

Tôi ngần ngừ một lát:

– Dạ …cũng được, nhà Mai ở đầu đường Phan Đình Phùng, thả Mai ở đầu ngõ nghe.

Phú hỏi ngay:

– Sao vậy? Đã chở về thì phải về tận nơi chứ, lỡ Mai bị bắt cóc giữa đường thì sao, ngày mai vô trường thằng Hạnh nó đem anh ra “ chi đoàn kiểm điểm” chết đó.

Tôi phì cười:

– Ai mà thèm bắt cóc Mai, có ma bắt thôi.

– Ừ ma sống đó, thôi để anh chở về tận nhà nghe, nếu sợ ba mẹ la thì anh chịu cho.

– Anh… cứng đầu quá.

– Câu này anh nghe quen à, mẹ anh cũng hay la anh như vậy đó.

– Chắc đúng là anh cứng đầu nên mẹ anh mới la.

– Không cứng đầu thì không là đàn ông con trai.

– Triết lý mới của anh đó hả?

– Không, cá tính này ai lại chẳng biết, cũng như không có tính hiền dịu thì không phải là đàn bà con gái.

Tôi cười im lặng chợt nhận ra chỉ còn một con đường ngắn nữa là đến ngõ quẹo vào nhà tôi thấy anh vẫn đạp băng băng, tôi giựt lưng áo anh:

– Anh Phú, ngừng ở đây được rồi.

– Tới nhà Mai chưa? Phú thắng gấp quay ra sau hỏi.

Cái thắng gấp làm tôi đụng đầu mình vào lưng anh. Tôi vội nói:

– Gần tới rồi, để Mai xuống đây, Mai đi bộ vô nhà được rồi.

Giọng Phú cương quyết:

– Không, để anh chở tới nhà cho.

Nói rồi anh đạp nhanh không kịp cho tôi chống chân đứng dậy. Tôi đành phải chỉ nhà cho anh, Tôi bực mình nói:

– Anh cứng đầu thiệt đó. Chút nữa nếu mẹ Mai có hỏi, anh phải nói anh là đoàn viên thanh niên của Chi đoàn trường cử anh chở Mai về nghe.

– Sao vậy, anh ghét làm đoàn viên thanh niên lắm.

– Giả bộ thôi mà, mẹ Mai nghe cái gì mà dính tới đoàn thể là mẹ sợ lắm, chấp nhận liền. Chứ không mẹ Mai tưởng Mai nói láo là đi lao động để đi chơi với anh.

Tôi nghe Phú chặc lưỡi:

– Rắc rối quá!

Khi xe anh đậu trước nhà, thì cũng là lúc mẹ tôi vừa xuất hiện ngay cửa, tôi hồi hộp khều anh nói nhỏ: mẹ Mai đó. Nhìn mẹ, tôi thật lúng túng chưa kịp mở lời thì Phú đã nhanh nhẹn nói một hơi:

– Dạ chào bác, con thay mặt cho chi đoàn trường trong ban công tác chở Mai về dùm, học sinh đông quá bác ơi, không đủ xe về một lúc, phải chia ra đi lẻ tẻ như vầy nên về hơi trễ.

Mẹ tôi cười vui vẻ trước sự ngạc nhiên tột cùng của tôi:

– À, ra thế, cám ơn anh đã chở em nó về dùm. Chắc anh mệt lắm mời anh vào nhà uống chén nước.

Phú đưa tay nhìn đồng hồ:

– Dạ thôi để dịp khác, trễ rồi con cũng phải về, sợ mẹ con đang đợi.

Mẹ tôi gật đầu nhìn anh đạp xe đi, tôi nói với mẹ:

– Con đói quá mẹ ơi!

Mẹ nắm tay tôi giọng xót xa:

– Vào nhà tắm rửa rồi ăn cơm, mới có một ngày dang nắng mà trông tả tơi thế kia!

Tôi thở phào nhẹ nhõm theo mẹ vào nhà, lòng vui vui, chưa bao giờ tôi thấy mẹ tôi lại dễ dãi như hôm nay.

o O o

Tôi lật qua trang kế tiếp, ngày, tháng, năm…

Ngọc Dung đến nhà chơi cho mình cái áo dài cũ của nó. Con nhỏ cứ y như là phóng viên, chỉ có một ngày đi lao động mà đã thu thập được bao nhiêu tin tức sốt dẻo…

– Ê, nhỏ, Dung có cái áo dài này mặc chật rồi chắc Mai mặc vừa đó, đem cho Mai nè, vô thử coi.

Tôi mừng rỡ cầm chiếc áo ngắm nghía và ướm lên người:

– Áo lụa trắng mịn đẹp quá há, chắc vừa đó khỏi thử, ngày mai đi học Mai mặc liền. Cám ơn bồ nhiều nghe.

Dung cúi xuống móc trong giỏ ra một bao giấy nói:

– À, có cái quần trắng cho Mai nữa nè, vậy là đủ bộ.

Tôi cảm động quá, từ nay tôi sẽ có thêm một cái áo dài nữa mặc thay đổi, không phải lo sợ những ngày mưa dầm phơi áo không khô phải mặc áo ướt đi học. Tôi cẩn thận xếp chiếc áo và chiếc quần vào gói giấy. Dung hỏi tôi:

– Ê, hôm đi lao động ai chở Mai về vậy?

– Cái ông Phú nào bên 12 B2 chở về dùm.

Dung lẩm nhẩm:

– Phú 12B2, phải cái ông có ria mép không?

Tôi gật đầu, Dung đập tay:

– Ông Phú lính cùng băng với lão Hạnh lớp mình đó.

– Ồ đúng rồi thấy ông Hạnh kêu ổng chở Mai về, ủa Dung cũng biết ông đó nữa hả?

Dung sửa gọng kính cận:

– Ai mà không biết nhóm ngũ quỷ của mấy ông lính đó.

– Vậy hả, sao Mai không biết, ngũ quỷ là những ai vậy?

Dung lắc đầu:

– Bởi vậy, lúc nào ngươi cũng khép mình trong cái vỏ sò kín đáo, không chịu đi cà kê đây đó như tụi mình không biết gì hết là phải. Nghe danh tánh nhóm ngũ quỷ nè: Hạnh, Vũ, Phú, Cường, Long.

– Mai mới biết có ông Phú hôm đi lao động về thôi. Còn mấy ông kia không biết học ban nào vậy?

– Mấy ông kia ban B hết có mỗi lão Hạnh nhà mình là ban C thôi, ê, mà cũng có mỗi mình ông Hạnh coi hiền nhất thôi nghe. Mấy ông kia “quậy” trời thần luôn đó.

Tôi trợn mắt ngạc nhiên: – Thiệt hả?

Dung gật đầu:

– Ờ, nè ông Cường cặp bồ với bà Yến lớp mình đó biết không?

Tin hấp dẫn làm tôi thêm tò mò về Yến, chị bạn có giọng ca cao vút, hơi the thé xé lỗ tai với bài “Cô Gái Vót Chông”. Tuy học chung lớp, Yến lại lớn tuổi hơn tôi và Dung, tôi hỏi:

– Vậy hả? Hai người cặp nhau lâu chưa sao Mai không biết?

– Chán nhà ngươi quá, chuyện cả phố ai cũng biết mà ngươi thì cứ như trên trời rớt xuống. Còn nữa để ta nói cho nghe, ông Vũ yêu bà Quế Mai bên 12 A1, ông Phú cũng yêu bà Mai luôn. Trời ơi hôm lao động, bà Mai ngồi như bà hoàng cho hai chàng phục dịch, nhìn cảnh đó thấy dzui thiệt là dzui.

Tôi biết Quế Mai, chị cũng bằng tuổi chị Yến lớp tôi. Quế Mai có mái tóc dài hơi quăn từng lọn, chị dong dỏng cao, có khuôn mặt vuông, làn da trắng hồng hào, đôi mắt to đen, lông mi dài nhìn rất quyến rũ. Tôi nghĩ nếu Phú đi gần chị Mai thì không xứng chút nào vì dáng anh không cao lắm.Tôi bồn chồn hỏi:

– Bà Mai thích ai vậy?

– Thích ông Vũ chứ ai, biết ông Vũ không, tướng cao ráo đô con. Nhà ổng lại khá giả nữa. Nghe nói hồi xưa ổng đi lính biệt kích đó.

Tôi hỏi lại:

– Lính biệt kích là lính gì?

Dung nhíu mày ra chiều suy nghĩ, rồi nói:

– Ừm…để coi, lính biệt kích là…là lính mặc đồ rằn ri đó, dữ tợn lắm, đi là chết, cảm tử quân mà.

Tôi tròn mắt thán phục:

– Vậy hả, oai hùng quá há!

Dung nói thêm:

– Cũng hên cho ổng chỉ là lính thôi, chứ ổng mà là sĩ quan chắc đi “học tập” lâu rồi. Nhà ngươi thấy ổng bự như kinh công không?

Tôi lắc đầu:

– Mai đâu có biết ông Vũ là ai đâu, nhà ngươi có tả mấy ta cũng không tưởng tượng ra được. Ờ, mà tội nghiệp ông Phú ôm mối tình si không có đoạn kết rồi. Vậy còn ông Hạnh nhà mình có ai chưa?

Dung nhấp nháy mắt cười cười:

– Sao chưa? Đang“tấn công” ngầm Thùy Dương nhà mình đó.

Tôi trợn mắt nhìn Dung thán phục:

– Vậy sao? Chà, phục nhà ngươi sát đất đó, biết nhiều chuyện tình hấp dẫn quá há, rồi Thùy Dương có biết không?

Dung nhướng mắt:

– Biết chứ sao không. Rồi nó diễn tả một cử chỉ e ấp kéo dài giọng ra: nhưng mà nàng có vẻ “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”

Tôi phì cười, nhớ đến khuôn mặt của Thùy Dương, cái đinh văn nghệ trong lớp, Thùy Dương có cái miệng cười rất tươi, nổi bật hai lúm đồng tiền sâu hoắm bên má còn lộ ra cái răng khểnh xinh xinh. Thùy Dương lớn hơn tôi hai tuổi, đa số các bạn trong lớp toàn học trễ cả, chỉ có Dung là học đúng tuổi, và tôi học sớm một năm. Tôi thường có thói quen gọi những người bạn học chung lớn tuổi hơn bằng anh hay chị, khác với Dung thì gọi bằng ông này, bà nọ…Tiếng Dung lại tiếp:

– Nhà ngươi biết không, cái hôm đi lao động lúc lội bùn để leo lên bờ, ai cũng phụ kéo nhau lên bằng tay, đặc biệt nàng Thùy Dương nhà mình thì được ông Hạnh bồng qua bờ nghen, tình tứ chưa.

Tôi mở to mắt hỏi lại:

– Thiệt hả? Trời ơi mắc cỡ chết, có ai thấy không?

Dung gật đầu:

– Không chỉ mình Dung thấy mà còn cả phố thấy luôn.

– Ờ mà mấy ổng cũng khôn quá há, lựa toàn mấy bà đẹp cặp bồ không à.

– Chứ sao, không nghe ông bà xưa nói hả: “Trai ham sắc” mà.

Câu chuyện của chúng tôi lẽ ra còn tiếp tục, nhưng hình như mẹ tôi đã nghe được cuộc đàm thoại giữa hai đứa chỉ là những chuyện nhảm nhí.Mẹ tôi lên tiếng cắt đứt câu chuyện:

– Mai, có học bài không hay là ngồi tán gẫu chuyện thiên hạ đấy.

Tôi và Dung nhìn nhau le lưỡi, Dung nói nhỏ:

– Thôi Dung về nghe, mai gặp ở trường.

– Ờ, thôi mai gặp nghe, cám ơn Dung nhiều há.

Tiễn Dung ra cửa, tôi quay vào thấy mẹ ngừng tay đan trách móc:

– Con gái lớn rồi chuyện trò chẳng ý tứ gì cả, trước mặt các em nhỏ chuyện học thì không bàn cứ ngồi bàn chuyện yêu đương vớ vẩn. Mày liệu hồn đấy, lo học hành chứ đừng có bắt chước đứa nào cặp bồ bịch sớm chẳng ra gì đâu!

Bị mắng, tôi thấy xấu hổ với các em, liền quay đi nơi khác, nói lảng:

– Mẹ ơi Dung mới cho con cái áo dài nè.

Mẹ lườm tôi không nói, tôi im lặng lầm lũi bỏ đi lên gác.

o O o

Trang ba, ngày…tháng…năm.

Sáng nay tôi đến trường với một tâm trạng buồn chán, đầu óc mệt mỏi vì sự giằng co về chuyện đi học và nghỉ học. Suốt đêm qua tôi không ngủ được trọn giấc, cứ trăn trở mãi, nghĩ đến chuyện học là tôi lại thấy chán vô cùng. Hai giờ lịch sử đầu dài như hai tháng, tôi ngồi che miệng ngáp liên tục, ngó qua Dung thấy nó cứ nhìn đồng hồ hoài. Thùy Dương ngồi cắn bút suy tư. Bài học về cuộc cách mạng ở Nga dường như không thu hút sự chú ý của một học sinh nào. Ai cũng mắt thì nhìn cô đấy mà hồn thì tận nơi nao…Giờ lịch sử rồi cũng trôi qua một cách nặng nề, lớp tôi được thông báo nghỉ hai giờ hoá học kế tiếp, thầy dạy Hoá bị ốm. Tôi vừa mừng, vừa buồn, nghỉ giờ hoá khoẻ cái đầu một chút nhưng lại chẳng biết làm gì.Tôi không muốn về nhà để nhìn cảnh em tôi khóc mếu vì đói. Đi cà kê với bọn Dung, Nga, Hảo trong lớp thì tôi lại không có tiền. Tôi đang thơ thẩn ở hành lang, gặp Dung và Hảo tiến tới, Hảo hỏi:

– Ê! mới may áo dài mới hả, mặc đẹp đó.

Tôi nhìn Dung chờ nó trả lời hộ, nhưng nó im lặng quay đi nơi khác, tôi nói:

– Đâu có, áo này Dung cho Mai đó, tiền đâu mà may áo dài mới.

Hảo lại gần tôi ngắm nghía:

– Vậy hả, mi mặc áo này đẹp nè, eo co nhìn hấp dẫn ghê,

Tôi xí nhỏ, Hảo quay qua Dung tiếp:

– Nhỏ Mai này nó chưa “phì” ra như tụi mình há nên mặc áo này còn đẹp.

Dung nhăn nhó:

– Thôi đừng nhắc đến chữ “phì” nữa, ta đang đau khổ vì nó đây nè, nhìn lại mấy cái áo dài cũ thấy tiếc thời mi nhon quá.

Hảo cười méo mó:

– Sao phải tiếc, lúc tụi mình ăn hàng thì nhà ngươi có nghĩ đến thời mi nhon không? Hàng ăn nào ngươi cũng kêu ta thử, đi theo nhà ngươi riết rồi bây giờ ta cũng phì nhiêu không kém.

– Ngươi làm như ngươi hiền lắm, cũng rủ ta ăn thứ độc không à, thôi hôm nay ta không đi với nhà ngươi nữa ta phải về nhà dì ta.

– Làm chi?

Dung chu mỏ:

– Phụ dì ta nấu đám giỗ được không?

Hảo phì cười:

– Lại có mục ăn uống lớn. Vậy thôi hôm nay ta về một mình.

Quay sang tôi, Hảo hỏi:

– Mi về chưa Mai?

Tôi lắc đầu nói:

– Về trước đi chút nữa Mai mới về.

Hảo bước đi sau khi vỗ nhẹ vai tôi một cái:

– Ta ước sao ta được ốm như mi hoài.

Tôi chán ngán nói vói theo:

– Ta bị ốm đói đó, có gì mà phải ước với ao.

Tôi nghe tiếng guốc của Hảo xa dần phía sau, nhẹ bước đến cuối dãy hành lang tôi tìm một góc vắng đứng tì vào lan can bâng quơ nhìn xuống đường. Mặt trời đang chiếu những tia nắng mỏng trên hàng cây cao, xuyên qua tán lá xanh chiếu xuống mặt đường một khoảng nắng rộng. Nhìn ánh nắng, tôi chợt nhớ đến những ngày trước, khi gia đình tôi còn ở Đà Lạt, hôm nào mà trời mưa bão, lạnh lẽo, thì chút mảng nắng ấm như thế này thật là quí giá. Tôi nhớ mỗi ngày tôi đi bộ từ trường về nhà trên con dốc dài dẫn về vùng Chi Lăng, gồ ghề sỏi đá dưới chân guốc lạo xạo. Có một lần cha tôi chở tôi đi học bằng xe Vespa riêng của cha. Hôm đó lại là ngày đầu tiên tôi được mặc áo dài. Tôi lúng túng với tư thế ngồi một bên, (năm ấy tôi vừa lên lớp mười). Cha tôi phóng xe trên con đường lởm chởm những đá cục to xanh, chẳng may khi cha tôi chạy qua một cái ổ gà, tôi bị ngã văng ra khỏi xe mà cha tôi không biết. Tôi lồm cồm ngồi dậy cố chạy theo sau chiếc xe của cha gọi to:

“Bố, bố ơi, bố ơi, con bị té rồi”

Cha tôi vẫn không nghe tiếng tôi gọi, tôi cứ gào trong thất vọng, rồi đành lội bộ đi tiếp đến trường.Tôi đi được một quãng khá xa thì thấy cha tôi vòng xe lại. Tôi mừng rỡ gọi cha rối rít, cha tôi hỏi:

“Ơ hay, sao ngã mà không gọi bố?”

“Con gọi mà bố không nghe”

“Thế à, mày có bị đau không?”

Tôi lắc đầu, cha bảo tôi lên xe, ngồi vịn cho chắc. Từ lúc đó, lâu lâu cha tôi lại đưa tay ra phía sau để nắm lấy tay tôi như kiểm soát xem tôi hãy còn ngồi đó hay đã bị té. Nghĩ đến đây, tôi thấy nhớ cha tôi vô cùng. Tôi hối hận đã thờ ơ trước giờ ra đi của cha bởi cứ tưởng cha tôi sẽ trở về sau một tháng trình diện như lệnh nhà nước đã ban hành. Cho đến bây giờ là tháng thứ tám rồi cả nhà vẫn không có tin tức gì của cha. Tôi ứa nước mắt lo lắng cho những ngày dài tiếp nối khi sự vắng mặt của cha tôi trong gia đình sẽ lâu hơn tôi tưởng. Tôi cầu mong cho cha tôi sớm được trở về với chúng tôi…

– Sao Mai đứng đây có một mình vậy? Không có giờ học hả?

Tiếng hỏi làm tôi giật mình quay lại, quên cả chùi nước mắt, tôi ngạc nhiên nhận ra Phú. Vội vàng đưa tay chậm mắt. Tôi nghe giọng Phú lo lắng hỏi:

– Ủa, có chuyện gì mà Mai khóc vậy?

Tôi bặm môi quay đi không nói, Phú hỏi dồn dập:

– Sao vậy, có chuyện gì, nói anh nghe được không?

Tự nhiên tôi thấy tủi thân và nước mắt lại trào ra nhiều hơn. Tôi tự trách mình: vô lý quá, tại sao phải khóc? Tôi sụt sịt một lúc định kéo vạt áo dài sau lên lau nước mắt, thì Phú đã nhanh tay đưa cho tôi chiếc khăn của anh. Tôi xấu hổ, ngập ngừng cầm lấy, nghĩ mình là con gái mà tệ thật, không bao giờ có được chiếc khăn tay trong người, phải xài khăn của người khác. Không biết khăn của anh sạch hay dơ nữa. Tôi lau qua loa nước mắt rồi nói:

– Để Mai đem khăn này về nhà giặt rồi ngày mai trả lại cho anh nhe.

Phú lắc đầu:

– Không sao đâu, nước mắt ướt chút xíu có dơ gì đâu mà phải giặt. Em buồn chuyện gì vậy?

Vừa hỏi, anh vừa cúi xuống vén một bên tóc tôi lên. Tôi nhìn anh, vô tình chạm phải ánh mắt tha thiết của anh gần sát, tôi quay đi nơi khác:

– Mai nhớ ba Mai thôi, không biết giờ ba đang ở đâu?

– Bộ ba Mai đi “học tập” hả?

Tôi gật đầu, nghe tiếng thở dài cùng tiếng anh hỏi:

– Nhà Mai có đông anh em không?

– Đông lắm anh à, Mai là con gái lớn sau Mai còn tám đứa em nữa.

– Trời ơi đông quá há… Rồi anh dịu giọng: Thôi mình đi chơi đâu nhe, ở đây mà hỏi chuyện gia đình Mai một hồi chắc Mai lại khóc nữa.

Tôi tròn mắt hỏi lại:

– Đi chơi?

– Ừ anh chở em ra Tao Đàn ngồi chơi, thổi kèn cho em nghe, chịu không? Đứng đây hoài, ông giám thị ra hỏi tội mệt lắm. Đi!

Tôi lắc đầu:

– Thôi, mình đi chung kỳ lắm lỡ ai thấy được lại đồn ầm lên.

– Đồn cái gì? Mình là bạn học sinh với nhau mà.

– Thôi Mai không đi đâu, Mai phải về bây giờ.

Phú năn nỉ:

– Đi đi mà, tí nữa anh chở Mai về. Anh cũng đang buồn muốn đi đâu đó một chút cho khuây khoả. Đi. Anh năn nỉ đó.

Tôi tò mò hỏi:

– Anh thổi kèn gì vậy?

Phú móc trong túi áo ra một cây harmonica nhỏ đưa cho tôi xem:

– Kèn này nè. Đi xuống dưới cổng trường chờ anh, anh lấy xe rồi ra ngay nhe.

Tôi gật đầu rồi đi nhanh xuống cầu thang, gặp Thùy Dương và Hạnh đang đi song đôi phía trước, tôi bỗng thâý vui cho hạnh phúc của hai người thương nhau được trọn vẹn, rồi chợt tội nghiệp Phú với một mối tình câm không nói được. Tôi cố đi chậm lại từng bước để không vượt qua mặt Thùy Dương và Hạnh, đến khi họ khuất dạng sau cửa nhà để xe. Tôi dáo dác nhìn chung quanh tìm Phú, thấy anh đứng gác chân trên chiếc xe đạp trước cửa trường. Tôi đi tới phía anh, cố tránh đôi mắt anh đang hướng thẳng vào tôi một cách lạ lùng. Đến gần, tôi nghe Phú nói:

– Hôm nay em mặc áo dài này coi dễ thương quá!

Tôi mắc cỡ ngập ngừng:

– Anh …cũng…để ý quá há, Mai thấy có gì khác đâu, áo dài nào cũng giống nhau mà.

– Khác chứ, ngày nào em cũng mặc cái áo dài rộng thùng thình, không thấy rõ được “forme”của em. Chiếc áo hôm nay vừa vặn với người em, anh thấy rất thon gọn, đẹp.

Tôi kéo vạt áo ngồi lên xe. Lần thứ hai tôi lại ngồi sau yên xe với Phú, một cảm giác ấm áp tự nhiên lan toả trong lòng.Tôi nghe tiếng huýt gió của anh. Nắng đổ dài theo chiếc xe in bóng hai chúng tôi trên mặt đường khô mùi nhựa…

o O o

Vườn Tao Đàn rợp bóng mát với những hàng cây cao rậm lá xanh, Phú xuống xe dắt bộ, tôi thong thả bước theo anh. Dáng anh không cao lắm, nhưng sao đi cạnh anh tôi thấy anh cao hơn tôi nhiều thế, gần cả một cái đầu. À, tôi quên rằng, tôi thuộc loại lùn mà. Anh chọn cái ghế băng gần một cây xanh to lớn, chống xe rồi bảo tôi ngồi xuống. Anh móc túi lấy một điếu thuốc và hộp diêm quẹt ra khum tay đốt. Vẩy vẩy cái diêm trên tay anh nói:

– Chờ anh hút thuốc chút đã.

Tôi gật đầu im lặng nhìn lên vòm cây cao trước mặt, những con chim sẻ gọi nhau rúc rích trong lá nghe thật vui tai. Chắc trong tán lá xanh dầy kia phải có cả một gia đình chim cư ngụ trên ấy. Những con chim sẻ nhỏ bé gợi lại cho tôi thời thơ ấu, tôi hay đi theo em trai tôi để xem nó bẫy chim sẻ về nuôi. Em trai tôi chơi bắn ná rất giỏi. Một ngày nọ, nó bắn trúng một tổ chim rớt từ trên cây thông xuống. Trong tổ có bốn con chim non vừa mở mắt, chị em tôi thích thú nâng niu, không thiết ăn cơm, cứ ngồi cả ngày nhìn mãi những con chim bé bỏng há miệng chờ mẹ về mớm mồi. Cho đến khi mẹ tôi tìm thấy được chúng tôi đang quấn quít bên tổ chim thì mẹ đã hốt hoảng sợ rằng hai đứa tôi sẽ làm chết mất bầy chim non. Mẹ bảo em trai tôi phải leo lên cây để lại tổ chim vào chỗ cũ. Chúng tôi tiếc nuối hỏi mẹ: Tại sao? Mẹ tôi bảo, nếu chim mẹ về mà không thấy chim con đâu, mẹ nó sẽ buồn mà chết mất. Tội lắm. Hơn nữa, mấy con chim này còn bé quá, cần phải có mẹ chăm sóc, trả chúng lại cho chim mẹ đi. Em trai tôi đành phải leo lên cây, đặt tổ chim vào chỗ nhánh cây thấp nhất, để nó có thể ra thăm chừng tổ chim ấy mỗi ngày…

– Mai nghĩ gì thế?

Tiếng Phú hỏi đã cắt đứt sự tưởng nhớ của tôi. Tôi chưa kịp nói gì thì anh đã tiếp:

– Lại mơ mộng phải không? Anh ước gì lúc này anh có cái máy hình, anh sẽ chụp em đó.

– Chụp Mai chi vậy?

– Để triễn lãm tranh nhiếp ảnh về bức hình mộng mơ.

Tôi ngượng ngùng hỏi:

– Bộ mặt Mai ngó mắc cười lắm hả?

Phú rít một hơi thuốc, rồi ngửa mặt lên thả khói, anh cười trong khói thuốc:

– Ừ mắc cười lắm, nhưng mà anh bảo đảm nếu anh biết vẽ thì đây là một bức hình có hồn ghê gớm.

Nói xong Phú quay ra sau quăng tàn thuốc vào gốc cây, ngồi xuống cạnh tôi, anh bất chợt đưa tay xoay mặt tôi gần lại phía anh. Tôi ngượng ngùng nghiêng đầu hất tay anh ra, nhưng anh đã nhanh nhẹn chụp lấy cổ tay tôi nói:

– Làm gì như muốn đánh anh vậy hả? Nhìn anh nè, để anh nói cho nghe.

Tôi cố lắc đầu, ngoảnh đi nơi khác, giận dỗi nói:

– Không, không nhìn, anh kỳ quá, Mai muốn đi về bây giờ.

– Ai chở em về mà về

– Mai đi bộ về, Mai đã từng đi bộ mà.

Nói rồi tôi đứng lên bước đi, Phú kéo tay tôi gọi to:

– Quỳnh Mai… đừng về, anh xin lỗi mà.

Nghe anh gọi, tôi khựng người lại ngớ ngẩn hỏi:

– Sao anh biết tên lót của Mai vậy?

Phú cười hạ giọng:

– Em không nhớ anh là bạn của trưởng lớp Hạnh sao? Cô nào trong lớp 12C1 mà anh lại không biết.

Vừa nói Phú vừa móc cây kèn ra, anh đưa lên miệng nhấp qua nhấp lại mấy cái. Rồi nhìn tôi, anh dịu dàng nói:

– Ngồi đi, anh thổi kèn em nghe cho vui.

Đôi mắt tha thiết lại biết năn nỉ của anh đã làm tôi phải quay lại. Anh đưa cây kèn qua lại trên môi vài lần rồi bắt đầu thổi bài: “Bao Giờ Biết Tương Tư”. Âm thanh của tiếng kèn sao êm ái và du dương quá. Những nốt nhạc lên bổng xuống trầm dưới hai bàn tay điều khiển của anh như cũng biết nói lên hết cả nỗi lòng của người đang yêu. Tôi nhìn anh say sưa với chiếc kèn, mắt anh lim dim, bàn tay phải che chiếc kèn vẫy liên tục, nhịp nhàng. Xong bài “Bao Giờ Biết Tương Tư”, (1) anh thổi sang bài “Ngăn Cách”(2) rồi bài: “Trên Đỉnh Mùa Đông”(3) Tiếng kèn rót vào tai tôi những giai điệu mượt mà, thánh thót như trôi trên một giòng nước mát và hoà trong gió nhẹ đưa tâm hồn mình lâng lâng. Phú ngưng thổi một lúc, hỏi tôi:

– Em có muốn anh thổi bài gì không?

Tôi ngẫm nghĩ:

– Anh thổi bài “Tuổi Ngọc” của Phạm Duy đi

Anh bặm môi:

– “Tuổi Ngọc hả”, để coi anh có nhớ nốt nhạc không. Hay em hát thử một vài câu đầu để anh nghe giai điệu rồi anh theo.

Nghe anh nói tôi hát thử, tôi suy nghĩ một chút, hát ư! tôi thích hát lắm, đã mấy tháng nay từ ngày “ Giải Phóng “ vô tới giờ tôi chưa có dịp nào hát lại những bài hát tôi ưa thích. Tôi nói:

– Mai hát vài câu đầu nếu anh bắt được nhịp điệu thì anh thổi theo liền nghe, chứ hát không nghe nó trơ lắm.

Phú gật đầu:

– Ừ hát đi.

Tôi chợt thấy hồi hộp một chút, run run hát khẽ:

– Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mùa xuân đến rồi…

Phú ngắt ngang:

– Hát lớn lên chút nữa, hát nhỏ quá, anh không nghe ra giai điệu.

Tôi cố lấy tự nhiên nhịp chân cất cao giọng hát:

– Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mùa xuân đến rồi, mặc vào người rồi ra, ngồi lạy chào mẹ cha hàng lụa là thơm dáng tiểu thơ, xin cho em một chiếc áo màu, cho em đi nhẹ trong nắng chiều trên phố, một chiều nhiều người theo ở ngoài đường trên phố và lòng người như áo phất phơ. Xin cho em một chiếc áo như mây hồng…

Tôi nghe tiếng harmonica của Phú đã đệm theo tiếng hát của tôi làm tôi thêm phấn chấn hát hăng say hơn. Theo từng lời hát, tôi tưởng tượng ra mình trong chiếc áo dài lụa tím nhạt, đang tung tăng trên một cánh đồng hoa đủ màu sắc. Tôi nghiêng mình bên phải ngắt nhẹ một đoá hồng đỏ, nghiêng mình bên trái nâng niu những nụ cúc vàng. Nhảy chân sáo lên phía trước tôi hái một nhành huệ trắng muốt. Có vài cánh bướm bay cạnh bên tôi vờn trên ngàn hoa tươi thắm. Tiếng harmonica dìu dặt lướt qua những cánh hoa đang lả lơi đùa với gió…Rồi tôi lại thấy tôi đạp xe đạp trên con đường quen thuộc từ trường về nhà, gió thổi tóc tôi bay bay, lòng tôi vui theo gió mát, thấy cuộc đời học sinh mình sao thật ềm đềm, thanh thản…

– Em hát hay quá, giọng rất là trong sáng. Nếu hôm nay không rủ em ra đây thì anh sẽ không bao giờ biết đến giọng ca của Quỳnh Mai.

– Thôi, nhạo báng Mai hoài.

– Anh nói thiệt mà, ờ sao em không vào ban văn nghệ, anh thấy Thùy Dương và Ngọc Yến lớp em hát đâu có hay đâu mà lúc nào hai cô ấy cũng lên đơn ca.

Tôi gật đầu:

– Mai có tham gia văn nghệ mà, nhưng Mai chỉ hát hợp ca thôi.

– Anh sẽ nói cho Hạnh biết về giọng ca của em

Tôi lắc đầu xua tay:

– Thôi, thôi, không cần đâu anh à, Mai nhát lắm không dám lên hát trước đám đông đâu. À, mấy giờ rồi anh?

Phú nhìn đồng hồ:

– Muời hai giờ!

Tôi giật mình, vội đứng lên:

– Thôi mình về đi anh, trưa rồi.

Phú tiếc nuối:

– Em muốn về bây giờ sao? Anh thiệt chưa muốn về tí nào.

– Anh chưa muốn về thì Mai về trước nhe.

Phú đứng lên:

– Thôi được để anh chở em về.

Tôi dặn dò:

– Lần này thì anh phải thả Mai ở đầu ngõ đó nhe.

Phú lắc đầu hỏi:

– Sao cứ thích đi bộ từ đầu ngõ về?

– Tại lần này không phải đi lao động về, mà là đi học về.

Phú ghé sát vào tai tôi:

– Hôm nào có giờ nghỉ mình ra đây chơi nữa nhe, anh thích nghe em hát rồi đó.

Tôi cười vui gật đầu:

– Em cũng thích nghe anh thổi kèn nữa.

– Nhớ lần tới có dịp ra chơi với anh nữa nghe.

Tôi lại gật đầu rồi vén áo ngồi lên yên xe sau với Phú, anh thong thả đạp xe đi, tôi nghe tiếng anh huýt sáo bài “Tuổi Ngọc”. Chắc anh đang vui lắm, tôi cũng thế, âm nhạc làm lòng tôi dịu đi những nỗi buồn lo trong thực tại, dù chỉ là vài phút.

o O o

Tôi tiếp tục lật qua trang kế. Ngày ..tháng ..năm

Học sinh chúng tôi vừa trải qua kỳ thi học kỳ 1 (đệ nhất lục cá nguyệt), ai cũng như trút được một nửa gánh nặng bài vở khô khan, thâý đã nhẹ người và khoan khoái tâm hồn. Phong trào thi đua văn nghệ lại được “chi đoàn thanh niên” trong trường phát động lên rầm rộ để mừng ngày thành lập “đảng 3 tháng 2”. Thầy cô phải hội họp liên miên. Học sinh các ban bệ được nghỉ những tiết (giờ) học phụ để tập dợt văn nghệ. Tôi có dịp gặp Phú thường xuyên hơn chỉ một mục đích là được nghe anh thổi kèn đệm cho tôi hát bởi tôi rất thích hát. Càng ngày tôi càng hát tự nhiên và chọn nhiều bài tôi thích như: “Tuổi Hồng”(4), “Tuổi Thần Tiên”(5), “Tuổi Biết buồn” (6), “Em Lễ Chùa Này”(7), “Những Ngày Xưa Thân Ái” (8),”Đốt Lá Trên Sân” (9)… Trong những bài tôi hát cho Phú nghe, anh thích nhất là bài “Đốt Lá Trên Sân”, lúc nào anh cũng bảo tôi hát đi, hát lại bài đó nhiều lần. Ca hát đã kéo chúng tôi đến gần nhau hơn, thân thiết hơn. Dù vậy, với tôi vẫn không có một ý nghĩ nào đi xa hơn tình bạn, tôi xem anh như một người bạn lớn (hơn tôi đến 6 tuổi ) trong trò chơi ca hát, như người anh đã đem đến cho tôi niềm vui chốc lát. Và tôi nghĩ, tôi cũng mang tiếng hát của mình để an ủi anh trong những lúc anh buồn nhớ chị Quế Mai. Tất cả điều tôi hiểu đó rất là đơn giản cho một tình bạn trong sáng vô tư, nếu không có những tin đồn từ phía anh.

Một ngày nọ, tôi nhận được lá thư của anh gửi qua nhà “săn tin” Ngọc Dung, với tâm trạng sợ hãi, ngượng ngùng và cả nghi ngờ. Tôi biết chuyện này rồi thế nào cũng sẽ bùng lên như ngọn lửa từ cái miệng của Dung. Tôi sợ những thêu dệt sẽ gây nên sóng gió cho cuộc đời học sinh của tôi vốn đang êm ả. Rồi tôi sẽ bị đem ra làm đề tài cho mọi người cười chê, chọc ghẹo rằng một người con gái bình thường, nhỏ thó, xấu xí, gầy guộc, kém ăn nói như tôi lại dám có bồ, mà bồ với một anh chàng lém lỉnh, ăn nói giảo hoạt như Phú. Phú đã từng bị “đồn” là “nạn nhân ái tình” của Quế Mai, có lẽ nào bây giờ lại đến lượt tôi? Tuy nghi ngờ, tôi vẫn mở thư anh ra xem để biết anh viết gì trong đó. Lá thư không phải là một thư tỏ tình, anh chỉ chép cho tôi một đoạn ngắn trong bài “Đốt Lá Trên Sân” trên một trang giấy học trò xếp đôi, được anh dán rất khéo phía sau một tờ bìa cứng màu xanh nhạt. Nét chữ anh viết như vẽ, hơi cẩu thả mà nhìn rất hay:

“Bé có biết không khói mờ sắc huệ,
Khói trắng khơi lên kỷ niệm êm nhẹ
Ngày nào xa xôi cũng nhỏ như bé
Ngày còn mẹ cha, những chiều đốt lá
Khói nhắc cho anh những ngày vui khoẻ
Bóng dáng quê hương những chàng trai trẻ
Hình ảnh quay tơ, cánh đồng thơm lúa
Nhạc hành quân xa trên nẻo đường xa…

Ghi lại những lời hát này cho em là lúc anh đang nhớ giọng hát của em da diết. Anh cứ mơ rằng sẽ có em bên cạnh để hát cho anh nghe hoài.

Mến em rất nhiều
Phú”

Đọc xong lá thư, thấy Dung vẫn còn đứng đó, tôi biết Dung cũng rất tò mò muốn xem. Đến gần nó tôi chìa lá thư nói:

– Nè, coi đi, ổng có viết gì đặc biệt đâu, mai mốt nhà ngươi đừng có phóng tin sai lạc đi đâu hết nhe.

Dung cầm lá thư liếc qua, rồi nó nhăn mặt nói:

– Sao nhà ngươi khờ quá, đây là bước đầu của màn bày tỏ tình cảm. Thấy chữ mến em không?

Tôi xí nhỏ:

– Mến em là bình thường, khi nào viết yêu em mới là mệt. Ông ấy đang yêu bà Quế Mai mà.

Dung bỗng xua tay lia lịa nói:

– Ấy chết! Không, không, không phải đâu, hồi đó ta cũng tưởng như vậy mà không phải. Quế Mai là bà con với ổng.

Tôi ngạc nhiên:

– Trời đất, người ta là bà con mà ai đồn kỳ cục vậy?

Dung ngập ngừng nói:

– Ờ… thì… thấy ổng hay đi với bà Quế Mai đó, nên… họ …đồn ra vậy đó mà.

Tôi lườm Dung:

– Người ta đồn hay là nhà ngươi đồn, lời đồn độc địa thiệt đó.

Dung cãi:

– Ta không có đồn, ta nói theo tin đồn thôi mà chính ổng cũng biết người ta đồn nên ổng mới đi đính chính đó.

Tôi im lặng, Dung đưa tay đẩy gọng kính cận lên rồi nói lảng sang chuyện khác:

– Ê! Ổng tâm sự với ông Hạnh nhà mình về nhà ngươi nhiều lắm nghe.

– Sao Dung biết?

– Thùy Dương nói cho tụi mình nghe chứ ai.

Tôi lắc đầu:

– Mai không tin chuyện nhảm đâu. Thôi bỏ đi. Mẹ ta mà biết được chuyện bồ bịch là ta bị bà thuyết giảng 5 ngày 3 đêm đầy nước mắt đó biết chưa?

Nói rồi tôi bỏ đi. Chính tôi cũng đang bị hồi hộp, lo âu về chuyện giữa tôi và Phú, cái tật mê hát của tôi khi ở bên anh không thanh minh được cho sự đi chung một đường với Phú gần đây. Tôi cảm thấy mình thật có lỗi. Tôi chỉ vừa mườl sáu tuổi, tháng năm tới đây, tôi mới tròn mười bảy, mẹ tôi sẽ phải làm đơn xin miễn tuổi cho tôi được thi tốt nghiệp lớp 12. Ở tuổi này cùng với hoàn cảnh sống khó khăn của gia đình tôi hiện tại. Tôi không được phép nghĩ đến điều gì khác ngoài chuyện học hành bây giờ, và mơ ước một việc làm trong tương lai để phụ giúp mẹ tôi nuôi các em. Tôi luôn mong mọi sư vẫn êm đềm trôi mau cho đến ngày tôi học xong bậc trung học. Rồi… bỗng dưng khi tôi nhận lá thư thứ hai của Phú, tôi bắt đầu bị run. Lần này anh chép cho tôi một bài thơ ngắn, vẫn trên tờ giấy học trò xếp đôi dán phía sau tờ bìa cứng màu xanh nhạt.

“Quỳnh Mai thương mến

Dạo này sao anh khó ngủ, đêm nào cũng trằn trọc nghĩ đến em, lấy harmonica ra thổi lại nhớ tiếng hát em ghê gớm. Không biết làm sao để giũ bỏ hình em ra khỏi đầu anh, liền ngồi dậy chép cho em bài thơ này, anh đọc ở đâu đó, không nhớ rõ.

Nếu là nắng, tôi sẽ là nắng Mai
Nếu là hoa, tôi sẽ là hoa Mai
Nếu là sương, tôi sẽ là sương Mai
Nếu là sao, tôi sẽ là sao Mai
Nếu là ngày, tôi sẽ là ngày Mai **

Em đã đem đến cho anh chút nắng mai ấm áp đầu ngày, và một niềm vui nhỏ mỗi khi anh nghĩ đến những gì mình sẽ làm cho ngày mai.

Nhớ em rất nhiều
Phú.”

Tôi run tay xếp lá thư lại, những giòng chữ của anh như có sức hút vô hình thúc giục tôi lại mở nó ra đọc, rồi xếp vào, lại mở ra, không biết bao nhiêu lần. Tôi biết mình đang bị luống cuống trong cảm giác xao xuyến lẫn xúc động. Tôi nhận ra sự yếu đuối của lòng mình, tôi bỗng thấy sợ đôi mắt tha thiết của anh, sợ nghe tiếng kèn harmonica quyến rũ, sợ cả những lần ngồi hát bên anh, sợ nhận những lá thư kế tiếp, sợ lời đồn đãi… Không, tôi phải vất bỏ ngay cái sở thích ca hát điên khùng của tôi để trở về những tháng ngày vô tư bên sách vở…Tôi tránh né những lần gặp anh, giờ nghỉ các tiết học phụ, tôi từ chối các buổi tập dợt văn nghệ để nhanh chân đi bộ về nhà. Tôi không còn đứng nơi cái góc vắng ở cuối hành lang những giờ ra chơi để nhìn xuống hàng cây xanh hai bên đường. Chỉ vì tôi sợ Phú sẽ đến chỗ đó tìm tôi…Rồi thì, lá thư thứ ba được chuyển đến, lại khuấy động tâm hồn tôi một rung cảm.

“Quỳnh Mai thương mến

Không được đi chung với em và nghe em hát mấy hôm nay buồn quá! Đêm nay lại bị mất ngủ vì em. Anh thơ thẩn ra ngoài hiên hút thuốc, nhìn lên bầu trời tối đen có vài ánh sao thưa mờ nhạt. Anh cố tìm trong những ánh sao ấy một ngôi sao nhỏ bé, tên là sao mai, để anh ước rằng, với sự màu nhiệm nào đó sao mai sẽ hiện ra là em ngồi đây với anh. Chúng mình sẽ cùng ngắm sao và tự đặt tên cho những ngôi sao mình yêu thích, rồi em sẽ hát cho anh nghe bài: “Bài Ca Sao” thật ngọt ngào…

Sao hôm nay anh nhớ em nhiều đến thế, nhớ khuôn mặt xương xương, đôi mắt luôn mở to với cái nhìn trong sáng. Nhớ đôi má hồng và cử chỉ rụt rè mỗi khi em e thẹn. Rõ ràng em chẳng đẹp tí nào, mà sao nhìn em một lần rồi cứ thích nhìn em mãi, để khám phá ra một điều là em quá dễ thương. Dễ thương như những đoạn thơ rời này anh vừa tìm được, chép liền cho em:

Có đi qua xin em đừng đánh phấn
Tóc buông rèm lứa tuổi thích ô mai
Mắt vương tơ trong những phút học bài
Tay khéo léo khi đánh chuyền với bạn
(Hoàng Anh Tuấn)

. Khi mới lớn tuổi mười lăm mười bảy
Làm học trò mắt sáng với môi tươi
Ta bước lên chân vẫn dạo bên người
Ngoài cặp sách trần ai xem cũng nhẹ
Đời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé
Phố phường vui cuộc sống mới lên hoa
Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa
Hồn lơ đãng mộng ra ngoài cửa lớp
Nắng thuở đó làm lòng ta hồi hộp…
Đinh Hùng (trích Khi Mới Lớn)

:
Tôi trót yêu em giữa lặng thầm
Bao giờ chưa ngỏ mối tình câm
Mai kia nếu chết xin thành bướm
Chao cánh bên người suốt tháng năm
(1)

Em cứ luẩn quẩn trong đầu anh cho anh sự nghĩ suy, nhung nhớ, em thấp thoáng trong tim anh cho anh nỗi bồi hồi theo từng nhịp đập của trái tim …

Nhớ em rất nhiều
Phú”

Càng đọc thư anh tôi càng thêm khổ sở, dằn vặt giữa sự trốn tránh và nôn nao. Tôi không biết phải làm sao. Thực sự đôi lúc tôi cũng thấy nhớ tiếng kèn harmonica của anh, nhớ những lần tôi ngồi bên anh hát say sưa. Tiếng hát tiếng kèn hoà lẫn vào nhau bay trong hơi gió cho tôi những mơ ước, những tưởng tượng về mọi thứ đẹp đẽ trên cõi đời mà trong cuộc sống thực không bao giờ có được. Lá thư thứ tư lại tiếp tục chuyển đến, nhưng lần này tôi không dám mở ra xem. Tôi sợ mình không đủ cứng rắn giữ cho lòng được bình thản khi đọc những lời nồng ấm của Phú trao gửi. Nỗi lo sợ còn đang ray rứt thì sau đó, thêm vài lá thư nữa, lá thư thứ năm, thứ sáu, thứ bảy gửi đến tới tấp. Tôi vẫn nhất định không mở một lá nào ra đọc. Dự định sẽ tìm Dung nhờ trả lại cho Phú, tôi biết làm như thế Phú sẽ rất buồn, thà vậy còn hơn là cứ để đầu óc bị chi phối chuyện tình cảm này, thì tôi sẽ khó lòng thi đậu. Tôi không muốn làm mẹ tôi thất vọng nếu như chuyện học hành của tôi không đến nơi đến chốn.

o O o

Ngày ..tháng ..năm

Đã ba hôm nay Dung không đi học, nghe nói nó bị ốm, tôi không biết nhờ ai để trả lại thư cho Phú, tôi giữ đến cái thư thứ chín rồi trừ đi 3 cái đầu tôi đã mở ra đọc thì còn lại 6 cái vẫn y nguyên trong bao thư. Thư đầy cặp táp, tôi chỉ sợ một ngày nào mẹ tôi bắt được những lá thư này, tôi sẽ không biết ăn nói làm sao với mẹ. Sáng nay được nghỉ hai giờ đầu Anh Văn, tôi đi lang thang ra hành lang phía sau cửa lớp. Chỗ này rất vắng vẻ, tẻ nhạt, vì đứng trên lầu nhìn xuống chỉ thấy cái mái tôn nhà để xe đầy bụi với những nhánh cây khô rơi đầy trên mái. Tôi chợt nghe tiếng harmonica vẳng lại từ đâu đó giai điệu của bài “Tuổi Biết Buồn”. Đúng rồi, tiếng kèn của Phú, sao nghe buồn quá! Âm thanh nỉ non như lời than muôn thuở của mưa trên hàng cây xanh ướt lá, trong những chiều mây đen kéo về u ám. Tôi muốn bỏ đi vào lớp để không còn nghe tiếng kèn đầy sức thu hút ma lực đó nữa. Đầu tôi nói thôi đi, mà chân tôi vẫn không chịu bước, lòng tôi chùng xuống theo nốt nhạc, hình ảnh những ngày ngồi hát bên anh lại thấp thoáng, dư âm một nỗi buồn nào đó thật xa vắng… Tôi cất tiếng hát khe khẽ:

– Buồn đã tới rồi, một chiều tím trên sông, làm cho úa vàng từng mộng ước phai hồng. Ôi những chú nai tơ công chúa rừng già, nơi thiên đường xa cửa đã khép ngăn em về…

Đột nhiên tiếng kèn im bặt. Có tiếng nói chuyện lào xào vọng lên từ nhà xe phía dưới, tôi chắc Phú đang nói chuyện với ai đó. Tôi quay vào trong lớp thì thấy Hạnh đang ngồi một mình với đống giấy tờ trên bàn. Không thấy ai chung quanh, tôi nghĩ ra một điều, à chắc nhờ anh chàng Hạnh này được đây, chứ chờ Dung thì lâu quá. Tôi tiến đến gần Hạnh hỏi:

– Anh Hạnh đang làm gì đó?

Hạnh ngẩng lên:

– Làm mấy cái báo cáo cho chi đoàn.

Tôi ngập ngừng hỏi:

– Em… muốn… nhờ anh một chuyện được không?

Hạnh cúi xuống xấp giấy tờ hỏi lại:

– Chuyện gì?

Tôi ngại ngùng vân vê cái quai cặp một lúc, rồi nói:

– Ừm … ừm, em …muốn … nhờ anh trả lại cho anh Phú dùm em mấy cái thư.

Vẫn không ngẩng lên, Hạnh hỏi:

– Thư gì?

– Thư của anh Phú gửi cho em.

Hạnh ngẩng lên, giọng ngạc nhiên:

– Thư của Phú sao lại gửi trả cho Phú?

Tôi cúi đầu ấp úng:

– Tại…tại em không dám đọc, cũng …không muốn nhận nữa.

Hạnh nhìn tôi một lúc, rồi nhún vai lạnh lùng nói:

– Sao Mai không trực tiếp đi gặp Phú mà trả, phải nhờ tôi, tôi không giúp Mai được đâu.

– Anh ráng giúp dùm em đi. Em không dám gặp anh Phú.

Hạnh nhìn tôi:

– Tại sao Mai lại không dám gặp Phú? Hồi đó vẫn đi chung với nhau kia mà

Tôi mím môi im lặng, không biết phải giải thích thế nào cho Hạnh hiểu. Hồi đó là khác, tôi đang vô tư, bây giờ tâm hồn tôi đã không còn bình yên để gặp anh như trước nữa, sóng gió đã ngập đầy trong mắt, trong tim.Tôi nghe giọng Hạnh dịu lại:

– Phú thích Mai lắm đó, gặp Mai lúc này nó rất vui. Đừng trốn tránh nó nữa.

Tôi sững sờ khi nghe Hạnh nói, lại gần hơn phiá bàn Hạnh ngồi, tôi năn nỉ:

– Em không muốn gặp anh Phú đâu, xin anh giúp em đi, vừa nói tôi vừa móc xấp thư ra đưa cho Hạnh. – Anh không biết đâu, nếu gặp em mà anh Phú vui thì em lại buồn, em có nhiều nỗi khổ tâm không nói được.

Nói xong tôi đặt xấp thư gần ngay chỗ Hạnh ngồi, rồi vội vã chạy đi, mặc cho Hạnh gọi vói theo:

– Mai, Mai.

Tôi chạy nhanh xuống cầu thang như chạy trốn, phải, tôi cần phải trốn tránh Phú như trốn một một âm thanh buồn đầy quyến luyến, một ánh mắt nồng nàn, tha thiết. Từ lầu ba tôi lao xuống lầu hai, lầu một như bay.Trong khoảnh khắc đó, tôi cũng cảm thấy người mình nhẹ như lướt trên mây. Gió thổi ù ù bên tai; những gợn mây bông trắng sát trên đỉnh đầu toả ra một làn khói mờ, mong mỏng bao quanh lấy tôi. Có tiếng sáo từ xa vọng lại, ồ không! Tiếng harmonica mới đúng, đang du dương theo làn khói của mây một điệu hát:

“Khói, khói lên nhỏ nhoi, khói lên nhẹ hơi, khói lên lả lơi, khói lên đầy vơi, khói lên tả tơi, khói lên đẹp ngời…”

Chợt tôi va vào một vật gì rất mạnh làm tôi ngã chúi nhũi, chiếc cặp táp văng xuống mấy bậc thang. Tôi cố với chiếc cặp thì một bàn tay ai đó đã nâng nhẹ tôi lên. Một giọng nói ấm áp quen thuộc:

– Kìa Mai, em có sao không? Đi đâu mà chạy gấp vậy để cho té?

Tôi ngước lên, một phút sững sờ, trời ơi! Phú! Không, tôi phải đi trốn anh. Tôi ngồi dậy, định chạy đi, nhưng rồi một cảm giác đau buốt ở đầu gối làm tôi khuỵu xuống ngay. Tôi mím chặt môi cố nén đau, nắm lấy tay vịn ở thành cầu thang gượng dậy. Tôi ước sao mình có thể chạy thật nhanh ra khỏi chỗ này. Phú ấn vai tôi ngồi xuống nhẹ nhàng bảo:

– Chắc em bị trặc chân rồi phải không? Đừng cố đứng lên làm gì, em sẽ bị đau thêm đó.

Tôi cúi đầu không nói, sao tôi lại rơi vào hoàn cảnh khó xử thế này. Phú đưa cho tôi chiếc cặp táp, anh hỏi giọng buồn bã:

– Sao dạo này em cứ tránh né anh hoài vậy? Em có đọc thư của anh không?

Tôi lí nhí:

– Em không dám đọc…

Tôi nghe tiếng Phú sát bên tai:

– Sao không dám đọc?

Tôi bực tức nóí:

– Em còn phải học hành nữa, anh có biết không? Em mới nhờ anh Hạnh trả lại anh mấy lá thư anh gửi hôm trước đó.

Tôi nghe tiếng Phú thở dài, rồi anh lặng lẽ ngồi xuống gần bên tôi nhỏ nhẹ nói:

– Nếu vì lo chuyện học hành mà em không muốn đọc thì anh sẽ không viết cho em nữa. Còn em không dám đọc, thì anh sẽ đọc những lời anh viết cho em nghe.

Tôi đính chính:

– Không, em nói lộn rồi, em không muốn đọc, cũng không muốn nghe.

Nói xong, tôi gượng đứng dậy, đầu gối bên phải nhói đau một chút nhưng tôi vẫn cố đứng hẳn lên và nói tiếp:

– Thôi để em đi về lớp, anh nhớ gặp anh Hạnh lấy lại thư nhe?

Thấy tôi hãy còn chao đảo, Phú đứng dậy theo:

– Em còn đau chân không mà cứ ráng đi vậy? Hôm nay em có giờ nghỉ không? Anh muốn nói chuyện với em một chút.

– Anh muốn nói gì thì nói ở đây cũng được mà.

Tôi vừa nói vừa chậm rãi nhấc từng bước lên cầu thang. Phú nhanh chân bước lên phía trước mặt tôi:

– Anh không muốn nói ở đây, anh muốn nói ở chỗ khác.

Tôi im lặng, tiếng anh năn nỉ:

– Anh chở em ra Tao Đàn chơi nhe, hát cho anh nghe một lần này nữa thôi, mai anh nghỉ học rồi.

Tôi giật mình hỏi lại:

– Mai anh nghỉ học? Tại sao? Gần thi kỳ 2 rồi mà.

Phú lắc đầu buồn buồn nói:

– Anh phải đi làm phụ với mẹ anh, mẹ đã khổ vì anh nhiều quá rồi, anh không còn tâm trí nào để ngồi học nữa.

Lời anh nói gợi lên cho tôi một nỗi đồng cảm xót xa, tôi cũng đã từng nghĩ đến chuyện nghỉ học để đi làm đó thôi. Nhưng tôi không biết với sức lực của tôi như vầy, tôi sẽ làm được gì để kiếm tiền phụ giúp mẹ tôi chứ?

– Anh sẽ không quấy rầy em bằng những lá thư vớ vẩn nữa đâu, để cho em yên tâm học hành. Hôm nay anh chỉ xin em một điều là hãy đi chơi với anh lần cuối…

Tôi đứng lại suy nghĩ, tôi không thể trốn anh được nữa. Anh đã bắt được tôi và đang cố giữ tôi trong ánh mắt tha thiết lại biết năn nỉ của anh. Giọng nói ấm áp khẩn khoản như cứ thúc hối tôi phải gật đầu.

– Đi nhe, anh năn nỉ đó, chỉ một lần này nữa thôi. Đi!

– Em chỉ được nghỉ có hai giờ Anh văn đầu thôi, hai giờ sau là chính trị phải có mặt.

– Anh sẽ chở em về đúng giờ chính trị. Đi nhé.

Tôi không đủ cương quyết để từ chối anh, đành phải từ từ bước xuống cầu thang…

o O o

Vườn Tao Đàn vẫn những hàng cây xanh rậm bóng mát, anh vẫn chọn chiếc ghế băng cũ bên tàng cây to lớn như bao nhiêu lần tôi và anh đã ngồi ở đây. Tôi nhìn lên vòm cây để tìm bóng những con chim sẻ rúc rích trong ấy, nhưng sao bây giờ im lặng quá! Bầy chim đã đi đâu hết rồi. Phú ngồi xuống bên tôi nói:

– Hên quá, anh cứ đang lo là sẽ không gặp được em hôm nay thì không biết chừng nào mới gặp lại.

Nói rồi, Phú móc trong trong túi áo ra cây harmonica, vẫn thói quen nhấp nhấp trên môi vài lần. Phú hỏi:

– Em có mơ ước sau này em sẽ làm nghề gì không?

Tôi gật đầu:

– Có chứ, hồi còn nhỏ em thường mơ lớn lên sẽ làm cô giáo dạy môn Việt Văn, bây giờ thì em hết mơ rồi.

– Tại sao?

– Vì em không thích môn Văn nữa. Còn anh?

Xoay xoay cái kèn trong tay, Phú nói:

– Anh mơ sẽ là kiến trúc sư, anh sẽ xây cho mẹ anh một căn nhà thiệt đẹp.

Rồi Phú quay sang nhìn tôi lắc đầu tiếp:

– Nhưng “đời không như là mơ, nên đời thường giết chết mộng mơ” là vậy.

Tôi nhìn lên vòm cây để tránh ánh mắt của Phú, chợt anh nắm lấy tay tôi vuốt nhẹ, tôi định rụt tay lại, nhưng thấy anh nhìn bàn tay tôi chăm chú nên tôi để yên tay mình trong bàn tay anh. Phú nói:

– Tay em nhỏ xíu à há, vậy chứ bàn tay này cực việc nhà lắm nhe.

Tôi tò mò hỏi:

– Bộ anh biết coi bói hả?

– Ừ …cũng biết chút chút.

Tôi thích thú hỏi tới:

– Anh còn thấy gì trong bàn tay em nữa không?

Phú ngắm nghía bàn tay tôi:

– Anh thấy em là một cô gái rất tốt, hiền lành, và mộc mạc. Anh rất thích cái đức tính này của em, khi nói với em những điều này sao tim anh hồi hộp ghê, nghe nè. Phú vừa nói vừa để bàn tay tôi lên ngực trái của anh.

Tôi rụt tay lại vùng vằng:

– Thôi, anh lạc đề quá à, đang nói chuyện bói mà, anh làm gì kỳ vậy.

Phú cười cười:

– Ủa anh đang bói cho em mà. Rồi anh vuốt tóc tóc tôi nhỏ nhẹ nói – mai mốt mà không gặp được em nữa, anh buồn lắm…

Tôi lại nghe tiếng anh thở dài, nhìn trong ánh mắt anh tôi thấy một sự nồng ấm thân thiện, tôi muốn nói với Phú rằng tôi cũng sẽ buồn giống như anh vậy. Cho dù tôi đã cố trốn tránh anh. Tôi vẫn không sao quên được tiếng kèn harmonica êm ái. Rồi đây âm vang của nó chỉ còn là trong tư tưởng mà thôi. Bất chợt tôi nói:

– Thôi mình hát bài gì đi anh?

Phú đưa kèn lên môi. Anh bắt đầu bài “Đốt Lá Trên Sân?”*, tôi hát theo những nốt nhạc buồn. Lần này tôi tưởng tượng ra Phú và tôi đang ngồi trên một sân cỏ nhìn đống lá khô đang cháy, Những làn khói bay lên xông vào mắt tôi cay cay. Khói làm tôi chảy nước mắt cho ngày buồn hôm nay và cả những ngày sắp tới. Không biết rồi tương lai anh sẽ đi về đâu? …Tôi hát trong nghẹn ngào:

“Đốt lá trên sân, nhớ từng đốm lửa, bến nước năm xưa chuyến đò neo ngủ, một bài dân ca, ấm lòng quê cũ, ngọt ngào lời ru mối tình ngàn xưa.”

Rồi Phú cất tiếng hát tiếp:

“Nếu bé yêu anh, anh mời đến ở, dưới mái đơn sơ, nơi vườn xanh cỏ ngày thì chia nhau sách đọc cũ mới để chiều còn ra quét vườn tưới lá…”

Tôi nghe Phú hát mà lòng buồn man mác, anh lại thổi, ngừng một chút anh hát và thổi. Chúng tôi cùng hát bên nhau những bài hát cũ. Mặt trời đang ghé qua trên tán lá xanh rọi một tia nắng vàng, ấm dịu xuống chỗ tôi và Phú, nắng cũng muốn thưởng thức lời hát của chúng tôi. Ồ, hình như cũng có tiếng chim sẻ vừa bay đến phụ họa nữa, và rồi có cả tiếng gió rù rì hoà âm theo…

– Mai biết không, mấy hôm trước không gặp được em đó, anh buồn lắm ngày nào đi học về cũng ra đây ngồi thổi mấy bài em hát lúc trước cho đỡ buồn.

Tôi cúi đầu im lặng, tay vân vê cái quai cặp một lát, rồi ấp úng:

– Anh Phú à…ừm… em rất cảm động với… những… tình cảm anh dành cho em qua mấy bài thơ hay và những lời anh viết rất đẹp…em …cám ơn anh …

Phú nghiêng đầu nhìn tôi:

– Tình cảm mà sao nói cám ơn được hả em?

Cả hai chúng tôi cùng im lặng, tôi không biết phải nói tiếp câu gì và chắc anh cũng thế. Giây phút im lặng sao ngột ngạt và vô vị quá. Có một điều gì vô hình như đang rạn nứt từ từ trong tôi… đau xót. Phú dơ tay nhìn đồng hồ rồi nói:

– Mai, anh muốn chở em đến thăm mấy người bạn thương binh của anh. Hôm trước anh có nói với tụi nó là anh có một cô bạn nhỏ hát rất hay, anh hứa sẽ đưa em đến chơi. Nếu lần này anh không đưa em đến đó, thì tụi nó sẽ nói anh xạo.

Tôi lo lắng hỏi:

– Mình có về kịp giờ chính trị không anh?

Phú chặc lưỡi, lắc đầu:

– Em quên cái môn chính trị đó vài phút được không?

– Sao em dám quên, anh biết bà cô dạy chính trị rất khó…

Phú ngắt ngang lời tôi:

– Kệ bả đi, anh muốn em đi thăm bạn anh với anh, để em chứng kiến tận mắt những “Les Misérables” tại đất nước mình chứ không phải chỉ ở nước Pháp xa xôi của ông Victor Hugo đâu. Rồi em sẽ có thêm ý tưởng mà dẫn chứng cho phần phân tích tác phẩm“Những Người Khốn Khổ” đó. Đi nhe!

Tôi nhìn đôi mắt tinh nghịch của Phú lúc này đang nhấp nháy thuyết phục. Anh mỉm cười ra lệnh:

– Đi!

Tôi đứng lên:

– Phải chở em về cho kịp giờ chính trị.

– Được!

o O o

Con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo đầy những ổ gà đọng nước, mùi hôi của cống nghẹt gần đó xông lên mũi làm tôi thấy khó chịu. Tôi đi bộ theo Phú vào sâu trong con hẻm, những ngôi nhà ọp ẹp gán ghép bằng những thanh gỗ mỏng, ngang dọc nằm san sát bên nhau, tiếng người nói chuyện ồn ào, tiếng chửi thề ỏm tỏi.Tôi đã quá quen thuộc với những khu xóm lao động nghèo như thế này. Phú dừng lại trước một căn chòi gỗ mái tôn thấp lè tè, có cánh cửa màu vàng nhạt đã tróc sơn gần hết. Một khung cửa sổ nhỏ đã bị gãy mất một cánh bên phải. Tôi ngại ngùng bước vào trong theo Phú, căn nhà hơi tối và nóng hầm hập. Tôi giật mình thấy hai người đàn ông ngồi trên tấm phản cũ kỹ chung quanh bề bộn những bó dây lạt dài, họ đang lần tay đan rổ. Một người bị mù, còn người bên cạnh thì bị cụt hai chân lên tới đùi. Nhìn quanh căn phòng chỉ có một cái bàn gỗ vuông nhỏ, trầy trụa nhiều vết cắt, và vài cái ghế đẩu. Phú bắt tay người đàn ông cụt chân:

– Chào anh Phong. Rồi anh vỗ vai người đàn ông mù- khoẻ hả anh Tú? Bữa giờ đan được nhiều rổ không?

Người mù trả lời:

– Cũng tàm tạm.

Tôi nhìn người đàn ông cụt chân gật nhẹ đầu:

– Dạ chào hai anh. Trong khi Phú giới thiệu: – Đây là Mai bạn học chung trường với tôi đó.

Người đàn ông cụt hai chân mỉm cười nói:

– Ờ, chào em, ngồi chơi đi, nhà không có bàn tay đàn bà nên bừa bãi quá.

Tôi nói nhỏ:

– Dạ không sao.

Phú nhìn quanh hỏi:

– Thằng Hải đâu anh Phong? Hôm nay nó có đi hát dạo không?

Anh chàng Phong chỉ vào trong:

– Nó kêu nhức đầu nằm trong kia kìa, chắc chiều mà bớt thì nó với thằng Bình đi hát ở chợ Nguyễn Tri Phương cho gần.

Phú bước vào nhà trong, tôi khép nép ngồi xuống cái ghế đẩu ở gần cái phản. Phong, người đàn ông cụt chân hỏi tôi:

– Em học lớp mấy?

– Dạ lớp 12.

– Năm nay là năm cuối đó há

– Dạ.

Vừa nói tôi vừa quan sát người đàn ông mù tay đưa thoăn thoắt trên cạp rổ, anh Phong sáng mắt mà làm không nhanh tay bằng ông mù. Khi đan hết vòng rổ, ông quờ quờ tay tìm một dây lạt khác. Tôi nhích tới đẩy bó dây lạt lại gần tay ông hơn. Ông nắm bó lạt dầy và mò mẫm tháo dây. Tôi đứng lên kéo một bó lạt khác gần đấy, nhanh nhẹn tháo dây ở đầu rồi tới gần đưa tận tay cho ông:

– Bó này em tháo dây rồi nè anh.

Ông Tú cười hóm hém nắm lấy bó lạt:

– Ồ, cảm ơn cô nghe.

– Dạ không có chi, để em tháo hết dây ở mấy bó lạt kia luôn cho anh dễ làm nghe.

Phong dơ tay cản:

– Đừng, đừng, em chỉ cần tháo hai bó nữa thôi là được rồi, đừng tháo nhiều quá nếu làm không xong lại phải cột nó lại, mất công lắm.

Phú bước từ nhà trong ra cùng với một anh thanh niên trẻ, mặt mũi sáng sủa, đẹp trai. Anh này bị cụt bên chân trái lên tới đầu gối. Anh chống nạng đến gần cái ghế đẩu, rồi gác cây nạng vào góc tường ngồi xuống, nhìn anh, tôi chưa kịp lên tiếng thì anh đã oang oang hỏi:

– À, đây là cô bé Quỳnh Mai của mày đó hả Phú?

Phú ừ lớn rồi quay sang tôi nói:

– Đây là Hải bạn đồng ngũ với anh.

Tôi gật nhẹ đầu:

– Chào anh Hải

– Chào cô em gái hậu phương

Anh Phong lên tiếng:

– Thôi đi, giờ này còn em gái hậu phương gì nữa, thời chinh chiến xưa qua rồi.

– Biết là vậy, nhưng lâu lâu tôi cũng thích nhắc để cho có màu kỷ niệm mà.

Anh Phong bực bội:

– Kỷ niệm cái con…

Phú nhanh miệng tằng hắng lớn ngắt tiếng anh Phong:

– A, A, có nữ sinh ở đây nghe, ý tứ dùm đi mấy ông.

Tôi quay sang hỏi Phú:

– Mấy anh đi lính cùng ngành với nhau hết hả?

Anh Phong nhanh miệng nói:

– Không, tôi với ông Tú mù loà này (anh khoác vai ông Tú) đi pháo binh, còn hai thằng lính sữa kia, (anh chỉ tay về Phú và Hải) thêm một thằng sữa nữa đang ngủ khò ở trong thì đi bộ binh nhưng công việc của nó là trinh sát.

Tôi à nhỏ, rồi lại hỏi:

– Trinh sát là làm công việc gì vậy hả anh?

Phú nheo mắt:

– Em muốn biết lắm sao?

– Dạ cũng hơi tò mò.

Hải nói:

– Lính trinh sát là một đơn vị đặc biệt, do một đại đơn vị đó thành lập nên, ví dụ cấp trung đoàn mới có một đại đội trinh sát, cấp sư đoàn có một đại đội trinh sát của sư đoàn.

Phú đập vai Hải:

– Mày nói như vậy ai mà hiểu được, phải giải thích trực tiếp, cứ nói chung chung cấp trung đoàn với sư đoàn nghe rối cả tai. Để tao nói cho.

Rồi Phú quay sang tôi tiếp:

– Thông thường trinh sát như tụi anh có nhiệm vụ là đi dò thám, săn lùng địch trước, gọi là đi tìm địch. Nếu địch đông quá thì gọi cho đại đơn vị đến đánh. Trinh Sát thì cấp trung đoàn mới tự thành lập ra một đại đội trinh sát riêng cho trung đoàn đó. Cấp sư đoàn cũng tự thành lập ra một đại đội trinh sát của sư đoàn. Họ tự tuyển lính trong đơn vị của họ xem anh nào gan dạ nhất, can đảm và giỏi thì lập nên một đại đội trinh sát để đi hành quân. Chỗ nào khó khăn, địch mạnh, lính bình thường không thể vào đánh được thì thảy lính trinh sát vào. Họ là những người lãnh nhiệm vụ nguy hiểm và đi tiên phong.

Tôi tròn mắt nhìn anh khâm phục:

– Trời ơi hồi xưa đội của anh hay quá vậy!

Phú cười chua chát:

– Ừ hay lắm, lý tưởng cho quê hương nhiều lắm. Biết bao nhiêu thằng lính trẻ trong bọn anh hy sinh cũng lắm, thằng tàn phế, thằng mất xác, phanh thây, rốt cục thì được gì …thua trận, đau đớn, tủi nhục, uất hận…

Anh Phong ngắt ngang lời Phú:

– Thôi đi mày ơi, than trách làm chi để thêm nhức nhối lòng mình.

Tôi nhìn anh Phong, thấy sự bực mình hiện trên nét mặt anh nhăn nhúm đau khổ. Anh không muốn nhắc lại chuyện buồn của những ngày qua. Những ngày anh và anh Tú cùng nhiều bè bạn khác đã hy sinh một phần thân thể mình, cho sự tự do và yên ấm của miền nam yêu thương. Để rồi bây giờ tự do đã bị tước đoạt, yên ấm đã không còn, cho các anh phải đối đầu với một thảm cảnh thê lương mới trong đời sống cơ hàn vất vưởng. Tôi hiểu được điều đó trong ánh mắt và trong câu nói đầy chán nản của anh. Tôi nói:

– Chính em cũng thấy buồn cho số phận của những người lính như mấy anh, dù rằng em còn nhỏ chưa hiểu biết gì nhiều về cuộc chiến của nước mình. Nhưng em có nghe bà ngoại em nói, chế độ cộng sản tàn ác lắm. Bởi vậy năm 54 mới có nhiều người di cư vào Nam tìm tự do. Bây giờ mấy chục năm sau, mình không may lại đang bị cầm quyền bởi cái thể chế tàn ác này…

Anh Phong nhìn tôi gật gù:

– Em còn nhỏ mà coi bộ cũng có suy nghĩ dữ há.

Phú chen vào đùa:

– Trời, dân học ban C mà ông, chuyên viết bình luận với xã luận không đó.

Tôi cười bẽn lẽn:

– Không có đâu, anh cứ nhạo báng hoài.

Hải cười cười:

– Thằng Phú nó chỉ giỏi nhạo thôi chứ nó mà báng là Quỳnh Mai chết với nó lâu rồi.

Tôi ngơ ngác hỏi lại:

– Là sao vậy anh?

Phú đánh đầu Hải:

– Nói nhảm không à, em đừng có nghe nó.

Tôi quay sang hỏi anh Phong:

– Anh Phong đi pháo binh là lính gì hả anh?

Anh Phong nói thao thao:

– À, lính Pháo Binh là lính bắn súng lớn, còn gọi là súng Canon đó như đại bác 105 ly, đại bác 155 ly hay đại bác 175 ly. Đây là một binh chủng đi đánh trận nhưng đóng súng ở từ xa bắn yểm trợ cho đơn vị bạn là bộ binh hay nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, biệt kích, địa phương quân . Tóm lại Lính pháo binh sẽ bắn yểm trợ cho đơn vị đang đi hành quân chạm địch. Mà em biết không? Muốn có pháo Binh yểm trợ được, cần phải có sĩ quan Tiền Sát Viên Pháo Binh đi theo với các đơn vị bộ binh đó. Vì Bộ Binh hay bất cứ đơn vị nào đang hành quân không thể biết cách “Xin Tác Xạ” cũng như điều chỉnh đạn Pháo Binh được. Các sĩ quan Tiền Sát viên này là những sĩ quan Pháo Binh mới ra trường cấp chuẩn úy, thiếu úy, nhiều khi có cả trung úy nữa, phải đi hành quân chung với bộ binh. Khi nào đụng địch thì gọi về các đơn vị pháo binh đặt phía sau bắn tới yểm trợ. Họ đi làm Tiền Sát viên một thời gian một năm hay hai năm thì được về coi 2 khẩu đại bác gọi là làm Trung đội Trưởng. Sau nhiều năm giỏi hơn có kinh nghiệm hơn và lên cấp bậc cao hơn thì sẽ làm Pháo Đội Trưởng. Một Pháo Đội có sáu khẩu. Một tiểu Đoàn có ba pháo đội tổng cộng 18 khẩu. Trung đội trưởng đúng cấp số là Trung Úy, Pháo Đội Trưởng là Đại Uý. Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Tá. Tới đây em hiểu về Pháo Binh chưa?

– D ạ…, chút xíu thôi, hồi đó anh là trung đội trưởng hả?

– Đâu có, anh chỉ là trung sĩ quèn thôi sai đâu thì bắn đó, rồi anh đưa tay chỉ một vòng tiếp, ở đây tụi anh là hạ sĩ quan không à.

– Lính Cộng Hòa của mình hồi trước nhiều ngành quá hả anh?

– Nhiều lắm, đúng ra phải gọi là binh chủng, chứ không phải là ngành, mà binh chủng nào cũng được đào tạo rất nghiêm minh, vậy mà tới phút cuối phải đầu hàng mới tức chứ! Vừa nói anh vừa đập tay xuống phản.

Bỗng anh Tú lên giọng:

– Tại thằng Mỹ đểu nó bỏ rơi mình, chứ nếu nó còn giúp mình chưa chắc tụi Việt Cộng vô nổi, nhớ năm 68 không, nó tàn sát dân Huế, tính chiếm Huế, rồi vô tới Sài Gòn mình còn đánh bật tụi nó ra mà. Năm72 tụi nó pháo dữ tợn vậy đó, mình cũng đâu có thua trận nào thấy không?

Phú thở dài:

– Số phận đất nước mình thiệt là khổ.

Anh Phong quay qua tôi nói:

– À, nói cho em biết thêm về lính Cộng Hòa mình còn một binh chủng Không quân cũng đi yểm trợ như pháo binh cho các đơn vị nào đánh nhau với Việt Cộng. Không quân thả bom xong rồi về với vợ, anh nào chưa có vợ thì về với đào, ai chưa có đào thì đi cua đào. Ngày mai tới phiên trực của mình thì đi thả bom tiếp. Có bao nhiêu con gái đẹp thì Không Quân cuỗm trước, vì quởn quá mà. Nói tới đây anh, Phú, Hải và Tú cùng cười , rồi chỉ tay vào mình, Phong tiếp – Còn Pháo Binh tụi anh, hễ Bộ binh đang đánh nhau với Việt cộng thì mình bắn đại bác tới yểm trợ cho Bộ Binh. Hết đánh nhau, vẫn phải nằm tại chỗ chiến trường đó, không, ở đàng sau chiến trường một tí, chờ có đụng trận thì bắn tiếp. Đâu có được tự do về phố để gặp các em gái đâu.

Tôi cười nhẹ:

– Anh kể chuyện tếu quá!

Hải thêm vào:

– Chưa hết đâu, em có nghe ngày xưa người ta hay chế diễu rằng “Em ơi đừng lấy Pháo Binh, đêm đêm nó bắn rung rinh cái giường “ không? Đúng vậy, một quả đạn của Pháo Binh cũng to gần bằng quả bom nhỏ, mỗi khi đạn pháo Binh ngang qua đầu mình, nhà cửa rung rinh, tung lên các đồ vật trong nhà…

Tôi gật đầu nói ngay:

– Dạ, em còn nhớ cái cảm giác mà đạn nổ lớn đến rung chuyển nhà cửa, thấy sợ lắm là hồi năm 68…

Hải cắt ngang lời tôi:

– Không, cái rung chuyển nhà cửa em nói là khác, còn ở đây người ta nóí rung rinh cái giường là cố ý nói cái khác nữa, chắc em hiểu phải không?

Tôi bối rối nói bừa:

– Dạ…chút xíu

Tôi vừa dứt lời thì cả 4 người đàn ông đều phá lên cười nắc nẻ; tôi ngơ ngác không hiểu họ cười cái gì, rồi thấy Phú đập vai Hải:

– Thôi đủ rồi không nói nhảm nữa nghe mày.

Hải gạt tay Phú:

– Mẹ, hôm nay mày ăn hiếp tao hơi nhiều nghe, tại tao nể có em gái Quỳnh Mai ở đây nên tao nhường mày đó, đừng có được đằng chân lân đằng đầu biết không hả?

Giọng ông Tú từ tốn hỏi:

– Tôi nghe Phú nói cô Mai hát hay lắm phải không? Bữa nào có dịp ở chơi lâu cô hát cho tụi này nghe với.

Tôi nói:

– Dạ… Em thích hát, mà hát được thôi, chứ không hay đâu, anh đừng có nghe lời anh Phú nói.

Tiếng ông Tú lại hỏi:

– Cô có biết nhạc lính nhiều không?

Tôi lắc đầu nóí huyên thuyên:

– Dạ…em biết ít lắm, bài nhạc lính đầu tiên mà em biết hồi em còn nhỏ khoảng 5 hay 6 tuổi gì đó là bài “ Hoa Trinh Nữ”, tại trong bài đó có nói đến ông vua với hoàng hậu nên em rất thích, suốt ngày cứ hát nghêu ngao hoài. Lúc đó, mỗi lần nhà em có khách, là ba em hay kêu em ra hát cho khách nghe, mà hồi nhỏ thì tính em nhút nhát hay mắc cỡ, ra chỗ đông người em không chịu hát, làm cho ba em bị quê hoài hà.

Phú cười nói thêm:

– Bây giờ em cũng vẫn còn mắc cỡ, nhút nhát vậy, chứ có dạn dĩ được chút nào đâu.

Hải cãi:

– Ê! Em có nhút nhát thì mày mới dắt em tới đây được, em mà dạn dĩ mày bị xỏ mũi đi chỗ khác rồi.

– Mày lại nói nhảm.

Tôi nhìn sang Phú, đưa ngón trỏ chỉ vào cổ tay mình nhép miệng:

– Tới giờ chính trị…

Phú lắc đầu nhép miệng lại:

– Quên nó đi.

Tôi nói lớn:

– Không, em phải về học…

Hải nhìn Phú, rồi nhìn sang tôi hỏi:

– Cái gì vậy?

Phú nói:

– Nãy giờ mình đã cùng nhau thảo luận về chính trị rồi đó.

Tôi vùng vằng:

– Thôi, anh cứ giỡn hoài.

Hải lại hỏi:

– Chuyện gì?

Phú đứng lên thở ra:

– Em siêng học quá, không dám bỏ hai giờ chính trị, thôi tao phải chở em về trường đây.

Ba người đàn ông cùng nói:

– Ủa về bây giờ hả?

Tôi gật đầu:

– Dạ, em còn có hai giờ học nữa, em phải về, chào mấy anh nhe, mấy anh vui quá.

– Mai mốt nói Phú chở cô ðến chõi nữa nhé, ðến ngồi tháo dây lạt hộ tôi. Giọng ông Tú nói vui.

– Dạ.

Tôi quay ra cửa, sau khi gật ðầu chào Hải lần cuối, Hải nháy mắt:

– Tiếc quá, em phải về ði học không nghe em hát lần này. Thôi lần sau nhé.

Phú dơ tay trước mặt Hải:

– Có lần sau nữa ðâu mà hẹn.

– Sao vậy? Hay lần sau dắt em khác về?

– Im cái miệng thối của mày lại đi!

Hải nói lại:

– Tao nhường mày bữa nay thôi nhe.

Bước ra cửa, tôi thoáng nghe phía sau tiếng ông Tú hỏi:

– Con bé ấy có giọng nói thanh tao quá, mặt mũi ra sao mày?

Tiếng ông Phong nho nhỏ:

– Dễ thương lắm, coi rất hiền lành.

Rời khỏi căn chòi ọp ẹp đó, hình ảnh ba chàng thương binh nghèo, vui tính vẫn còn theo tôi đi ngược ra ngoài hẻm với Phú. Tôi nhớ đến lời anh Phong nói, chiều nay Hải và một người bạn khác sẽ đi hát dạo ở chợ. Mặt trời bây giờ đã lên cao một chút và đang tỏa hơi nóng ra từ ánh nắng chói chang. Vậy, lát nữa đây, dưới cái nắng càng lúc càng thêm gay gắt anh sẽ phải chống nạng đi bao xa, hát bao nhiêu bài đến khan tiếng để đổi lấy những đồng tiền bố thí. Còn anh Tú, anh Phong tàn tật, mù lòa mà vẫn phải ngồi đan rổ để tự kiếm sống. Tôi khâm phục và biết ơn sự hy sinh của những người lính như các anh trong chiến tranh. Tôi đau xót cho sự mất mát quá nhiều đó, đã chẳng được đền bù xứng đáng, lại còn bị những kẻ thắng ngược đãi. Ôi, cuộc đời sao nhiều bất công tàn nhẫn quá, chân lý thiện thắng ác rõ ràng đã bị đảo lộn trong thế giới cộng sản này rồi!!! Tôi thấy chán ghét những bài học chính trị sắt thép, tôi căm hận những lời lẽ ghép tội thật bẩn thỉu cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa như các anh, như cha tôi. Tôi ghê sợ nền văn học cách mạng đầy súng đạn khát máu, thù hằn mà tôi đang phải học mỗi ngày, nó có ích lợi gì cho tôi trong tương lai chứ?

– Mai đang nghĩ gì thế?

– Em đang nghĩ… đến những anh bạn thương binh khốn khổ của anh đó. Em thấy tội họ quá!

– Ừ, tội nhất là anh Tú đó, đan một cái rổ có vài xu à, anh ấy phải đan ngày đan đêm mà vẫn không đủ sống. Nhìn anh ấy, anh thấy mình có lỗi quá, mình còn khoẻ mạnh, lành lặn cứ phải sống bám vào cha mẹ hoài.

– Em cũng vậy.

– Không, em là con gái, hoàn cảnh em khác.

Con đường trở về trường đã không dài như tôi mong ước, khi Phú ngừng lại thả tôi vào trường. Tôi bỗng tiếc nuối giây phút phải xa rời anh, tôi không còn muốn vào học giờ chính trị nữa. Tôi bực bội với chính mình sao tôi lại mâu thuẫn như thế, cách đây mấy phút tôi đã đòi anh chở tôi về cho kịp giờ học mà. Bây giờ trước cửa trường tôi lại phân vân. Ngày mai tôi sẽ không còn thấy anh đâu đó trên sân trường, hay trên hành lang qua các dãy lớp học. Tôi sẽ hết được nghe tiếng harmonica êm ái để tôi thả hồn theo những ước mơ thần tiên. Sao tôi đã muốn trốn tránh rồi lại muốn gặp anh. Phú nhìn tôi với ánh mắt buồn tênh, lưu luyến, bàn tay anh cứ nắm chặt tay tôi không buông…Tôi quay đi, không dám nhìn Phú lâu hơn, tôi sợ lòng tôi yếu đuối…Thôi đành vậy, tôi phải lo học trước đã, dù tôi có chán ghét học đường. Nó vẫn là con đường để dẫn tôi đi đến một tương lai không biết là sáng hay tối… Tôi nói nhỏ:

– Thôi em vào học nhe, anh về đi, chúc anh gặp nhiều may mắn trong tương lai.

Phú nghiêng đầu nhìn tôi:

– Chúc em thi đậu!

Tôi chậm rãi bước đi, cố không quay đầu lại vì tôi biết Phú vẫn trông theo tôi. Rồi vụt chạy lên lầu một, lầu hai, lầu ba, tôi đi nhanh đến cái góc vắng ở cuối hành lang, kiễng chân ngó xuống đường để nhìn anh một lần nữa, anh hãy còn đứng đó, dáng buồn chơ vơ, mắt nhìn lên hàng cây xanh lá. Chắc anh đang tìm bóng những con chim sẻ trên cây, những con chim nhỏ bé vô tư không hề biết buồn. Chợt, tôi thấy bóng anh mờ dần đi, và nhoè nhoẹt, lẫn trong những giọt nước mắt vô tình đang lăn trên má tôi. Tôi nói thầm: Tạm biệt anh!

Kể từ sau ngày đó, tôi đã thực sự không còn gặp lại Phú lần nào nữa. Bận rộn học hành cho việc thi cử đã cuốn hút hết thời gian của tôi. Tiếng kèn và kỷ niệm ca hát bên nhau ngày trước dần dà đi vào quên lãng. Rồi năm học cũng trôi qua, tôi đậu tốt nghiệp trung học với điểm trung bình. Thế là tốt lắm rồi.

2.

Ngày ..tháng…năm 1981

Lần thứ ba mẹ tôi lại vừa vào phòng cấp cứu. Khác với hai lần trước, Lần này bầu ngực trái của mẹ đã bị bể toác và tuôn máu xối xả, trông thật là sợ. Sở dĩ nó bị bể ra, vì mấy hôm trước chỗ thịt nứt ở trên đầu vú trái kéo dài sang gần bên nách bị sưng tấy lên, làm cho mẹ tôi đau nhức vô cùng, và do mẹ tôi chữa trị thuốc nam cứ đắp mấy cái rễ lá vào chỗ vết thuơng. Có lẽ nó đã bị nhiễm trùng nên bị nứt thêm ra và rồi bể giữa đêm khuya, máu trào ra ướt đẫm ngực áo mẹ. Chúng tôi hốt hoảng, trong nhà lại vừa hết vitamine K (một loại thuốc chích cầm máu.), mẹ sai tôi lấy một loại thuốc nam cầm máu trong tủ rắc vào chỗ ngực đang tuôn máu. Thuốc giống như bột than đen, tôi rắc thuốc tới đâu, mẹ tôi xót, kêu la tới đó rất thảm thương mà máu vẫn không ngừng. Tôi cuống lên không biết làm sao, sợ hãi quá tôi oà khóc. Các em tôi sợ cũng khóc theo tôi, bà ngoại tôi bình tĩnh hơn bảo: ”Thử lấy dầu hôi cầm xem”.

Tôi chạy nhanh vào bếp lấy chai dầu hôi rồi đổ ập vào một đống gòn dầy đè lên ngực mẹ. Bị mất máu nhiều, mẹ tôi đã mệt lả, mặt mẹ xanh mướt, đôi mắt mẹ nhắm nghiền. Tôi phải lay mẹ gọi “Mẹ ơi, mẹ ơi! mẹ mở mắt ra đi, mẹ đừng nhắm mắt lại”… Mấy phút sau đó, sự mầu nhiệm vô hình của dầu hôi đã làm máu ngưng chảy. Chúng tôi tức tốc chở mẹ tôi vào bệnh viện Bình Dân… Thời còn “bao cấp” nhà nước nắm hết quyền hành trong tay. Y tá, bác sĩ như những ông vua, bà chúa trong ngành y tế. Bệnh nhân là con dân hèn mọn, khúm núm, đi xin xỏ đủ mọi thủ tục giấy tờ, chờ đợi để được chữa bệnh. Mẹ tôi không may vào cấp cứu trong điều kiện khó khăn của nền y tế lạc hậu và quan quyền đó. Các bà y tá đã quen với trường hợp của mẹ tôi, họ không tiếc lời mắng nhiếc nào là:

“Nhà gần ngay bệnh viện mà để cho ra nông nỗi này”

“Cái ngực như vầy có nước chết chứ chữa gì được”

Tôi còn bị la thêm: “Con cái đông mà không biết lo cho mẹ đi chữa trị sớm, không có kiến thức về ung thư sao”.

Tôi biết phải giải thích làm sao, nói làm sao, khi mà gia đình tôi quá nghèo khổ. Mẹ tôi đã hết sức giấu diếm chúng tôi về bịnh tình của mẹ, từ lúc nó chỉ là một cái mụt nhỏ trong ngực. Mẹ đã âm thầm đến bệnh viện một mình để khám, nhưng mẹ không kiên nhẫn để ngồi chờ nhiều giờ đồng hồ trong cơn đói của các con. Tất cả chúng tôi hãy còn tuổi đi học và dù nghèo đói, khổ sở mẹ tôi vẫn nhất định không cho một đứa nào được bỏ học để đi làm. Mẹ đành phải chọn cách chữa trị theo thuốc nam là rẻ nhất, không tốn nhiều thời gian chờ đợi, không qua thủ tục giấy tờ nhiêu khê. Và vì ông thầy thuốc nam cũng hay cho mẹ tôi hốt thuốc ghi nợ. Bên cạnh đó, ngoài giờ làm việc, mẹ tôi còn theo đuổi phương pháp châm cứu do một nhóm học sinh đông y làm, họ châm cứu từ thiện ở chùa Giác Ngộ trong Chợ Lớn. Bà y tá nói đúng thôi, chúng tôi có nghe về ung thư nhưng lại không có kiến thức nhiều về bệnh này. Chỉ mơ hồ nó là một bệnh nan y không chữa được…

Phương pháp châm cứu đã không làm giảm đi sự đau nhức của bầu ngực trái, nó đã không xẹp mà ngày càng sưng to hơn, lúc đó chúng tôi mới biết là mẹ tôi đã bị cơn bệnh hành hạ từ lâu. Bao nhiêu năm kiên trì với thuốc nam cũng không cứu vớt được tình trạng đau ốm của mẹ. Ông thầy thuốc nam cứ xác định mẹ tôi không phải bị ung thư, mà mẹ bị “mạch lươn”. Tôi không hiểu “mạch lươn” là gì nên càng thêm bối rối.

Tối khuya khi mẹ tôi vào bệnh viện cấp cứu, không có lệnh của bác sĩ nên các y tá không ai dám mở vết thương ra. Họ chỉ chích cho mẹ tôi penicilline liều mạnh để vết thương khô lại. Mẹ tôi nằm thiếp đi trong phòng cấp cứu một ngày, mùi hôi từ ngực mẹ tôi bắt đầu xông lên, (Thường thường ở nhà, chị em tôi thay phiên nhau rửa vết thương cho mẹ ngày hai lần.). Tôi rụt rè đến hỏi một bà y tá trực xin bà rửa dùm vết thương cho mẹ tôi để tránh mùi hôi, bà lắc đầu lạnh lùng từ chối:

– Vết thương chưa khô mà rửa cái gì, chạm vào lỡ nó bể mạch máu phiá trong là không có thuốc nào cầm được đâu. Chờ bác sĩ trực tới rồi tính.

Chờ đến tối, tôi cũng gặp được ông bác sĩ trực. Tôi nghe nói ông là một bác sĩ giỏi của khoa ung thư lại rất tốt với bệnh nhân, trước kia ông là bác sĩ quân y của Việt Nam Cộng Hòa. Khi ông đến giường của mẹ tôi, ông đọc bệnh án rồi dở áo mẹ tôi xem qua vết thương. Mùi hôi từ vết thương vẫn không làm ông nhăn mặt hay tỏ ra khó chịu gì. Ông ra lệnh cho người y tá:

– Cho bệnh nhân đi chụp hình phổi ngay, rồi chuyển bà xuống khoa ung thư, rửa vết thương.

Ông định bước đi, nhưng rồi quay lại gần mẹ tôi kéo hai bên mắt mẹ xuống nhìn, ông nói thêm:

– Thiếu máu quá, cho tiếp máu luôn.

Nói xong, ông vội vã bước sang bệnh nhân khác.

o O o

Mẹ tôi đã thiếp đi trong giấc ngủ sau một cơn “sốc” mạnh lúc đang được tiếp máu. Nhìn mẹ bị cơn cơn “sốc” hành hạ, tôi sợ đến run người phải chạy đi gọi y tá, và họ mang đèn đến hơ cho mẹ tôi ấm. Thấy tôi lo lắng, cô y tá bảo tôi yên tâm, “sốc” là chuyện bình thường khi bệnh nhân được truyền máu. Tôi ngồi ủ rũ dưới chân giường lo lắng, chốc chốc tôi lại nắm tay mẹ lay nhẹ xem mẹ tôi có trở mình hay nhướng mắt gì không? Hễ mẹ tôi có cử động thì tôi mới bớt lo. Tôi cứ lâm râm niệm Phật, cầu mong cho mẹ tôi được khoẻ lại đến ngày cha tôi trở về. Đảo mắt quanh phòng, tôi tìm một người đàn bà tốt bụng hôm qua, lúc mẹ tôi được đẩy xuống phòng ung thư này. Bà không phải là bệnh nhân mà là người đi nuôi bệnh ở phòng khác, nhân bà ghé qua đây thăm một người bạn trong phòng, gặp mẹ tôi vừa đến, bà dừng lại hỏi han. Bà đã không đi ra ngoài như yêu cầu của cô y tá vì lý do vệ sinh, vì mùi hôi thối từ vết thương lâu ngày của mẹ tôi toát ra khắp phòng.Thoạt đầu, tôi tưởng bà vì tò mò mà ở lại, sau đó thấy bà nhiệt tình, cùng phụ giúp cô y tá và tôi trong việc rửa và thay băng cho mẹ, tôi mới thấy bà thật là người tốt. Đúng lúc tôi đang nghĩ tới bà, thì đột nhiên bà xuất hiện ở cửa phòng. Tay bà xách hai gà mên thức ăn, tôi nhìn bà gật đầu chào, bà cười với tôi rồi hỏi:

– Bà nhà đỡ chưa?

– Dạ đỡ rồi bác.

Bà đi thẳng đến phía người bạn của bà đang nằm cách chỗ mẹ tôi ba giường. Trong căn phòng hình chữ nhật này, có tất cả là mười lăm giường bệnh. Hai bên tường là hai dãy giường kê gần nhau, mỗi bên 6 cái, chỗ thẳng vào bức tường chính giữa là hai giường lẻ, và giường của mẹ tôi thì nằm đối diện thẳng với hai giường lẻ phía bên kia, gần cửa ra vào một chút. Mười lăm bệnh nhân nữ, mười lăm người mẹ, ai cũng đang đau khổ với cái bầu ngực đã thay hình đổi dạng rất dị kỳ. Những bầu ngực tật nguyền đã từng cho các con mình những giọt sữa thơm, mà nay ngoài sự dị dạng kia, còn có nguy cơ lây lan vào trong cơ thể nhiều chứng bịnh khác. Mẹ tôi đã bị di căn qua phổi, bác sĩ dặn chúng tôi phải tách ly việc ăn uống riêng với mẹ một cách kỹ lưỡng. Người đàn bà đi tới chỗ tôi đứng, bà đưa cho tôi cái gà mên ấm và nói:

– Bác nấu tí cháo cho mẹ cháu đây này, lát nữa mẹ dậy thì ép mẹ ăn cho có sức.

Đỡ lấy cái gà mên trên tay bà, tôi run giọng nói:

– Cháu cám ơn bác, không biết mẹ cháu có chịu ăn không?

– Phải khuyên bà ráng ăn cho khoẻ, thì bác sĩ mới cho xuất viện về nhà. Chứ không khoẻ là phải nằm đây hoài chán lắm!

Nghe bà nói, tôi xúc động ứa nước mắt, bà hỏi chuyện tôi về hoàn cảnh gia đình, về cha mẹ, công việc làm. Tôi thành thực kể cho bà nghe trong nghẹn ngào, gia đình tôi gồm tất cả mười một người, cha đã đi “học tập cải tạo “ từ sáu năm nay, mẹ tôi thay cha nuôi chúng tôi. Hiện tại chỉ có mỗi hai đứa con gái lớn là tôi và Quỳnh Hương, em gái kế đi làm phụ với mẹ. Còn những đứa em khác đều đang tuổi đi học. Bà im lặng ngồi nghe, rồi lâu lâu lại chặc lưỡi buông tiếng: “Tội nghiệp!”. Tôi cũng nói với bà nỗi cầu mong lớn nhất của tôi bây giờ là cha tôi sẽ được về trong nay mai để cùng chúng tôi lo cho mẹ. Bà thở dài thông cảm và khuyên tôi rằng: “Cứ ráng cầu xin thì ba cháu sẽ mau về thôi, mà này đi nuôi người bịnh không nên khóc cháu nhé, xui lắm đấy!” Tôi vội vàng chùi nước mắt, tôi hiểu ý bà muốn nói xui là thế nào, tính tôi lại dễ xúc động trước mọi sự việc buồn cũng như vui, đau khổ hay hạnh phúc. Nước mắt tôi cứ tự nhiên rơi .Tôi đã cố nhiều lần kìm lại mà không được. Nhớ lần đi nuôi mẹ tôi kỳ trước, tôi cũng khóc khi vào bệnh viện với mẹ, Quỳnh Hương đã bực bội dằn vặt tôi nhiều lần, bởi nó là người rất tin dị đoan. Nào là:

“Trời ơi, chị nín đi, khóc là trù ẻo đó biết chưa?”

“Khóc gì mà khóc hoài à, bởi vậy mẹ mình lâu hết bịnh là tại chị đó”

Có khi nó tức giận nói: “Bà Mai cứ như con nít, chỉ giỏi khóc thôi, chứ lo được gì cho mẹ đâu”. Tôi không cứng cỏi được như em gái mình nên phải đành phải ngồi im nghe nó mắng mỏ.

Tôi hỏi lại gia cảnh của bà. Bà cũng rơm rớm nước mắt kể lại, bà có năm người con trai, cả năm đều đi lính, chỉ có người con trai lớn thì học Thủ Đức ra sĩ quan, bây giờ anh cũng đang bị đi “học tập” chưa về. Còn lại tất cả đều xuất thân từ trường Hạ sĩ quan Đồng Đế. Hiện giờ bà đang đi nuôi người con trai thứ tư, anh bị ung thư máu nằm ở khoa ung thư nam. Mấy năm trước khi chưa phát hiện ra bệnh, anh hãy còn khoẻ mạnh, theo bạn bè đi buôn đủ thứ. Sau này thua lỗ anh đi đãi vàng, rồi đi tìm trầm ở đâu tuốt trên rừng. Anh giao du với bọn thổ phỉ và nhiều người Thượng khác, rồi vàng, trầm chưa thấy đâu mà đã bị công an bắt vì chúng tình nghi anh có kết cấu với “Fulro” chống phá cách mạng. Tới đây nước mắt bà chan hoà, bà thống thiết nói trong căm tức:

– Thằng con bác bị bắt oan mấy năm trời, bị đánh, bị đưa đi lao động khổ sai. Bác lên thăm nó thấy con mình ốm yếu, nhấc chân không nổi nữa, bác như đứt ruột ra, tức chết đi được. Lúc đó, bác muốn chửi vô mặt mấy thằng cán bộ ác độc đó cho hả giận, cái chế độ gì mà cứ bắt người vô cớ, vu khống cho kẻ vô tội. Gần bốn năm trời không khai thác được gì mới thả ra. Thả về còn bị quản chế cả mấy tháng rồi sau đó phát hiện ra bịnh tới giờ.

Tôi nắm lấy bàn tay khô gầy của bà nói:

– Trời ơi, hoàn cảnh bác thật tội quá, nghe chuyện con trai bác còn thấy tội hơn. Bây giờ bác ngồi ở đây thì ai ở bên đó với ảnh?

– Hồi nãy nó ngủ rồi tôi mới qua đây. Nó biết tôi có bà bạn ở phòng này, nếu không thấy tôi thì nó biết là tôi đang ở đây.

Ngay lúc ấy, mẹ tôi vừa mở mắt ra, tôi thấy đôi mắt mẹ đã có phần tỉnh táo một chút. Tôi vui mừng hỏi mẹ:

– Mẹ thấy trong người làm sao hả mẹ?

Mẹ tôi gật đầu cười nhẹ, rồi hỏi tôi, giọng yếu ớt:

– Ai đấy?

Người đàn bà nhanh miệng nói thay tôi:

– À, tôi đi nuôi thằng con trai bên khoa ung thư nam, tôi có bà bạn nằm ở đây, ghé qua thăm bà ấy, tiện thấy bà mới chuyển xuống tôi ngồi chơi với cháu cho vui.

Mẹ tôi thều thào:

– Cám ơn bà.

Người đàn bà quay sang tôi bảo:

– Này, lấy cháo cho mẹ cháu ăn đi

Tôi gật đầu:

– Dạ.

Tôi cúi xuống lấy cái muỗng, rồi nói với mẹ:

– Mẹ ơi, bác nấu cháo cho mẹ nè, mẹ ăn một chút nhe, hôm qua đến giờ mẹ chẳng ăn gì hết. Để con đỡ mẹ dậy.

Mẹ tôi xua tay lắc đầu:

– Mẹ hãy còn đau ngực lắm, nằm thế này đỡ hơn.

– Nhưng mẹ phải ăn nữa, tay mẹ run quá rồi nè…thôi để con kê gối cao lên một chút cho mẹ dễ ăn nhe.

Tôi nhẹ nhàng đỡ đầu mẹ tôi lên, kê thêm gối phía sau đầu, rồi từ tốn múc từng muỗng cháo đút cho mẹ. Mùi thơm của hành tiêu, thịt bốc từ chén cháo làm tôi cũng thấy đói bụng. Tôi hỏi:

– Bác nấu cháo với gì mà thơm quá vậy bác?

– Bác nấu với ít thịt bò và nấm rơm đấy, xong bác còn nghiền nhừ hết ra cho dễ ăn mà.

Mẹ tôi mệt mỏi nói:

– Cám ơn bác, bác thật tốt bụng quá

– Có gì đâu, ngày nào tôi cũng nấu cho thằng con trai ăn, nấu ít thì khó nấu, thôi thì nấu nhiều đem vô biếu mỗi người một ít lấy thảo vậy mà. Bà ăn được hết chén là tôi vui lắm đấy, ráng ăn nhé.

Mẹ tôi hỏi:

– Cậu nhà đã khoẻ chưa hả bác?

– Cám ơn bà, mấy hôm nay cháu đỡ rồi. Nó bị ung thư máu, nằm ở đây cũng lâu rồi chưa biết bao giờ được về. Cái bịnh của nó cứ y như bịnh giả đò ấy.

Bà thở dài, im lặng một lúc bà tiếp:

– Tôi mới nghe cháu nó nói chuyện, thấy bà cơ cực, tội quá, một nách nuôi mười đứa con tuổi ăn, tuổi học, lại còn thăm nuôi ông nhà nữa. Giời ôi, tôi đây có năm thằng mà lớn hết rồi đấy, nuôi có mỗi thằng cả đi cải tạo thôi, mà còn thấy thân tàn sức kiệt với chúng nó.

– Ô, bác đến năm cậu con trai kia đấy! Mẹ tôi mỉm cười hỏi lại.

– Vâng, năm thằng, chưa thằng nào có vợ hết, tôi thích con gái bà lắm, hôm qua, thấy cháu săn sóc bà tỉ mỉ quá, tôi động lòng thương đến nói chuyện với cháu cho vui, nghĩ con gái gần gũi mẹ nhiều hơn con trai. Thế cháu năm nay được bao nhiêu rồi, có đám nào chưa đấy?

Mẹ tôi nhỏ nhẹ nói:

– Dạ chưa bác ạ, cháu đã 22 rồi, mà bác xem, chạy ăn hai bữa chưa xong thì đâu dám nghĩ đến chuyện mối lái gì cho cháu.

Nguời đàn bà nhìn tôi cười:

– Giời ơi, 22 gì mà bé tí thế kia, nhìn cứ như là đứa 18, 19 đấy.

Tôi cười nói đỡ:

– Tại cháu nhỏ con nên nhìn từ xa ai cũng tưởng cháu còn trẻ…chứ lại gần thì tuổi nào ra tuổi đó bác à.

– Giòng họ nhà chim chích đấy bác. Mẹ ngắt ngang lời tôi nói đùa

Cuộc trò chuyện có vẻ thêm vui, nên mẹ tôi đã ăn hết cháo, tôi lấy khăn lau miệng và rót nước cho mẹ uống. Ngồi nghe chuyện bên mẹ một lát, tôi đứng dậy nói:

– Mẹ ơi, con đi ra ngoài một chút nhe.

– Đi đâu?

– Con đi quanh quanh gần đây thôi, có gì mẹ gọi con nghe mà.

Người đàn bà nói:

– Để cháu nó đi ra ngoài cho thoáng một tí bà ạ. Hình như gần đây bệnh viện có mở T.V cho thân nhân người bệnh xem đấy.

Tôi nhìn mẹ chờ phản ứng, mẹ tôi gật đầu:

– Ừ thì đi đi.

Tôi chỉ bước ra goài cửa có vài bước, đứng tựa vào cánh cửa nhìn mông lung suốt dãy hành lang trước mặt, căn phòng này gồm có 3 cửa ra vào, giường của mẹ tôi nằm gần ngay cửa chính trông ra hành lang, đối diện phía bên kia cửa chính là một cái cửa khác dẫn ra sân sau của bệnh viện, nơi đó có vài cái ghế băng và một vườn hoa nhỏ. Phía cuối phòng cùng bên với cửa chính lại có một cánh cửa khác thông ra hành lang và nhà vệ sinh. Từ cánh cửa này, tôi cũng có thể đi vòng ra vườn sau của bệnh viện. Chợt tôi để ý thấy một người thanh niên mặc bộ đồ bệnh nhân màu trắng, đi tới đi lui phía ngoài cửa ở cuối phòng. Anh cứ dòm dòm vào trong như tìm kiếm ai đó. Rồi tôi thấy một người đàn bà bước ra, nói gì với anh và chỉ về hướng phía tôi. Tôi liền quay vào phòng trở lại.

o O o

Cuộc nói chuyện giữa mẹ tôi và người đàn bà tốt bụng vẫn còn đang tiếp tục. Tôi lại gần cuối chân giường quay lưng ra phía cửa xếp vài cái khăn lại cho gọn, bỗng tôi nghe tiếng gọi nho nhỏ:

– Mẹ, mẹ

Người đàn bà tốt bụng và tôi cùng quay ra, tôi hết sức kinh ngạc, mắt tôi mở to hết cỡ nhìn người thanh niên trước mặt, chân tay tôi bỗng run rẩy, tim tôi đập loạn xạ. Đầu tôi quay cuồng với một câu hỏi cứ lập đi lập lại, là anh, lại là anh sao? Sao lại là anh kia chứ? Người con trai của bà mẹ đau khổ mà tôi vừa mới nghe qua trong nước mắt. Tôi thảng thốt gọi:

– Trời ơi! Anh Phú!

Người đàn bà cũng ngạc nhiên lên tiếng:

– Ủa, cháu biết thằng Phú nhà tôi à.

Phú như người bị chết cứng vài giây, anh nhìn tôi sững sờ, ánh mắt nồng ấm, tha thiết năm xưa bây giờ là tuyệt vọng, chán chường, đau xót. Anh run giọng gọi:

– Quỳnh Mai.

Người mẹ hết nhìn tôi rồi nhìn anh. Cả hai chúng tôi mắt vẫn không rời nhau. Phú gầy đi nhiều, da anh trắng bệt, trên cặp môi dày vẫn hàng ria mép quen thuộc, nhưng nụ cười ngạo mạn không còn nữa, cặp môi dày đã héo khô, hố mắt anh trũng sâu xuống như bị bầm…Tôi biết trong mắt anh , tôi cũng tiều tụy không kém …

– Đi vào đây, làm cái gì mà đứng chết trân ra đấy hả? Mẹ Phú vừa nắm tay anh vừa kéo lại gần chỗ mẹ tôi nằm, bà nói với mẹ tôi: – Đây thằng con trai của tôi đây, đâu có biết nó cũng quen con gái bà.

Phú gật đầu chào mẹ tôi. Tôi cố nén xúc động mếu máo nói:

– Anh Phú là bạn học chung trường với con hồi xưa đó mẹ, ảnh có chở con về nhà một lần lúc con đi lao động.

Mẹ tôi à nhỏ, tôi nghe Phú nói:

– Hôm qua, mẹ con có kể về bác mới chuyển xuống, mẹ cứ khen cô con gái của bác, đâu có ngờ lại là Quỳnh Mai. Hôm nay bác đỡ nhiều chưa bác?

– Cám ơn cậu, đỡ nhiều rồi. Mẹ cậu thương mà nói đỡ cho Mai chứ, em nó còn chậm chạp lắm.

Mẹ Phú nhìn anh ngọt ngào hỏi:

– Đã ăn cháo chưa con? Muốn mẹ về phòng hay sao mà sang đây tìm?

Phú lắc đầu:

– Con không thấy đói, bác sĩ bảo ngày mai con đi xét nghiệm tủy lại lần nữa, con muốn tìm mẹ nói cho mẹ biết thôi. Mẹ thấy ở đây vui thì cứ ngồi trò chuyện với bác.

– Không đói cũng ráng ăn con ạ, mày biếng ăn quá, cứ sụt cân hoài, có sức khoẻ đâu mà được về.

Phú cười nhẹ:

– Con muốn ra ngoài nói chuyện với Mai một chút, bạn cũ lâu quá mới gặp lại.

Mẹ Phú nhanh nhẹn tán thành:

– Ừ đi đi, hai đứa ra vườn sau mà nói chuyện.

Tôi nhìn thấy ánh mắt miễn cưỡng đồng lòng của mẹ rồi quay đi. Phú bước ra sân sau của bệnh viện trước, tôi nói với mẹ:

– Con ngồi ở vườn sau này thôi mẹ à. Có gì mẹ gọi con nhe.

Mẹ Phú nói nhanh:

– Con gái săn sóc mẹ kỹ thế, có bác ở đây rồi cứ yên tâm.

Tôi nhìn bà với ánh mắt biết ơn nói nhỏ:

– Cháu cám ơn bác.

Tôi bước ra ngoài, thấy Phú ngồi trên chiếc ghế băng. Anh đang khum tay đốt huốc hút. Hình ảnh đó gợi lại cho tôi ngày nào cách đây sáu năm trong vườn Tao Đàn, anh và tôi cùng ngồi trên chiếc ghế băng dưới tàng cây xanh. Thấy tôi, Phú đưa tay gạt mấy chiếc lá khô trên ghế rồi nói:

– Ngồi đi Mai.

Tôi nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế, nhìn anh u uẩn. Phú nói giọng vui vui:

– Anh không ngờ mình gặp lại nhau ở đây, đúng là trái đất tròn. Mai có gặp lại người bạn học cũ nào lúc trước không?

– Em có gặp Hảo vài lần, Hảo bây giờ dạy Việt Văn lớp 9 ở trường Bàn Cờ. Còn Ngọc Dung thì em bặt tin từ khi nghe Dung đậu vào sư phạm ở Đàlạt. Kiều Nga thì về quê lấy chồng, thế thôi, em không gặp ai nữa hết. Còn anh?

– Lúc trước anh có gặp Hạnh thường lắm. Có dạo hai thằng cũng đi buôn chung…

Tôi ngắt lời Phú hỏi ngay:

– Chuyện Thùy Dương với Hạnh thì sao anh?

– Thùy Dương với Hạnh chia tay nhau ngay sau khi học xong, Thùy Dương đi vượt biên với gia đình, bỏ Hạnh lại bơ vơ. À, em có nhớ Quế Mai không?

Tôi gật đầu:

– Em nhớ, hồi đó ai cũng đồn anh “yêu” chị Quế Mai dữ lắm mà không phải.

Phú bật cười:

– Ừ, mấy đứa đồn bậy lên để ghẹo thằng Vũ đó, chứ Quế Mai với anh là bà con mà. Quế Mai với Vũ lấy nhau rồi, có một đứa con gái.

– Ồ, vậy hả anh, Ủa mà anh với chị Quế Mai bà con làm sao?

– Mẹ của Quế Mai với mẹ anh là hai chị em con dì.

Tôi à nhỏ, rồi hỏi tiếp:

– Anh có biết Ngọc Yến không?

– Biết, Ngọc Yến bồ với Cường bạn anh, bà đó dữ như chẳng lửa, ai không biết danh. Nghe nói hai đứa định lấy nhau không biết sao rồi lại chia tay. Mà chia tay cũng phải, thằng Cường mà dính vô bà đó là thân bại danh liệt.

– Anh nói gì ghê vậy?

– Ừ, anh nói thiệt đó, lúc hãy còn là bồ nhau mà Yến đã ong óng cái miệng chửi thằng Cường trước mặt bạn bè. Thằng Cường nhịn riết rồi chịu hết nổi luôn.

– Em không biết nhiều về chị Yến đó.

Phú rít một hơi thuốc, nhả khói, rồi chậm rãi hỏi:

– Mai bây giờ làm gì?

– Dạ, em đang dạy Mẫu giáo

Phú nói giọng cay đắng:

– À, chắc em phải dạy mấy đứa bé hát bài: “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ” mỗi ngày phải không?

Tôi lắc đầu:

– Không, em không bao giờ hát bài đó hết, dù nó có trong chương trình. Không phải một mình bài đó, mà tất cả những bài nào ca ngợi đảng và bác em không hề đụng đến.

Phú cười khẩy:

– Thế sao em lại chọn ngành này làm gì?

– Em không có sự lựa chọn, chỉ cần một việc làm để có đồng lương ổn định giúp mẹ.

Phú im lặng, tôi buồn rầu nói:

– Khi em học xong trung học, nhà ngày càng sa sút, nhiều chuyện buồn đến dồn dập, ba em thì bị chuyển trại khác. Mẹ không còn khả năng đi thăm nữa, chỉ có thể gửi đồ mà thôi. Mẹ lại bắt đầu bị bệnh, nhà nước cắt giảm số lượng gạo, chỉ bán khoai lang, mì sợi. Ở nhà em lúc đó mẹ không kiếm đủ tiền chạy ăn hàng bữa. Tụi em phải ăn bất cứ cái gì có thể ăn được mà không chết, ngay cả mì sống, hột mít, vỏ dưa, rau chuối, bã đậu. Vì vậy em phải vào ngành này như một cứu cánh để sống sót.

Nói tới đây, tôi bị ứa nước mắt, sụt sịt một lúc, tôi nức nở tiếp:

– Vào làm việc trong ngành này em mới thấy thương trẻ con hơn, những đứa bé con nhà nghèo, lem luốc như mấy đứa em của em vậy.

Tôi nghe tiếng Phú thở dài, hình như đã có một khoảng cách vô hình nào đó giữa tôi và anh thật xa, thật khác, thật nhạt nhẽo. Phải chăng khoảng cách của sáu năm bị vùi dập trong bão táp cuộc đời đã làm anh thay đổi? Bỗng Phú nắm lấy tay tôi nhẹ nhàng nói:

– Mai, đừng khóc nữa, anh hỏi thế tại vì anh bị dị ứng với hai chữ mẫu giáo.

Tôi ngạc nhiên:

– Tại sao?

Anh buồn buồn nhìn theo khói thuốc:

– Có lần anh đi lao động ở một nông trường gần nhà dân, ở gần đó có cái trường mẫu giáo, ngày nào anh cũng nghe cô giáo dạy những đứa bé hát nhiều bài hát về bác Hồ, anh nghe đến nhức cả tai, rợn cả mình. Từ đó anh ghét hai chữ mẫu giáo. Rất may là anh không có cháu ở tuổi đi học mẫu giáo. Nếu có, chắc anh bị điên mất vì nghe nó hát suốt ngày những bài hát đó.

Tôi im lặng nhìn lên bầu trời đêm, tôi không muốn nói hay giải thích gì thêm với anh về cái nghề tôi đang theo đuổi nữa. Một vầng trăng lưỡi liềm nhỏ bé đang nằm tít ở xa. Đêm nay trời không có sao, cũng không có gió. Trời đêm thật yên tĩnh quá! Tôi cảm giác tay Phú xiết chặt lấy tay tôi mạnh hơn:

– Em gầy quá Mai à.

– Anh cũng gầy đi nhiều lắm, em đã nghe mẹ anh kể về cuộc sống của anh, sao mà thảm thương quá vậy? Sao mình lại gặp lại nhau trong hoàn cảnh này chứ?

Phú nhìn chằm chặp lên bầu trời:

– Khi gặp lại em, anh rất mừng rồi lại muốn chạy trốn em ngay mà không làm được, mình đã nhìn thấy sự tàn tạ, cơ cực của nhau, thì trốn làm gì nữa.

Anh ngừng lại rít một hơi thuốc dài rồi tiếp:

– Lúc anh bị tù tội, anh đã nghĩ đến cái chết rất nhiều lần, có lúc quá uất ức, anh đã muốn đánh cho chết mấy thằng cán bộ “láu cá” rồi tự tử, nhưng rồi nghĩ đến mẹ cứ phải cố sống. Chứ cuộc đời có còn ý nghĩa gì với anh nữa đâu.

Tôi lại nghe tiếng thở dài của Phú, đúng, anh nói đúng cuộc đời này có ý nghĩa gì đâu. Số phận của tuổi trẻ chúng tôi thật là bi đát trong mỗi hoàn cảnh thê lương khác nhau, khốn nạn nhất là khi phải đương đầu với cái nghèo đói, mà có lúc nó đã vật ngã giá trị con người xuống gần như con vật. Còn bao nhiêu nỗi bất hạnh của những trẻ thơ lạc loài, bao nhiêu sự đau khổ của những gia đình tan nát.

Phú hỏi tôi:

– Mẹ em chắc mới nhập viện hả? Mẹ bị làm sao vậy?

– Mẹ em bị ung thư ngực, đêm hôm trước mẹ vào phòng cấp cứu nằm một ngày rồi chờ đến hôm qua bác sĩ mới cho chuyển xuống khoa ung thư này. Trời thương cho mẹ với em gặp được mẹ anh, bác thật là tốt, lại hiền hậu làm sao.

Phú nhìn tôi cười nhẹ:

– Mẹ anh thích con gái lắm, hồi trước khi còn đi lính, mẹ anh cứ giục tụi anh lấy vợ, có con dâu trong nhà cho bà đỡ đơn chiếc. Ba anh thì mất rồi, còn năm thằng cứ đi hành quân biền biệt, mẹ ở nhà một mình lúc nào cũng buồn, phập phồng lo lắng. Rồi Phú hạ giọng buồn bã -Anh cũng bị chứng bệnh ung thư oan nghiệt đó, chắc em biết rồi chứ?

Tôi nói nhỏ:

– Em biết, bệnh của anh phát ra từ lúc nào vậy?

– Anh nghĩ nó cũng lâu lắm rồi mà không biết thôi. Trong mấy năm tù tội, anh có được khám bệnh tử tế đâu. Toàn một bè lũ bác sĩ rừng rú “tập kết” vào cả, không ai nhìn thấy cái bạch cầu trong anh nó đang ăn lần mòn hồng cầu. Anh thường hay bị xỉu vì thiếu máu trầm trọng, hay đau nhức các khớp xương… Mãi sau này, chúng thấy anh quá yếu cũng chẳng điều tra được gì nên chúng thả cho anh về. May anh gặp một ông bác sĩ nội khoa quen đã từng đi tù với anh trai lớn của anh, ông ấy khuyên anh đi xét nghiệm tủy xương để xem có ung thư không. Kết quả làm cho anh thấy choáng váng, hoảng sợ, người hoảng sợ hơn nữa là mẹ anh.

Từng lời nói của Phú như mũi kim chích vào lòng tôi đau nhói. Tôi nhìn Phú mắt rưng rưng, sao cuộc đời của anh lại khổ như thế?? Anh vào lính ở tuổi rớt tú tài 1, xông pha chiến trận với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với những hy sinh cao quí, những đóng góp vô vụ lợi. Chỉ một mơ ước cho nền hoà bình chân chính và lý tưởng tự do muôn năm. Nhưng rồi, sự biến đổi tai ương ập đến, chiến tranh chấm dứt trong sự uất hận, tủi nhục của hàng triệu trái tim người lính yêu quê hương trong đó có anh, có hình ảnh của cha tôi. Kẻ chiến thắng đã tạo dựng một nền hoà bình khốn khổ, mở ra chính sách giam cầm, đày ải, bắt bớ. Cha tôi, anh trai của Phú; và luôn cả Phú là những người trong biết bao nhiêu người lính đã bị tước đoạt đi quyền công dân một cách oan ức trong gông cùm tù tội. Riêng Phú, cuộc đời đã không hoan hỉ đón anh trở lại với căn bịnh ung thư tàn ác, cùng lưỡi hái tử thần đang kè kè bên cạnh, sẵn sàng cướp đi mạng sống của anh bất cứ lúc nào. Hỡi ôi, cái nền hoà bình hôm nay đã như là một địa ngục trần gian đang giết dần, giết mòn những người trẻ tuổi như anh, như tôi. Bóng đêm đang vây quanh chúng tôi một màu đen dày đặc, trên trời không có chút ánh sao hy vọng nào. Sự yên tĩnh của trời đất hôm nay sao nghe áo não quá…

– Ngày mai em vẫn ở đây với mẹ em phải không? Phú lên tiếng

Tôi gật đầu:

– Em chỉ vào đây với mẹ buổi tối, ban ngày thì mấy đứa em thay phiên nhau trông coi mẹ.

– Tối mai anh sẽ đem harmonica qua đây thổi em nghe cho vui.

Tôi cười trong nước mắt:

– Thiệt hả, anh có còn khoẻ để thổi không?

– Còn chứ, nó là liều thuốc khoẻ của anh đó. Không có nó anh đã chết từ lâu rồi. Nhiều khi chỉ cầm nó lên thôi mà anh cũng thấy vui vì nhớ đến em, nhớ giọng hát trong sáng ngày xưa.

Tôi xúc động, nước mắt lại tuôn, Phú vén một bên tóc tôi lên, tiếng anh thì thầm bên tai:

– Đừng khóc nữa em.

Rồi Phú đưa bàn tay nâng mặt tôi lên, anh rút cái khăn tay trong túi ra nhẹ nhàng lau nước mắt cho tôi. Tôi nắm lấy tay anh, giữ lại cái khăn cho mình.

Phú nói tiếp:

– Em khóc nhiều quá, coi chừng bị hư tuyến lệ đó, có khi còn bị ung thư nữa, em có nghe nói ung thư tuyến lệ bao giờ chưa?

Tôi ngạc nhiên:

– Em chưa nghe bao giờ, mà có bệnh đó thiệt hả?

Giọng Phú cay đắng:

– Có chứ, mình đang sống trong một xã hội ung thư mà, cái gì cũng có thể làm cho mình ung thư đến nhức nhối rồi chết.

Vừa lúc ấy có tiếng mẹ Phú gọi anh, tôi quay vào, Phú cũng theo sau. Cuộc trò chuyện của hai bà mẹ đã vãn hồi, mẹ Phú chắc đã mệt và trời cũng đã khuya nên bà gọi Phú về. Phú nháy mắt nhìn tôi: -Anh về nhé, tối mai anh sang.

Phú chào mẹ tôi rồi bước đi. Tôi nhìn theo bóng dáng gầy còm của anh, lòng dạt dào thương cảm, nghĩ đến tối mai sẽ được nghe lại tiếng kèn harmonica ngày trước, tôi thấy vui vui một chút.

o O o

Tối nào mẹ con Phú cũng sang thăm mẹ tôi và người bạn của bà, nên tôi có dịp ngồi trò chuyện với Phú lâu hơn. Anh thổi cho tôi nghe những bài hát cũ. Vẫn giai điệu của bài “Đốt Lá Trên Sân” mở đầu mỗi tối. Tiếng kèn đã mang tôi về với kỷ niệm một thời học trò thích hát hò vớ vẩn, với những mơ mộng thơ ngây, những tưởng tượng phiêu lưu thật đẹp, và những tình cảm e ấp của tuổi mười sáu. Bây giờ, mới có sáu năm qua thôi mà mộng mơ trong tôi đã cạn kiệt, tôi không còn hứng thú để hát theo tiếng kèn của anh nữa vì bệnh nhân ngồi chung quanh rất đông và “nhạc vàng “cũng đang bị cấm. Để tránh sự bình phẩm với vài cặp mắt soi mói của những bà mẹ đau ốm, cùng những người nuôi bệnh, tôi chỉ ngồi nghe tiếng kèn êm ả của Phú một cách thầm lặng. Hình như ngồi bên tôi, Phú thổi hăng say hơn. Âm thanh như chứa chan một niềm vui thoang thoảng trong hương đêm nồng dịu.

Chỉ gặp laị nhau tối tối có vài tiếng đồng hồ thôi, mà tình cảm như đã được hâm nóng lại qua tiếng kèn. Tôi thấy Phú vui hơn, mẹ anh cũng vui và hay tìm đến tôi nói:

– Nhờ gặp lại cháu, thằng Phú dạo này đã bớt buồn, nó không bỏ ăn nữa. Bác mừng lắm.

Bà còn nói, Phú cứ mong cho trời mau tối để được gặp tôi, có khi một ngày anh cứ xem đồng hồ đến cả chục lần. Ngoài tôi ra, anh có còn quen ai nữa đâu. Câu nói đó đã làm tôi thật cảm động, tôi nghĩ đến phận mình. Tôi cũng có biết ai ngoài anh đâu, một người bạn quí mến, một người đã từng là lính thật đáng yêu, một người tù lao khổ, một người bệnh …sắp chết… Tôi cũng vui khi được ngồi cạnh anh, rồi lại lo sợ một ngày nào đó tôi sẽ mất anh vĩnh viễn.

Sau một tuần lễ tôi và Phú gặp nhau thì mẹ tôi có giấy cho xuất viện. Tôi được bác sĩ gọi riêng vào với lời nhắn nhủ là về nhà hãy để mẹ tôi ăn uống tự do theo ý thích của mẹ, và chờ đợi. Tôi hiểu được điều ẩn ý đó như đã hết phương cách cứu chữa, nhưng tôi không dám nói cho một ai trong nhà biết, tôi cũng còn hy vọng mẹ tôi sẽ qua khỏi… Mà mẹ tôi khoẻ ra thật, trước ngày xuất viện, mẹ tôi đi lại trong phòng thăm hỏi, trò chuyện với những bà mẹ đau ốm khác rất vui vẻ. Tối hôm đó, mẹ còn bảo tôi dắt mẹ sang phòng ung thư nam để thăm mẹ con Phú và chào từ biệt cho phải lễ. Mẹ Phú vui cho mẹ tôi được khoẻ lại, bà cười với đôi mắt ngấn lệ, tôi biết bà đang vui và cũng đang buồn. Nỗi buồn lo cho Phú nếu không còn gặp được tôi nữa, trạng thái của Phú sẽ ra sao? Tôi đứng bên mẹ, không dám nói chuyện nhiều với anh như mọi lần. Chúng tôi chỉ nhìn nhau trong im lặng, sự im lặng não nề, thê thảm. Lần đầu tiên kể từ khi gặp Phú, hôm nay tôi mới thấy long lanh trong mắt anh những giọt nước đầy ắp như chực trào ra. Phú quay nhìn chỗ khác, rồi lẳng lặng đi ra ngoài. Mẹ Phú nghẹn ngào nói với mẹ tôi:

– Bình thường ra, nếu thằng Phú nhà tôi khoẻ mạnh, tôi cũng đem trầu cau sang dạm hỏi cháu Mai nhà bà cho nó. Thấy thằng Phú quyến luyến con gái bà lắm. Nhưng khổ thân cho số phận con tôi…

Rồi bà khóc nấc lên; mẹ tôi vội vỗ vai bà an ủi:

– Em xin bác, xin bác đừng buồn, con người ai cũng có một phần số trời định cả. Cháu Mai nhà em được bác thương tưởng đến, thật là quí hoá. Chúng nó không có duyên phận với nhau em cũng tiếc.

Nhìn hai bà mẹ bên nhau, tôi không cầm lòng được. Nước mắt tôi lại rơi, mũi tôi nghẹt cứng lại. Cầm tay bà tôi nói:

– Cháu sẽ cố gắng đến thăm bác và anh Phú.

Mẹ Phú nắm chặt tay tôi:

– Cháu cố giúp bác đến an ủi nó được ngày nào hay ngày đó. Rồi quay sang mẹ tôi – xin bà cho phép cháu bà nhé.

Mẹ tôi rơm rớm nước mắt gật đầu, bảo tôi:

– Ra nói với anh Phú vài câu đi rồi mai mình về.

Tôi dạ nhỏ rồi chậm rãi bước ra ngoài. Tối nay, tôi cảm thấy mình không được khoẻ, chân tay tôi cứ run rẩy hoài. Ruột gan tôi như có ai đang cào cấu đến xót xa, ồ, cái đói đang hành tôi đây mà! Mấy hôm nay, phần ăn ở nhà của chúng tôi chỉ là những củ khoai mì khiêm tốn, những chén rau muống chẻ trộn muối…Không có một hột cơm nào. Tôi nhìn chung quanh cái vườn nhỏ không thấy Phú đâu, rồi thẫn thờ bước lại phía khung cửa sổ nơi có một cây xanh to gần đó. Dựa vào khung cửa, tôi nhìn lên bầu trời đêm để tìm một ánh sao; ánh sao của niềm mơ ước, ánh sao của sự hy vọng. Tôi cứ giương mắt nhìn mà không tìm thấy một mơ ước, hay một hy vọng nào trên bầu trời đen có vẻ ma quái này. Có tiếng động nhẹ bên cạnh mà tôi không hay biết. Phú đã đang đứng bên tôi từ lúc nào. Tôi vẫn đang bận tìm một ánh sao trên bầu trời đen thăm thẳm, không chú ý đến bàn tay anh choàng qua vai tôi, môi anh lướt nhẹ trên trán tôi, mắt tôi và rồi vội vã tìm môi tôi. Trong giây phút bất ngờ, tôi vừa mắc cỡ, vừa sợ, cố đẩy anh ra, nhưng vòng tay ốm yếu của anh vẫn xiết chặt lấy tôi. Tiếng anh thì thầm:

– Em hé môi ra một chút anh mới hôn được.

Tôi ngơ ngác vài giây, tròn mắt nhìn anh:

– Anh nói cái gì hả?

Chợt Phú bật cười to:

– Trời ơi, hé môi chứ không phải là há miệng, em làm cái gì mà nhìn anh như người từ hành tinh khác tới vậy? Anh đây mà.

Tôi mắc cỡ, cố gỡ tay Phú ra:

– Anh bỏ tay ra đi, sao anh gan quá vậy, lỡ mẹ em hay ai ra đây thấy thì sao.

Phú xiết vai tôi mạnh hơn:

– Ai ra đây làm gì, mà anh biết mẹ em sẽ không bao giờ ra đây.

Dứt lời Phú đưa tay kéo mặt tôi lại gần sát và anh cúi xuống đặt lên môi tôi một nụ hôn. Tôi vụng về đón nhận nụ hôn của anh với những cảm xúc lộn xộn trong lòng. Một nỗi xót thương, một thoáng đam mê kỳ diệu, một vị ngọt lẫn trong vị đắng từ vành môi khô nồng mùi thuốc lá. Tôi như ngộp thở trong nụ hôn đầu đời ấy, run tay muốn đẩy Phú ra mà không nỡ. Tôi nhủ thầm, thôi vậy, mình không thể tiếc anh một nụ hôn khi anh không còn sống được bao lâu. Lẽ ra, tôi đã muốn tặng Phú thêm nhiều nụ hôn nữa cho sự mất mát của cuộc đời anh, cho một tình cảm anh đã dành trọn cho tôi từ thuở còn đi học…Lời của mẹ Phú còn lùng bùng bên tai tôi: “Cố giúp bác, an ủi nó được ngày nào hay ngày đó”. Trời ơi nghe sao buồn thảm quá, sao tình yêu của tôi lại tuyệt vọng như thế. Sao tôi và anh lại gặp nhau trong hoàn cảnh đau đớn như vầy?

Nghĩ đến đây, tôi chợt oà khóc nức nở:

– Không, em không muốn anh bỏ em đi đâu, anh phải ráng lên, vì mẹ anh, vì em hãy cố sống, anh phải cố gắng sống.

Phú vuốt tóc tôi dỗ dành:

– Kìa, nín đi em, anh sẽ cố mà.

Tôi vẫn khóc, nước mắt tôi tràn ra tức tưởi. Tôi hận cuộc đời đã gây sóng gió cho anh. Tôi thù ghét những kẻ độc ác đã hành hạ anh trong lao tù, tôi phẫn uất cái căn bệnh quái ác đang lan trong cơ thể anh. Tôi ước sao mình có được một sự mầu nhiệm nào đó, tôi sẽ đập gãy cái lưỡi hái tử thần đang rình rập cuộc sống của mẹ tôi và anh. Tôi thấy bên vai áo của Phú ướt đầm, rồi bất chợt tôi bị lạnh run lên, tiếp đến là cảm giác chóng mặt khiến tôi loạng choạng trong tay Phú. Ngực tôi nặng và tôi như bị nghẹt thở. Có phải thân tôi đang chết dần với Phú không, mệt mỏi làm tôi thiếp đi từ từ. Tôi nghe tiếng Phú gọi hốt hoảng:

– Quỳnh Mai, Quỳnh Mai.

Bàn tay ai đã lay tôi thật mạnh, nhưng tôi không còn sức và không còn biết gì nữa…

Tôi đã thức tỉnh ngay sau cái lay mạnh. Mở mắt ra tôi thấy khuôn mặt lo lắng của ba người. Tôi cố chống tay ngồi dậy, không, tôi không thể đau ốm, tôi phải khoẻ để còn lo cho mẹ tôi, để còn phải chu toàn bao nhiêu trách nhiệm của một đứa con gái lớn trong gia đình. Và còn phải hoàn thành sự mong đợi của mẹ Phú đang cậy nhờ tôi, phải cố an ủi anh được ngày nào hay ngày ấy. Mẹ Phú và mẹ tôi ngăn không cho tôi ngồi dậy, tôi nói:

– Con không làm sao cả, con chỉ bị mệt chút thôi. Con muốn đi về lại phòng mình.

Giọng Phú lo lắng:

– Em có chắc là đã khoẻ hẳn chưa? Hồi nãy Mai làm anh sợ quá.

Tôi cương quyết nói là tôi không làm sao cả và hối thúc mẹ tôi về phòng, bởi tôi biết tôi đang bị mệt vì quá đói và vì quá xúc động. Phú muốn đi với tôi về phòng thì người y tá của anh đã đến để lấy máu cho anh. Thật là may quá, tôi cũng không muốn anh đi theo tôi về phòng lúc này.

Về phòng, tôi vội vã lục giỏ đồ ăn của mẹ, chỉ còn nửa bát bánh canh mẹ ăn dở, nguội ngắt. Tôi cầm ngay lên định húp, chợt nhớ lời bác sĩ dặn phải cách ly ăn uống riêng với mẹ. Tôi ngần ngừ, cơn đói lại gào thét trong tôi dữ dội, không, không, mặc kệ cái con vi trùng phổi khốn kiếp nào đấy. Cứ ăn, mình phải sống trước khi nó đánh gục mình, không do dự lâu hơn, tôi húp hết bát bánh canh có lẫn những giọt nước mắt mằn mặn rơi trong ấy.

o O o

Sinh hoạt của gia đình tôi trở lại bình thường, chúng tôi vui mừng thấy mẹ đã khoẻ. Mẹ tôi bắt đầu nhận lại hàng đan len mỗi ngày. Tôi cũng mở thêm một lớp dạy kèm trẻ tại nhà sau giờ làm việc ở truờng và dành buổi tối để đến thăm Phú. Những lần gặp nhau tuy rất ngắn ngủi mà tình cảm đã càng nảy nở, và dù sự nảy nở đó chứa đựng bao lo âu, phiền muộn, nó vẫn làm cả hai chúng tôi cảm thấy vui khi ngồi bên nhau. Phú thổi harmonica cho tôi nghe những bài nhạc Pháp xưa cũ, anh còn giải thích cho tôi biết nội dung của bài hát ấy nói lên điều gì. Ngoài ra anh cũng thổi thêm những bài nhạc quân hành hùng tráng như bài “Xuất Quân”, “Chiến Sĩ Vô Danh”. Tiếng kèn của anh đã xoa dịu phần nào nỗi đau của hai chúng tôi trong thực tại, gieo lên niềm mơ ước xa xôi, một ánh sáng hy vọng nhỏ nhoi từ ngôi sao xa tít tắp mãi chân trời. Một chút hạnh phúc tạm bợ tràn đầy thương yêu, cảm xúc nồng nàn để đêm về được tìm lại nhau trong giấc mộng dài…

Tôi đến thăm Phú thêm vài buổi tối nữa thì được tin anh xuất viện giống như tình trạng của mẹ tôi, về nhà, nghỉ ngơi ăn uống tự do, và chờ đợi. Đêm cuối cùng bên anh, trời có trăng và đầy sao thật đẹp. Phú rủ tôi đến ngồi trên một tảng đá dài, chỗ khuất sau cái cây to bên cạnh khung cửa sổ. Bóng trăng đã theo chúng tôi vào tận nơi đây, soi ánh sáng vàng êm dịu. Tôi nhìn lên bầu trời ngắm hằng hà vì sao sáng. Phú hỏi tôi có biết sao nào là sao mai không? Tôi lắc đầu, anh chỉ cho tôi vì sao nào sáng nhất là sao mai, cả hai chúng tôi đều nhìn lên trời để tìm một vì sao sáng nhất, sao mai. Ngôi sao tôi thường gọi là sao hy vọng. Hôm đó, tôi mang nhiều kẹo bạc hà cho Phú, anh lấy làm lạ hỏi tôi tại sao. Tôi nói, dạo này tôi hay mua kẹo dự trữ, phòng khi có đói bụng thì lấy kẹo ra ngậm. Vị ngọt của kẹo sẽ giúp cơ thể tôi chống chọi với cơn đói lâu hơn. Phú nhìn tôi thương xót, anh vuốt tóc tôi nói nhỏ:

– Tội cho em quá!

Tôi bóc một cục kẹo cho Phú, bắt anh phải ngậm. Phú bỏ cục kẹo vào miệng cười cười:

– Con trai đâu có ăn kẹo như con gái đâu, em làm như anh là con nít không bằng.

Tôi chớp mắt nhìn anh:

– Em muốn anh ăn kẹo với một mục đích khác nữa, anh biết không?

– Mục đích gì thế?

Tôi cúi đầu ấp úng:

– Khi nào… anh… hôn… em, em sẽ ngửi được mùi bạc hà trên môi anh và… cảm nhận vị ngọt của kẹo vào môi em.

Phú bật cười:

– À ra vậy, sao mãi tới giờ em mới cho anh ăn kẹo. Rồi anh đưa mặt sát lại gần tôi – Bây giờ mình thử liền được không?

Tôi lắc đầu đẩy anh ra:

– Bây giờ chắc không được rồi, tại trăng đang ngó mình trừng trừng kìa.

– Kệ trăng, ồ mà trăng đang làm chứng cho tụi mình đó.

Tôi gục đầu xuống gối:

– Không, không cần trăng chứng giám, đợi trăng đi ngủ đã.

Tôi nhớ lại những nụ hôn tội nghiệp của Phú gần đây, và sự đón nhận nghẹn ngào, đau xót của tôi trong cảm giác đắng ngắt từ vành môi anh. Tôi cố gắng tưởng tượng ra nó là vị ngọt của tình yêu mà không được, vị đắng vẫn là vị đắng lẫn với nước mắt mặn cay. Tôi biết bệnh anh đang vào thời kỳ cuối…

Phú lay nhẹ vai tôi:

– Em khóc đó hả?

Tôi ngẩng lên nhìn Phú buồn bã nói:

– Anh về nhà ráng ăn nhiều cho khoẻ, để hồng cầu tăng lên thì anh mới mau hết bệnh. Anh cũng đừng hút thuốc nhiều nữa.

– Anh đã cố bỏ thuốc một lần, nhưng rồi buồn quá phải hút lại. Mai à, anh về nhà rồi, em có dám đến nhà anh chơi không? Nếu được gặp em mỗi tối cho đến khi anh nằm xuống thì anh hạnh phúc biết chừng nào.

Tôi rơm rớm nước mắt, nói với Phú, tôi rất muốn đến an ủi anh được ngày nào hay ngày đó như mẹ anh đã cậy nhờ và như lòng tôi ao ước sẽ được ở bên anh mãi. Nhưng tôi không có xe đạp, đi đâu cũng chỉ toàn đi bộ. Hiện giờ tôi đến với anh mỗi tối là vì nhà tôi gần bệnh viện, mai này anh về nhà rồi, đường đến thăm anh sẽ xa hơn, nhiều trở ngại hơn cho tôi… Phú cũng hiểu được điều đó, nên anh chỉ im lặng. Biết anh buồn, tôi nắm lấy tay anh nói thêm:

– Em sẽ cố gắng đến thăm anh vào ngày chủ nhật nếu em rảnh.

Phú vén tóc tôi lên thì thầm:

– Anh sẽ đợi, ngừng một chút, Phú chợt nói- Mai à, có lúc anh đã nghĩ nếu anh không bị bệnh, không biết chuyện của mình có thành không? Vì anh chỉ là một thằng trung sĩ quèn đến hỏi em, con của một vị sĩ quan, chà chuyện đó thật là khó…Cuộc sống có những cái qui luật của lễ giáo và môn đăng hộ đối ràng buộc, anh thấy mình khó có thể vượt qua những điều đó.

Câu nói bất ngờ của Phú cũng làm tôi suy nghĩ. Nếu ngày hoà bình tối đen không xảy đến và nếu tôi chưa yêu thương một ai, chắc chắn vấn đề hôn nhân sẽ không thể do tôi tự quyết định. Bởi quan niệm “cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đó” và một chân lý muôn thuở rằng: “tình yêu sẽ đến sau hôn nhân” đã ăn sâu vào mạch huyết của cha mẹ tôi. Tôi không hình dung được có sự đổi khác nào với quan niệm đó trong gia đình tôi bây giờ.

Tôi nhìn Phú thành thật nói:

– Em nghĩ có thể là khó…nhưng nếu mình hết lòng thương nhau chắc ba mẹ em cũng không nỡ chia cắt…

– Mình thương nhau thì được rồi, nhưng còn cái nghèo…

Tôi ngắt lời Phú:

– Em tin rằng ba mẹ em không phải là người phù thịnh, nếu anh chỉ nghèo tiền bạc, mà anh lại giàu lòng nhân nghĩa, giàu tình cảm, giàu kiến thức thì thật là đáng quí, có gì đâu mà anh phải ngại.

Phú im lặng, tôi nói tiếp:

– Anh biết không, ba mẹ em cũng rất trọng người có đạo đức, hiền lành. Tuy ba em là sĩ quan, ba sống rất thanh bạch, nhà em có giàu có gì đâu, con đông cũng cảnh nheo nhóc như những gia đình nghèo khác thôi. Khi em quen anh, em đâu có biết anh làm chức gì. Chỉ qua câu chuyện anh kể, em đã khâm phục anh là một người lính hào hùng đó… Mà sao hôm nay mình lại nói chuyện gì đâu không vậy.

– À, anh nói vậy là tại anh nhớ đến Long, bạn anh nó lấy một cô vợ cũng thường thôi, nhưng lúc nào cũng chì chiết nó là “ không ngờ lại lấy lính”, làm cho nó thêm mặc cảm thấp bé.

– Sao chị ấy nói kỳ vậy, hồi xưa chị có thương anh ấy qua hình ảnh của người lính không, những người đã hy sinh tuổi trẻ của mình cho sự bình an của miền nam này mà.

– Nếu vợ nó mà biết nghĩ như em thì đâu có chuyện gì để nói. Anh thấy mình thật may mắn khi quen được em. Phú âu yếm nhìn tôi nói. Ngừng một chút, anh tiếp – nè, em nhích lại gần anh chút nữa được không? Trăng sắp đi rồi, lại đây.

Tôi nhích lại gần Phú, anh tiếp:

– Gần nữa.

Tôi lại nhích thêm một chút, Phú nói:

– Gần tí nữa.

Phú kéo tôi sát chặt vào anh, tôi vân vê cái vai áo bệnh nhân của anh, rồi vuốt nhẹ cái cổ gầy trơ xương. Tiếng Phú diễu cợt:

– Anh ngửi thấy mùi bạc hà trên môi em rồi đó.

Anh vừa nói vừa cúi xuống, lại một nụ hôn tội nghiệp khác cho tôi. Vị ngọt giả tạo của kẹo không làm mất được cái đắng cay đang kéo dài theo từng hơi thở dồn dập. Mùi bạc hà mỏng manh không tan nổi mùi tử khí bao quanh tôi và anh. Phú cứ hăm hở lướt bờ môi trên khắp khuôn mặt tôi, trên cổ, trên vai, trên đôi tay khô cứng, còn tôi chỉ thụ động đón nhận với những xót xa. Không biết anh sẽ còn được bao nhiêu ngày nữa để nghĩ đến tôi, để nhung nhớ, để đợi chờ trong háo hức. Dưới ánh trăng đêm bàng bạc và những ánh sao soi buồn xa muôn dặm. Tiếng dế đã thôi rỉ rả, không gian im lặng huyền bí. Tôi linh tính như đây là lần cuối tôi ngồi bên anh, nghe gió đêm quạt ngang nhè nhẹ.Tôi thấy Phú dắt tay tôi đứng dậy đi về phía mặt trăng, đi mãi, đi mãi và gió đã đẩy chúng tôi cùng bay lên bầu trời đêm dang rộng vòng tay để tìm bắt một ngôi sao sáng nhất trong đêm…Một ngôi sao hy vọng mà càng lúc cứ càng xa, càng xa.

o O o

Ngày…tháng …năm 1982

Một niềm vui lớn quá bất ngờ cho gia đình tôi trong ngày lễ độc lập 2 tháng 9 của nhà nước cộng sản: cha tôi đã trở về, cha tôi đã trở về. Các em tôi reo hò ầm ĩ; bà và mẹ đón cha với mắt lệ rưng rưng. Nhìn cha tôi ốm yếu, dáng đi xiêu vẹo chòm râu dài tới ngực, tóc cha tôi bạc đến nửa đầu, nước mắt tôi cũng trào ra trên má. Cha ngồi xuống ghế mở cái túi vải ra lấy vài cái kẹo lạc chia cho các con. Những người hàng xóm cũng bu quanh ngoài cửa rào tò mò nhìn cảnh xum họp của gia đình tôi.

Những lo lắng hãi hùng cho cái đói ăn hàng ngày đã tạm thời dịu xuống vì đã có sự hiện diện của cha tôi ở nhà. Bàng hoàng trong cảnh mẹ tôi đau yếu, bà ngoại già ốm xanh xao, và đàn con đói nheo nhóc. Cha tôi hăng hái đi tìm việc ngay và đã nhận được vài chỗ kèm toán tại tư gia. Tôi cũng bận rộn hơn với những lớp kèm trẻ khác, cả ngày chủ nhật và cả buổi tối. Chuyện đến thăm Phú như tôi hứa đã không thực hiện được. Tôi chỉ biết cầu nguyện cho anh còn khoẻ ngày nào hay ngày đó. Đời sống cứ như một điệp khúc buồn trầm luân ai oán, bi kịch này tiếp nối bi kịch khác.

Một ngày bà ngoại tôi đột ngột ngả bệnh, bà bị sốt cao và cứ ngủ li bì, chúng tôi tưởng bà ngoại tôi ngủ là do cơn bệnh làm bà bị mệt, nhưng không ngờ bà ngủ đến hai ngày không tỉnh dậy. Bà thở lớn như tiếng kêu uất nghẹn từ đáy lòng, mắt bà thì lờ đờ không nhắm hẳn. Rồi sau đó một ngày, hơi thở từ từ nhỏ đi, cơ thể bà chết dần trong giấc ngủ. Bà ngoại tôi ra đi giữa cơn đau đớn cùng cực của cả gia đình tôi, mẹ tôi là người mang tâm trạng đau đớn hơn ai hết, cả về tinh thần lẫn thể xác. Suốt thời gian này, mẹ tôi cũng bị đau lại. Bầu ngực của mẹ tự nhiên ửng đỏ lên. Mẹ tôi thường bị khó thở mỗi khi mẹ nằm xuống, buổi tối đi ngủ mẹ gần như phải ngủ ngồi. Tôi biết tế bào ung thư đã lan sang gần hết lá phổi của mẹ rồi.

Sau những ngày tháng buồn đau đó không lâu, bệnh tình của mẹ tôi trầm trọng thêm. Mẹ thường xuyên như người bị hụt hơi và nghẹt thở. Tôi phải đưa mẹ đi bệnh viện, lần này bệnh viện Bình Dân không nhận mẹ tôi nữa, họ chuyển mẹ sang bệnh viện chuyên trị ung thư ở khu Tân Bình. Mẹ và tôi ngồi chờ đợi hàng giờ đồng hồ, mệt mỏi làm mẹ tôi gục lên gục xuống như người ngủ gật. Ngày hôm đó sao bi thảm quá, mẹ tôi bị đày đọa leo lên tới lầu ba để chụp hình phổi. Sức mẹ quá yếu, đứng còn không muốn nổi làm sao lên tới lầu ba. Tôi phải chạy đi hỏi mượn cái băng ca để nhờ khiêng mẹ tôi lên lầu. Nhân viên bệnh viện chẳng thấy một người nào rảnh để cho tôi hỏi. Việc đi tìm băng ca cho tôi mượn không phải là việc của họ, nên ai cũng thờ ơ không muốn trả lời. Cuối cùng tôi được hai người đàn ông đạp xích lô tốt bụng giúp tôi mượn băng ca, và khiêng mẹ tôi lên lầu mà lúc khiêng phải nâng đầu mẹ tôi cao hơn thân thì mẹ mới thở được. Xong giai đoạn chụp hình phổi lại đến giai đoạn ngồi chờ kết quả. Một người bác sĩ chột mắt đã gọi chúng tôi vào và nói thẳng với mẹ tôi rằng:

– Kết quả x-ray phổi của bà xấu quá, bà nên về nhà nghỉ ngơi ăn uống tự do chứ ở đây chúng tôi không còn cách chữa cho bà rồi.

Mẹ tôi run rẩy, cố gắng nói chậm từng chữ một:

– Tôi biết sức tôi không còn được bao nhiêu, tôi chỉ xin bác sĩ hãy giúp tôi điều hoà hơi thở để tôi còn sống nuôi con tôi, các cháu hãy còn nhỏ lắm.

Tôi khóc tức tưởi cho sự bất lực của mình với lời nói và nỗi đau của mẹ. Tôi ghét cái ông bác sĩ mắt chột đã không có lời nào an ủi bệnh nhân ngọt ngào hơn, mà cứ xua tay nhăn nhó ra lệnh:

– Tôi không còn cách nào nữa, bà cứ về nhà đi. Quay sang tôi, ông nói thêm – cần chuẩn bị trước cho bà mọi thứ, khóc la không ích lợi gì đâu. Đưa bà về đi.

Tôi đành phải đưa mẹ về nhà nghỉ ngơi. Trong tâm tư, tôi không dám nghĩ đến một ngày nào mẹ tôi sẽ bỏ chúng tôi ra đi, dù linh tính cho tôi biết mọi hoạt động trong người mẹ đang tê liệt dần dần, mẹ bắt đầu buông thõng chân tay mệt mỏi. Đêm hôm ấy, tôi nằm ngay dưới đầu giường của mẹ, tôi cũng cảm thấy mình rất mệt. Thoạt đầu, tôi ngủ trong trạng thái nửa mơ, nửa tỉnh. Tôi nghe mẹ gọi tôi dậy ba lần để rót nước cho mẹ uống. Sau mỗi lần uống nước, tôi còn nghe tiếng thở dài thườn thượt của mẹ như trút ra bao nhiêu nỗi buồn lo, đau đớn. Rót nước cho mẹ xong tôi lại nằm xuống ngay và rồi thiếp đi mê man. Chập chờn trong giấc mơ mệt nhọc, tôi mừng rỡ thấy Phú đến thăm mẹ tôi, anh mặc bộ đồ bệnh nhân màu trắng, Phú cười rất buồn và nói:

– Anh đến thăm mẹ và em lần cuối rồi anh sẽ đi xa.

Tôi hỏi Phú:

– Anh đi đâu vậy?

Phú nói:

– Không biết sẽ đi đâu mà cứ phải đi.

Rồi Phú tiến đến gần tôi, vén một bên tóc tôi lên, anh dặn dò:

– Em đừng khóc nhiều quá nhe, coi chừng bị hư tuyến lệ đó.

Anh vừa nói vừa đưa khuôn mặt trắng bệt của anh kề sát bên tôi, Phú tiếp:

– Sao anh không ngửi thấy mùi bạc hà trên môi em nữa, chỉ có mùi nhang không vậy?

Tôi nhìn quanh:

– Mùi nhang ở đâu hả anh?

Phú nhìn lên trần nhà, hình như trên đó có làn khói mỏng đang toả ra. Anh chỉ tay lên trần nói:

– À, mùi nhang từ khói trên kia kìa. Rồi anh khẽ hát: Khói, khói, khói lên nhỏ nhoi, khói lên tả tơi, khói lên đẹp ngời.

Phải, khói lên nhiều quá, tôi thấy hai loại khói màu vàng và trắng bao quanh Phú mỗi lúc một dày. Anh đưa tay vẫy tôi rồi nói:

– Em có nghe mùi nhang thơm không? Anh sắp bay cùng với khói nhang nè.

Tôi chạy đến bên Phú cố níu lấy tay anh qua đám khói dày vừa khóc vừa nói: – Không, anh đừng bay, đừng bay, ở lại đây với mẹ, với em. Khói không nghe tôi nói, tôi lại cố gào lên: Phú ơi đừng bay, đừng bay vội. Khói không hiểu lời tôi van xin vẫn cuồn cuộn bay lên cuốn hút bóng dáng Phú, như một khúc phim thần thoại biến hoá. Ngay lúc đó, mẹ đến gần ôm tôi vào lòng, mẹ dịu dàng bảo: – Hãy để Phú đi cho nhẹ nhàng…

Tôi giật mình thức dậy thấy mình đang gục đầu bên mẹ, nước mắt tôi còn ướt trên hai cổ tay. Chỉ là giấc mơ ngắn thôi, sao tôi cảm thấy đầu mình nặng quá, ngực thì buốt nhói. Tôi nhớ Phú ray rứt… tự nói thầm, cầu cho nay mai mẹ em khoẻ, em sẽ đến thăm anh Phú nhé, đừng bỏ em đi vội, hãy cố chờ em, chờ em, em sẽ đến, em sẽ đến mà… Tôi khóc thút thít trong đêm khuya, bên tai tôi còn văng vẳng lời mẹ anh nhắn nhủ: “Cố giúp bác an ủi nó ngày nào hay ngày ấy…” như một điệp khúc u buồn nát cả ruột gan làm cho tôi thấy hối hận vô cùng. Tôi đã không làm được điều mẹ Phú nhờ, bởi lẽ cuộc sống cơm áo cho sự sinh tồn quá khổ cực, quá vất vả, đã dành hết thời giờ của tôi rồi. Hình bóng Phú, câu nói của mẹ anh, khuôn mặt xanh xao của mẹ tôi, đã là nỗi ám ảnh khiến tôi cứ trằn trọc mãi cho đến sáng…

Buổi sáng, tôi ngồi dậy mệt mỏi, ngắm khuôn mặt mẹ đang chìm trong giấc ngủ với hơi thở nặng nhọc. Tôi ước ao giá tôi có thể tiếp hơi thở của tôi cho mẹ, có thể gánh lấy cái đau đang hành hạ cơ thể ốm yếu kia của mẹ, thì mẹ tôi sẽ đỡ được phần nào… Đứa em trai thứ bảy của tôi mon men đến chân giường mẹ ngồi xuống, nó hỏi tôi: Tối qua mẹ có ngủ không chị? Tôi ngập ngừng: – Có, mà chắc ít, thấy mẹ khều chị ba lần kêu rót nước. Tôi dặn em ngồi trông chừng mẹ, rồi đứng dậy gom tất cả những quần áo dơ để đem đi giặt, tôi dự định sẽ xin nghỉ thêm một ngày nữa ở nhà với mẹ.

Tôi bước ra sàn nước bỏ quần áo vào thau và vừa cắt xong gói xà bông bột thì nghe tiếng em trai tôi gọi thất thanh:

– Trời ơi, mẹ ngừng thở rồi! Bố ơi mẹ ngừng thở rồi!

Tôi vất gói xà bông chạy vào nhà, tôi nghe tiếng cha tôi hớt hải:

– Làm sao, tránh ra để bố xem.

Tiếng em trai tôi nghẹn lại, đứt quãng:

– Con …đang ngồi ở đây, nghe mẹ …nấc to lên một tiếng… rồi mẹ không thở nữa.

Cha tôi sờ mũi, sờ trán mẹ, rồi thất vọng giục:

– Xem mấy giờ rồi!

Tôi chen vào giữa cha tôi và em trai đưa tay sờ mặt mẹ, những giọt nước mắt ấm hãy còn lăn trên đôi má khô nhăn, người tôi run lên và tôi bật khóc, tôi gọi mẹ thống thiết… Quang cảnh chung quanh tôi như tối sầm lại. Tôi nghe tiếng cha tôi đau đớn ra lệnh:

– Đi gọi tất cả các em mày về, còn phải tắm thay đồ cho mẹ mày nữa, nhanh lên!

Tôi không đứng dậy nổi, cứ gục đầu bên mẹ, mơ màng thấy mẹ vuốt tóc tôi nói:

– Đừng khóc nữa, để mẹ đi cho nhẹ nhàng…

3.

Sau ngày đám tang của mẹ, tôi bị ốm. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi bị ốm nặng đến độ không đứng dậy nổi. Người tôi lên cơn sốt, đầu thì đau buốt, thân thể tôi nhức mỏi vô cùng. Tôi cứ nằm mơ thấy mẹ tôi và bà ngoại chập chờn, chập chờn mờ ảo. Khi thì thấy mẹ ngồi đan áo trên giường, khi thì mẹ chỉ cho em bé út tôi làm thủ công. Tôi thấy bà ngoại tay cầm một lát chanh, một lát gừng, một nắm tóc và một ít dầu Cù Là, bà gói trong cái khăn rồi đến gần bên tôi bảo để bà “đánh gió” cho tôi…Tôi lại mơ màng thấy Phú trong bộ đồ bệnh nhân màu trắng, anh ngồi trên chiếc ghế băng ở vườn hoa của bệnh viện. Phú đang thổi harmonica một bài hát quen thuộc mà sao tôi không nhớ ra là bài gì. Tôi nhẹ nhàng bước đến bên anh, chợt thấy một làn khói mỏng từ đâu bay đến, anh ngừng thổi nhìn đám khói rồi nhìn tôi nói:

– Kìa Mai, lại đây ngồi với anh, em đi đâu mà lâu quá vậy làm anh chờ mãi.

Tôi nói nhỏ:

– Em bận quá, không đến thăm anh được.

Phú chỉ đám khói trước mặt:

– Em thấy khói đang lên không, khói nhuốm một màu xám buồn, như cuốn cả đời hai chúng mình vào chốn đau khổ.

– Mình phải làm gì để xua khói hả anh?

– Mình quá yếu đuối và nhỏ bé không thể xua được ngọn khói bạo tàn này.

Khói bay lên càng nhiều, càng dày. Làn khói trắng đục tỏa ra một mùi khen khét. Phú kéo tay tôi đứng dậy:

– Đi Mai, chạy ra khỏi chỗ này, mau lên.

Tôi đứng lên chạy theo Phú, khói bao mờ lấy tôi, quấn vào cổ, vào mặt, vào mũi làm tôi bị ho sặc sụa. Tôi nhắm mắt để khỏi bị cay, tôi chạy thật nhanh, nghe có cả hơi gió bên tai. Bỗng tay tôi vuột khỏi tay Phú. Tôi chơi vơi trong làn khói, miệng hớt hải gọi:

– Phú, Phú, anh đâu rồi?

Không nghe tiếng Phú trả lời chỉ có tiếng gió ù trong làn khói đang lên cao. Tôi gào lên thất vọng:

– Anh Phú, chờ em đi với.

Khói lại làm tôi bị sặc và ho liên tục, ngực tôi đau, đầu tôi choáng váng. Hình ảnh Phú biến mất rồi…

– Chị..Mai có sao không?

Tiếng em gái Út hỏi đã kéo tôi ra khỏi cơn mê của khói…Nó tiếp:

– Chị ho dữ quá!

Tôi mở mắt nhìn em lắc đầu, mái tóc em bù xù cháy vàng, khuôn mặt em hốc hác. Đôi mắt đen nhìn tôi chăm chú. Cầm bàn tay nhỏ bé của em áp vào má mình, tôi nghe giọng em la lên:

– Chết, chị nóng hổi à. Em lấy khăn nhúng nước đắp cho chị nghe.

Em tôi định quay đi, tôi kéo tay em lại, mệt mỏi nói:

– Thôi khỏi, mấy giờ rồi?

– Gần mười hai giờ trưa. Sao hôm nay bố đi dạy lâu về quá, nhà hết củi nấu rồi.

Em chạy đi lấy cuốn tập đưa cho tôi:

– Chị ơi coi bài thủ công em dán nè, cái nào chị thấy ít xấu nhất thì nói cho em biết để mai em nộp.

Tôi run tay đỡ cuốn tập, tội nghiệp cho em từ ngày mẹ tôi bị ốm, không ai giúp em làm thủ công hết. Tôi nhìn hai trang vở lem nhem mực tím. Bức dán thủ công hai chữ Việt Nam của em trông vụng về nhăn nhúm. Tôi cũng biết, nhà không có kéo bén cho em cắt, giấy thủ công không phải là giấy đẹp, hồ thì khô nứt dán mãi không dính. Tôi lật qua các trang khác mới chú ý đến chữ viết của em quá xấu. Tôi thật đau lòng nghĩ đến trách nhiệm không trọn của người chị đối với em. Tôi làm nghề dạy kèm trẻ mà không dạy kèm được em mình. Những đứa bé tôi dạy đều được gò chữ rất đẹp, tập vở sạch sẽ, đọc thông thạo. Em tôi không được sự chỉ dạy của tôi đàng hoàng từ khi em bắt đầu vào mẫu giáo cho đến bây giờ là lớp hai…Tôi gượng đau, cố chống tay ngồi dậy nói:

– Chị thấy cái nào cũng đẹp, nộp đại đi, thủ công là môn phụ thôi mà. Ngày mai chị đỡ đau, chị sẽ cho em tập viết lại, chữ em xấu quá.

Em phụng phịu than thở:

– Tại cái ngòi bút em bị rè, lọ mực lại khô nữa…

Tôi ngắt giọng em:

– Được rồi, tí nữa chị dắt em đi mua bút mực, lọ mực mới.

Tôi vịn thành giường đứng dậy, tôi phải chống lạị cái đau đang hành hạ thân xác tôi, tôi không muốn đầu hàng nó để phải nằm ẹp một chỗ hoài. Tôi nhớ đến Phú, lòng chợt nóng như lửa đốt, tôi muốn gặp Phú, phải , tôi phải đi thăm anh, cầu mong cho Phú hãy còn khoẻ để tôi được nhìn thấy anh. Tôi lết vào nhà bếp, em bé út chạy theo hỏi:

– Chị đi đâu vậy?

– Đi kiếm cái gì hai đứa mình ăn rồi chị dắt em đi mua bút, chị còn mấy đồng đủ mua cho em cây bút đây.

– Hết củi nấu rồi.

Tôi nhìn cái bếp lạnh tanh, củi không còn một cây, tôi lắc đầu nói:

– Không sao, ăn mì trụng nước lạnh cũng được, ăn lẹ rồi chị dắt bé đi chơi với chị nhe

– Chị còn nóng quá sao chị đi được.

Tôi không nói, mở lu bốc hai nắm mì vụn bỏ vào hai cái tô, rắc chút muối lên trên rồi đổ nước lạnh vào, ngồi chờ cho mì nở…

Nhìn em tôi trệu trạo nhai mì, tôi thấy thương em làm sao. Tôi vuốt mái tóc bù xù cháy vàng của em mà ứa nước mắt. Từ nay và mãi về sau em sẽ không còn được ngồi nhõng nhẽo mẹ tôi làm thủ công cho em mỗi tối nữa. Bài thủ công với hai chữ Việt Nam em dán nhăn nheo trong tập như số phận khổ đau của đất nước, vuốt mãi cũng không thẳng được, như cuộc đời khốn khổ của chị em mình cứ mãi nhăn teo…Tôi nhỏ nhẹ nói với em:

– Trên đường mình đi mua bút, chị dắt em tới nhà bạn chị chơi chút nhe. Đừng nói cho ai biết đó.

Em gật đầu. Tôi đứng lên tìm cái nón lá cho tôi, và một cái nón vải cũ cho em, trời nắng trưa đang lên cao gay gắt, tôi vẫn còn bị choáng váng khi nhìn ra nắng nhưng tôi nhất định phải đến thăm Phú.

o O o

Hai chị em tôi lủi thủi đi bộ dưới nắng đến nhà Phú. Từ con đường nhà tôi là Phan Đình Phùng, đến tận ngã bảy, quẹo vào đường Lý Thái Tổ, đi sâu vô một hẻm nhỏ, dọc ngang mấy ngã. Em gái tôi cứ luôn miệng hỏi: “Sắp tới chưa chị, em mỏi chân quá”, tôi cũng phải trấn an nó hoài “Sắp rồi”. Tôi tìm ra địa chỉ nhà Phú cũng khá vất vả. Lòng vừa hồi hộp, vừa náo nức được gặp anh.

Tôi đứng trước thềm nhà Phú, choáng váng, quay cuồng chỉ muốn té. Mẹ anh nhận ra tôi ngay cửa. Tim tôi đập nhanh, mắt như hoa lên khi nhìn thấy cái bàn thờ ở chính giữa nhà, với tấm hình của Phú sau bát nhang nghi ngút khói. Không kịp nói câu chào với mẹ anh, tôi bật khóc nức nở. Em bé út nhìn tôi ngơ ngác… Tôi nghẹn ngào nói trong tiếng nấc:

– Trời ơi … bác , …anh Phú… anh Phú,… cháu cứ mong là sẽ được gặp anh Phú …

Mẹ Phú nắm tay tôi ứa nước mắt:

– Mới mở cửa mả cho nó hôm qua… nó đi cũng hơn 5 ngày rồi

Tôi gạt nước mắt, run giọng nói:

– Cháu… cháu xin lỗi .. đã không đến thăm anh ấy thường được. Mẹ cháu mới mất … đám tang mẹ mới xong hôm qua… cháu nóng ruột quá, muốn gặp anh Phú ngay…

Mẹ Phú nói giọng xót thương:

– Giời ơi, khổ thân chưa, bác thành thật chia buồn nhé, bác biết gia cảnh của cháu cũng khổ, cháu còn phải lo cho mẹ. Bác rất hiểu.

– Cháu vẫn còn ân hận …

Mẹ Phú ngắt ngang lời tôi:

– Cháu không phải ân hận gì hết , bác hiểu gia cảnh của cháu, mẹ ốm như thế thì có đi đâu được, thương cháu không hết sao còn nỡ trách cháu làm chi.

Rồi bà quay sang em gái tôi hỏi:

– Thế em cháu đây a, sao còn nhỏ thế.

Tôi nhắc em chào bà, em bẽn lẽn khoanh tay cúi đầu lí nhí: -Chào bà, rồi nép sau lưng tôi, mẹ Phú ngoắc em lại hỏi:

– Cháu mấy tuổi rồi? tội quá, lại đây với bà nào!

Tôi trả lời thay em:

– Dạ em cháu được bảy tuổi ạ

Tôi nói em tôi lại gần mẹ Phú cho bà hỏi chuyện, tôi nhớ đến lời Phú nói: “Mẹ anh thích con gái lắm”. Tôi tiến đến bàn thờ lấy một cây nhang thắp cho Phú, tôi mím chặt môi để không bật ra tiếng khóc lần nữa. Nhìn tấm hình của anh chụp đứng trong bộ quân phục lính chiến, nụ cười rạng rỡ. Tôi thấy lòng mình đau như xé. Sao Phú không ráng chờ em, em hứa sẽ đến mà. Sao anh đi vội vã thế, có phải ngọn khói bạo tàn đã cuốn anh đi như trong giấc mơ em đã thấy không? Hay là sự chờ đợi em đã làm cho anh mệt mỏi, buồn rầu, chán nản rồi anh giận em mà bỏ đi? Tôi cố nén tiếng khóc, để nước mắt cứ rơi rơi, rồi lại nuốt ngược vào lòng nghe nghẹn đắng. Tôi gục đầu bên bàn thờ anh, cố nhớ lần gặp anh sau cùng ở bệnh viện, khuôn mặt anh thật buồn, trông anh tiều tụy thảm hại… Mùi nhang thơm bay lên cho tôi mơ hồ nghe thoang thoảng đâu đây tiếng kèn harmonica của Phú, với câu: “Khói, khói lên nhỏ nhoi, khói lên đẹp ngời…”

Tôi cảm giác như mình đang bị quay vòng tròn. Chóng mặt, chóng mặt quá. sức quay mỗi lúc một nhanh hơn , tôi muốn té nhào, té nhào… Tôi nghe có tiếng ai đó gọi tôi rất xa, rất gấp gáp:

– Kìa, cô…cô… mẹ..

Tôi thấy càng chóng mặt thêm, nhà cửa quay cuồng trước mắt tôi, khuôn mặt em gái tôi, khuôn mặt mẹ Phú kề bên vẫn như một vòng tròn quay tít. Rồi một khuôn mặt khác, rất quen, ai như Phú thì phải, ồ đúng rồi Phú, Phú đây mà, tôi mừng rỡ gọi to:

– Anh Phú, anh Phú!

Khuôn mặt như dãn ra rồi nhíu lại, kéo tôi về thực tại:

– Không, tôi là Minh, anh của Phú. Cô bị xúc động quá rồi.

Tôi không biết mình đang ngồi hay đang nằm, chỉ biết có bàn tay ai chạm vào tôi, và nghe tiếng mẹ Phú nói:

– Giời ơi, người nó nóng quá, bị sốt rồi. Khổ thân chưa.

Thân tôi như bị lịm đi, nhưng đầu óc tôi hãy còn hơi tỉnh. Tôi thấy mình như kiệt sức, tiếng mếu máo của Hoa, em gái út tôi đã là sức mạnh làm tôi bật dậy:

– Chị Mai ơi… còn dắt em đi mua bút mực nữa.

Tôi ngơ ngác nhìn chung quanh, mẹ Phú đang lăm lăm chai dầu gió trên tay xoa trên trán tôi. Một người đàn ông giống Phú kinh khủng đang nhìn tôi lo ngại. Tôi nghe tiếng ông nói với bé Hoa:

– Muốn mua bút mực hả, để chú dắt bé đi mua nhé, ở đây gần tiệm tạp hoá nè.

Em tôi mắc cỡ lắc đầu, dấu mặt sau vai tôi, mẹ Phú nói thêm:

– Để chị cháu nghỉ một chút xíu, chú Minh dắt cháu đi mua nhé.

Bé Hoa vẫn lắc đầu, tôi nói đỡ cho em:

– Cám ơn bác, cám ơn anh, em nó hay mắc cỡ, thôi để cháu xin phép đi về.

Mẹ Phú ngăn tay lại:

– Ơ kìa, sao lại về, người nóng sốt thế kia mà bêu nắng cho chết thêm đấy, ở lại đây chơi chờ mát tí rồi hãng về.

Tiếng ông Minh nói tiếp:

– Phải đấy, cô cứ ở đây nghỉ một chút đi chiều mát rồi về cũng được, hay để tôi chạy ra đây mua bút cho bé vậy, bút gì, bút mực hả?

Bé Hoa gật đầu. Ông Minh cười nhẹ rồi quay đi, thấy Hoa cứ đứng sát bên tôi không rời, Mẹ Phú nói với bé:

– Này, cháu ăn xôi chè nhé, vào đây bà lấy xôi cho ăn.

Bé Hoa nhìn tôi, tôi nói với em đi theo bà lấy xôi ăn đi, chị ở đây mà… Em tôi ngồi ngoan ngoãn thưởng thức chén xôi vò và bát chè đường. Mẹ Phú trở ra, trên tay cầm một vật gì đó, bà nhẹ nhàng ngồi xuống bên tôi nói:

– Trước khi thằng Phú mất, nó có dặn bác nhiều lần là đưa cho cháu cái này… không biết nó viết cái gì mà mấy hôm trước cứ thức khuya viết hoài. Đây cháu xem đi.

Tôi run tay cầm lấy món đồ được cất trong một cái túi vải nhỏ màu xanh, tôi mở túi vải ra xem. Tôi thật xúc động đó chỉ là một bài thơ anh viết dở, vẫn trên trang giấy học trò xếp đôi dán phiá sau tờ bìa cứng màu xanh nhạt. Một trời kỷ niệm của thời còn đi học lại hiện về với tôi từ trang thơ này. Những lá thư ngày trước anh trao gửi cũng giản dị trên giấy học trò trắng dán bìa xanh. Tôi hỏi mẹ Phú:

– Chắc anh Phú thích màu xanh lắm hả bác?

Mẹ Phú gật đầu:

– Ừ, đúng rồi. Nó bảo màu xanh là màu hy vọng. Bác biết nó rất quí mến cháu, nhiều khi nó buồn bác cứ phải gợi chuyện về cháu để nó nói cho vui.

Rồi bà thở dài:

– Chẳng biết viết cái gì mà tối nào cũng hí hoáy, bác hỏi thì bảo viết cho Quỳnh Mai.

Tôi run tay mở bài thơ ra liếc qua nét chữ quen thuộc của anh rồi gấp lại, tôi nói với mẹ Phú tôi muốn về nhà có thời giờ ngồi đọc lại kỹ hơn. Rồi tôi trang trọng cất bài thơ vào trong túi áo. Theo lời mẹ Phú nói, anh mất trước mẹ tôi một ngày. Tôi bỗng rùng mình nhớ lại giấc mơ tôi gặp anh trước đó.

Câu chuyện của tôi với bà lại xoay quanh đề tài gia đình, tôi cho mẹ Phú biết là cha tôi đã về được một năm thì phải lo hai cái tang cho bà ngoại và mẹ. Tôi cũng hỏi thăm bà về người anh cả của Phú đã về hay chưa? Vừa lúc ấy, ông Minh mới bước vào cửa với một nắm bút mực trên tay và 3 cái lọ mực. Mẹ Phú chỉ ngay ông bảo:

– Đây, anh cả của Phú đấy, mới vừa về chừng vài tháng thôi.

Ông Minh cười đưa cho bé Hoa nắm bút:

– Đây bút của bé đây này, không biết bé thích ngòi lá tre hay ngòi lá bầu cứ mua mỗi thứ ba loại cho bé đó, cả mực đây nữa. Tha hồ viết nhé.

Bé Hoa mừng rỡ đỡ lấy nắm bút và lọ mực, tôi cảm động trước vẻ thân thiện của ông Minh. Tôi nói:

– Trời ơi anh mới đi “cải tạo” về đâu có tiền bạc gì nhiều đâu mà mua cho bé Hoa nhiều vậy. Mua 1 cây bút là quí rồi. Bé cám ơn chú chưa?

Em tôi nói cám ơn theo tôi. Ông Minh xoa đầu bé Hoa cười:

– Có đáng gì mấy đồng bạc đâu, cho em nó vui thôi mà. À, cô là Quỳnh Mai phải không?

Tôi gật đầu:

– Dạ,

– Tôi nghe bà cụ nhà tôi với Phú hay nhắc cô lắm, cũng mới biết hoàn cảnh cô thật là khổ.

– Dạ.

Tôi nhìn lên tấm hình của Phú trên bàn thờ, nước mắt lại sắp trào ra, lúc nào anh cũng nhắc đến tôi để nuôi một niềm vui, còn tôi thì chẳng dám nhắc đến anh với một ai trong nhà, chỉ có mình tôi độc thoại về anh. Khóc một mình, chia sẻ cũng với chính mình… Tôi sờ tay vào túi áo, nơi tôi còn giữ bài thơ của anh. Tôi muốn về nhà ngay, tìm một góc vắng để mở bài thơ anh ra đọc từng lời, nhìn từng nét chữ, tưởng tượng ra ánh mắt hơi thở của anh cùng lướt với tôi trên trang thơ dấu ái. Tôi cáo từ mẹ Phú ra về, lòng nặng trĩu ưu tư, buồn bã. Trên đường về, bé Hoa rất vui, nói chuyện huyên thuyên mà tôi thì không chú ý mấy đến lời của em. Tôi đang bận nghĩ về bài thơ của Phú, kỷ vật duy nhất anh để lại cho tôi.

o O o

Tôi lật sang trang kế tiếp, chỉ còn là trang giấy trắng. Ký ức của tôi đã dừng lại với bài thơ của Phú. Tôi lặng người đi vài phút để lấy lại sự tỉnh táo, và tĩnh lặng cho tâm hồn sau cả mấy tiếng đồng hồ dài theo những trang nhật ký trở về thời buồn đau xưa cũ:

Thời mà dân tình bị đắm chìm trong lầm than, nghèo đói, trẻ thơ lam lũ, quân nhân bị tù đày, và nhiều gia đình ly tán.

Thời mà các nhà lãnh đạo cộng sản phát triển chính sách thống trị quan liêu, cướp bóc, vơ vét tài sản của dân. Thời mà con người đã chà đạp, dối trá, lường gạt lẫn nhau để giành sự sống.

Thời mà tuổi trẻ đã được tuyên truyền, được hô hào để đánh bóng cái thiên đường xã hội chủ nghĩa bằng những kế hoạch năm năm, mười năm trong lao động khổ sai.

Tôi run tay mở bài thơ của Phú ra xem, nét chữ của anh nghiêng nghiêng như vẽ, hãy còn in rõ lại những kỷ niệm đau đớn, những phẫn uất trong từng lời thơ như vẫn chưa nguôi ngoai dù đã hơn ba mươi năm trôi qua, một mơ ước cho sự tự do an vui của đất nước vẫn còn rất xa:

Những Vần Thơ Buồn

Em có biết cho đời người lính trẻ
Sau chiến cuộc tàn
Là tan nát những ước mơ
Là đau thương hấp hối từng giờ
Là khổ nhục trong lao tù cộng sản
Em có biết, anh còn bao bè bạn
Là phế binh đang vất vưởng lầm than
Sống cô đơn nghèo đói lết thân tàn
Qua ngõ ngách mưu sinh nghìn cay đắng

Em có biết, nhiều đêm anh thức trắng
Thả hồn mơ theo khói thuốc quyện bay
Mơ đất nước mình sẽ sớm đổi thay
Quyền bạo chúa không còn trong nhân loại
Người tìm nhau với vòng tay thân ái
Đời nở ra trăm triệu đoá yêu thương
Dân ấm no trên khắp mọi ngã đường
Từ phố thị đến làng quê xa tắp…

Bài thơ hãy còn đang viết dở về một ước mơ của anh. Tôi biết Phú còn muốn viết lên nhiều nỗi ưu tư khác nữa là tình yêu, là thân phận con người trong suốt thời kỳ hòa bình tối đen như vực thẳm. Cũng giống như tư tưởng của Phú, tôi và những người trẻ tuổi khác, những người đã lớn lên trong thời điểm khắc nghiệt nhất của chế độ cộng sản, chắc chắn rằng ai cũng phải có một bài thơ trong ký ức, một bài thơ về nỗi đau riêng của mình gắn chung với số phận của đất nước. Mỗi bài thơ là mỗi cảnh đời khổ ải khác biệt, có khi mình nói hết nỗi đau ở một khía cạnh này, nhưng lại không diễn tả hết sự mất mát ở khía cạnh khác.

Bây giờ, đã ba mươi sáu năm qua trong hòa bình rồi, niềm mơ ước của Phú, của tôi vẫn chỉ là một giấc mơ chưa có được. Nhìn lại đất nước mình vẫn đang còn lao đao với một nỗi phẫn uất mới, sự xâm lăng của ngoại bang, sự đàn áp những người trẻ tuổi mang tiếng nói trung thực vì lòng yêu nước, vì quyền tự do. Và rồi, chúng ta cũng đang có những bài thơ đấu tranh ở khắp mọi nơi trên thế giới. Những bài thơ xuất phát từ muôn triệu trái tim yêu nước thương dân, mong mỏi một ngày đổi mới tươi đẹp trên quê hương Việt Nam. Nhưng buồn thay, chính trên quê hương mình còn biết bao nhiêu những bài thơ đấu tranh khác vẫn chỉ là những bài thơ dang dở chưa kịp nói hết lời đã bị cùm gông xiết cổ… Ôi, ước mơ sao vẫn chỉ là ước mơ thôi, một ước mơ không biết đến bao giờ mới được trọn vẹn:

Mơ đất nước mình sẽ sớm đổi thay
Quyền bạo chúa không còn trong nhân loại
Người tìm nhau với vòng tay thân ái
Đời nở ra trăm triệu đoá yêu thương
Dân ấm no trên khắp mọi ngã đường
Từ phố thị đến làng quê xa tắp…

Tôi xếp lại bài thơ dang dở từ hơn ba mươi năm trước mà theo thời gian, vô tình nó đã trở lại trong ký ức tôi, và có lẽ, tôi sẽ còn giữ nó với ước mơ được làm một câu kết thật đẹp cho bài thơ về sự độc lập, tự do, ấm no mãi mãi trên quê hương Việt Nam mình cho đến ngày tôi nằm xuống.

Thiên Lý (8/2011)

** Không biềt tác giả
(1), (4), (5), (7) & (9) Nhạc Phạm Duy
(2) Nhạc Y Vân
(3) Nhạc Trần Thiện Thanh
(6) Nhạc Ngọc Chánh và Phạm Duy
(8) Nhạc Phạm Thế Mỹ

This entry was posted in Bạn đọc viết, Hồi-ký - Bút-ký, Thiên Lý. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s