NGÀY XUÂN NÓI TRUYỆN KIỀU: bài 3 (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)

NgayXuanNoiTruyenKieu Bài 3 –

Qúy độc giả đã đọc qua hai bài: Ngày Xuân nói tuyện Kiều 1 & 2. Hôm nay, vẫn là ngày Xuân Đinh Dậu, 2017. Năm nay, ngay ngày đầu năm, mồng 1 Tết, người viết đã có được hai tin vui, khiến cho tâm hồn của mình càng phới phới theo ngọn gió Xuân, nên muốn trở lại với Truyện Kiều, nhưng khác hai bài trước, với những suy nghĩ riêng: Thúy Kiều tương hợp, và hạnh phúc với ai trong “ba mối tình lớn”?

Mối tình với Kim Trọng

Theo cụ Nguyễn Du, Thúy Kiều gặp Kim Trọng khi vừa mới “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”. “Cập”, là đạt tới; “Kê” là chiếc trâm cài. Theo “Kinh Lễ”, thì người con gái ở xã hội “Trung hoa” cũ, khi đến tuổi “cập kê”, (15 tuổi), thường cài trâm, để tỏ cho biết là đã đến tuổi lấy chồng.

Do vậy, nên đó chỉ là mối tình ở tuổi “trăng tròn” sau này thường gọi là mối tình “học trò”. Dẫu mối tình đầu vụng dại ấy, bao giờ cũng khó quên. Nhưng nói đến “mối tình đầu”, là lúc mới bước vào ngưỡng cửa của tình yêu, ở tuổi 15, mà đôi khi ta ngỡ là tình yêu, song chưa chắc đó là tình yêu đích thực, nên có những người mới gặp nhau, yêu nhau ở tuổi còn quá trẻ, đến khi trở thành vợ chồng, sau những cuộc tranh cãi triền miên, vì nhiều sự bất đồng, mà chữ đồng rất quan trọng, để cuộc hôn nhân có thể bền vững. Ngày nay, chữ đồng càng cần phải có, dù sống chung hay vợ chồng. Đồng, nghĩa là cùng. Cùng chí hướng, cùng đức tin, cùng niềm tin, cùng sở thích, cả hai phải tương hợp với nhau nhiều phương diện, thì mới mong giữ gìn được tình yêu đến “trăm năm hạnh phúc”.

Chính vì vậy, sau những rạn nứt, rồi đổ vỡ, thì cả hai mới hay rằng, đó không phải là tình yêu, mà họ chỉ “thích” một nét đẹp nào đó ở người vợ hay chồng của mình trước đó. Thúy Kiều đã yêu Kim Trọng ở “tuổi trăng tròn”; Còn Kim Trọng là một chàng nho sinh, thời gian họ yêu nhau quá ngắn, nên tình yêu ấy chỉ đẹp trong thơ văn, vì không được trọn vẹn với những “lời nguyền” qua hình ảnh “Đốt lò hương ấy so tơ phím này” mà thôi.

Mối tình với Thúc Sinh

Theo người viết, ban đầu, Thúy Kiều chỉ thọ ân khi được Thúc Sinh bỏ tiền ra chuộc mình; và Thúc Sinh cũng chưa nghĩ đến chuyện lâu dài, nhưng sau khi đã sống bên nhau, thì mới có tình yêu:

“Sớm đào tối mận lân la
Trước còn trăng gió sau ra đá vàng”

Nhưng dẫu có “ra đá vàng”, thì cũng không có một kết thúc tốt đẹp, vì Thúc Sinh đã có vợ. Chúng ta có thể nghĩ, nếu Thúc Sinh độc thân, thì Thúy Kiều sẽ hạnh phúc, vì qua cụ Nguyễn Du, ta thấy Thúy Kiều và Thúc Sinh có nhiều điểm tương hợp, đã có những giây phút nên thơ như:

“Khi gió gác khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ.
Khi hương sớm khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn”.

Trong bốn câu thơ này, người viết thích nhất là hình ảnh của “Câu thần nối thơ”, là hai người cùng nhau “nối thơ”, nghĩa là mỗi người làm một câu thơ, nối tiếp nhau thành một bài thơ, không một ngôn từ nào diễn đạt được. Thật tuyệt vời!

Tuy nhiên, khi đọc bốn chữ: “câu thần nối thơ”, thì có ai có thể thấu hiểu được, trên đời này, vẫn một số người phụ nữ, đã bị lừa gạt, nên phải nuốt lệ, đau đớn, khi phải chung sống với một con người thất học, vũ phu, cộc cằn, thô lỗ, không viết được một lá thư ngắn, một cánh thiệp Xuân, không hề biết gì là thơ văn, mà chỉ biết nhậu nhẹt, ăn uống no say. Hạng người này, không biết tự lo cho bản thân về mọi mặt, chỉ biết sống bám vào đàn bà. Mà hễ bám được rồi, thì dùng bạo lực, để “giữ” người đàn bà, hòng giữ suốt đời, để làm nô lệ cho họ…

Và còn gì thơ mộng bằng, khi cả hai cùng hóng gió “gió gác”, cùng ngắm trăng “trăng sân”; nhưng “khi chuốc rượu”, thì, tôi không biết uống rượu, nên không thích, song có lẽ nhiều người thích.

Người viết cũng tâm đắc với câu “đường tơ họa đàn”, nghĩa là người đàn, người hát như lời của bản nhạc Giọng ca dĩ vãng, có câu: “… mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn; từng nhịp nhặt khoan anh dìu theo tiếng tơ…”. Thật vô cùng diễm phúc cho người phụ nữ nào có được người đàn ông bên cạnh, có đủ cả: “Câu thần nối thơ” và “đường tơ họa đàn”.

Và còn gì buồn cho bằng, nếu người phụ nữ, bị lừa gạt, để rồi phải sống bên một kẻ chỉ có “tâm hồn ăn uống”, nên mỗi khi nghe họ đàn, hát, thì nổi tam bành, lục tặc, chửi cha, mắng mẹ của người phụ nữ, đập đàn, xé nát những bản nhạc…

Chính vì vậy, mà theo người viết, thì Thúy Kiều có được những kỷ niệm đẹp, và hạnh phúc khi sống với Thúc Sinh; hơn hẳn với Kim Trọng và cả với Từ Hải.

Tuy nhiên, Thúc Sinh đã có vợ, nên Thúy Kiều không thể sống, và cũng không nên sống bên cạnh cả đời được, vì nếu có sống được, thì sẽ khiến cho cả ba người Thúc Sinh, Hoạn Thư và cả Thúy Kiều đều khổ như nhau.

Thúc Sinh sợ vợ

Trên đời này, một người đàn ông bình thường, đã có vợ, mà lại có thêm nhân tình hay vợ “bé”, là hoàn toàn có lỗi với vợ, mà không sợ vợ, thì mới là chuyện lạ. Đàng này, Thúc Sinh là con rể của một ông quan Trủng Tể:

“Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà”.

Qua bốn câu thơ trên, thì làm sao Thúc Sinh không sợ vợ được, mà đâu phải sợ một mình vợ, mà còn phải sợ cả uy quyền của bố mẹ vợ nữa. Vì thế, Thúc Sinh sợ vợ, hay phải sợ vợ, là cái sợ của một người chồng có lỗi.

Về chuyện ghen của Hoạn Thư, thì người viết, Thúy Kiều không có cái “quyền” được trả oán đối với Hoạn Thư, vì đã biết Thúc Sinh đã có vợ, mà vẫn tiếp tục chung sống với chồng của Hoạn Thư, con quan Trủng Tể, một tiểu thư “lá ngọc cành vàng” sống trong vòng lễ giáo hẳn hoi, nên cho dù “có máu ghen”, nhưng cái ghen của một người có kiến thức, chứ không như cái ghen của những phụ nữ tầm thường. Kính mời quý độc giả đọc bài: Ngày Xuân nói truyện Kiều -bài 1-

Điểm son của Thúc Sinh

Cụ Nguyễn Du đã cho biết về Thúc Sinh:

“… Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương
Vốn người huyện Tích châu Thường
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri…”

Câu thứ tư trong bốn câu thơ trên, đã cho chúng ta biết Thúc Sinh “Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri…”. “Nghiêm đường” là Thúc Ông, là người cha “nghiêm huấn” của Thúc Sinh. Và Thúc Sinh đã theo Cha của mình, mở một ngôi hàng, để buôn bán. Điều này, cũng cho chúng ta thấy có điều gì không bình thường giữa Thúc Sinh và Hoạn Thư. Thúc Sinh “cưới” Hoạn Thư có phải vì tình yêu hay từ một nguyên do nào khác? Vì nếu là vì tình yêu, thì tại sao đã là vợ chồng, nhưng Thúc Sinh lại không sống chung một nhà với Hoạn Thư, mà lại đi mở ngôi hàng, để buôn bán, sống tự lập, không lệ thuộc vào gia đình vợ là quan Trủng Tể.

Nhưng dù sao, Thúc Sinh cũng có được điểm son này, vì Thúc Sinh có tư cách của một người đàn ông không sống bám vào vợ và gia đình vợ. Nghĩa là Thúc Sinh không sống bám vào đàn bà. Thúc Sinh chọn cách sống riêng, khi nào nhớ, thì về thăm vợ, và cũng vì sống riêng, nên Thúc Sinh mới lân la ở chốn thanh lâu, mới gặp Thúy Kiều, rồi thời gian chung sống với Thúy Kiều suốt cả năm trời, mà Thúc Sinh không hề nhớ đến Hoạn Thư, cho đến khi Thúy Khiều nhắc và khuyên Thúc Sinh nên về thăm vợ, thì Thúc Sinh mới trở về, và cả hai, Thúc Sinh và Thúy Kiều đã phải rơi vào “kế” của Hoạn Thư như những người đọc truyện Kiều đã biết.

Thúy Kiều sống với Từ Hải, nhưng vẫn yêu và trọng Thúc Sinh

Điều này, chính cụ Nguyễn Du cho biết khi Thúy Kiều mượn oai của Từ Hải, và Từ Hải đã vì Thúy Kiều, nên đã giúp Thúy Kiều “ơn đền oán trả”. Thúy Kiều đã cho người “mời” cả Thúc Sinh và Hoạn Thư đến dự cuộc trả oán này. Vậy, ta hãy nghe Thúy Kiều nói với Thúc Sinh:

“Cho gươm mời đến Thúc lang
Mặt như chàm đổ mình đường dẽ run
Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”

Đã công khai sống với Từ Hải, nhưng tình yêu của Từ Hải dành cho mình vẫn chưa đủ “lớn”, để Thúy Kiều có thể quên được Thúc Sinh, nên khi “tái ngộ”, Thúy Kiều vẫn gọi Thúc Sinh là “Thúc lang”, như là “chồng” của mình. Chẳng những vậy, mà Thúy Kiều còn nói:

“Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

Bốn câu thơ trên đã cho biết Thúy Kiều vẫn xem Thúc Sinh “Nghĩa nặng nghìn non”, và hỏi “Lâm tri người cũ chàng còn nhớ không?” Câu thơ này, đã cho biết Thúy Kiều vẫn nhớ Thúc sinh; nhưng bởi “Sâm Thương”, ý nói Thúy Kiều và Thúc Sinh như sao “Sâm” ở phương Tây và sao “Thương” ở phương Đông, sao này mọc thì sao kia lặn, không bao giờ gặp nhau. Chỉ sự cách biệt, nên “chẳng vẹn chữ tòng”. Chữ tòng ở đây, là Tòng Phu, là theo chồng. Thúy Kiều muốn nói với Thúc Sinh “Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”; nghĩa là Thúy Kiều vẫn nhớ “cố nhân” là người cũ, và tại có Hoạn Thư, nếu không, thì Thúy Kiều đã “vẹn chữ tòng” đã là “vợ” của Thúc Sinh rồi. Vậy nên, Thúy Kiều chỉ còn biết đền đáp Thúc Sinh bằng vật chất:

“Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”

Mối tình với Từ Hải

Với Từ hải, một con người được cụ Nguyễn Du cho biết:

“Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.

Đây là 2 câu lấy ý từ hai câu thơ trong dân gian, không biết tác giả, đã mô tả Hoàng Sào, một tướng giặc đời nhà Đường, ngoài kiếm cung, còn là một “nghệ sĩ” biết đàn nữa:

“Bán kiên cung kiếm bằng thiên tuấn,
Nhất trạo giang sơn tận địa duy”.

Nghĩa là:

“Nửa vai cung kiếm tận trời cao,
Non sông khắp cõi xông pha một chèo”.

Mặc dù được ca ngợi như vậy, nhưng có lẽ Từ Hải chỉ biết dùng gươm, chứ không biết sử dụng (chơi) đàn; vì suốt những đoạn thơ kể từ lúc gặp Thúy Kiều cho đến khi bị “chết đứng”, không ai thấy Từ Hải đàn cho Thúy Kiều hát cả. Hay có thể “chiếc đàn” của Từ Hải chỉ là để làm kiểng mà thôi.

Song cho dù không biết hay không đàn cho Thúy Kiều hát, nhưng Từ Hải đã hết lòng yêu thương Thúy Kiều. Yêu, nên Từ Hải đã không trách Thúy Kiều khi nói với Thúc Sinh

“Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

Từ Hải yêu thương, và xem trọng Thúy Kiều, nên khi muốn rước Thúy Kiều về với mình, Từ Hải đã “Ngỏ lời nói với băng nhân”. Băng Nhân, là người mai mối, để hỏi cưới vợ, và Từ Hải đã chuộc Thúy Kiều bằng số tiền “được” Mã Giám Sinh mua từ lúc đầu “Tiền trăm lại cứ nguyên nhân phát hoàn”. Từ Hải quá yêu quý Thúy Kiều, nên trước khi rước Thúy Kiều về “dinh” họ Từ đã trang hoàng phòng cho đêm “động phòng hoa chúc” “thật lộng lẫy “Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn, Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên”. Nguyên đoạn thơ ấy như sau:

“Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền nguyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”.

Thế nhưng, cũng vì yêu. Từ Hải đã yêu Thúy Kiều bằng tất cả trái tim, nên mới nghe – tin lời của Thúy Kiều và Hồ Tôn Hiến, chấp nhận làm “hàng thần”, để rồi phải chết. Đến đây, người viết kính mời quý độc giả đọc bài: Ngày Xuân nói truyện Kiều -bài 2-

Phải nói rằng, Thúy Kiều có yêu, nhưng không phục Từ Hải, nên Thúy Kiều đã “ví” Từ Hải như tướng cướp Hoàng Sào. Điều này, cũng do chính cụ Nguyễn Du đã viết qua lời của Thúy Kiều nói với Từ Hải:

“Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào?”.

Nhưng xét cho cùng, với cảnh ngộ của Thúy Kiều, thì chẳng có chọn lựa nào khác, vì Thúy Kiều vẫn ước mong trở về với cố hương, với gia đình, nhưng không thể trở về với thân phận là vợ bé của Thúc Sinh, mà cần phải trở về với danh phận là một “mệnh phụ, phu nhân”

Từ những suy nghĩ cho riêng mình như thế, nên Thúy Kiều mới khuyên Từ Hải đầu phục triều đình, để được công nhận là Vương thần:

“Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương,
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha”.

Ngày đoàn viên, Thúy Kiều không nhớ đến Từ Hải

Trong chúng ta, những người đã đọc truyện Kiều đã biết, ngày đoàn tụ với gia đình, dù lúc này gia đình của Thúy Kiều đã có đầy đủ mọi điều kiện, Vương Quan và Kim Trọng đã ra làm quan, nhưngThúy Kiều không hề nhắc nhớ đến Từ Hải, mà có lần, khi Từ Hải “xuất chinh” Thúy Kiều đã nói:

“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin theo”

Và đến khi Từ Hải đã chết, Thúy Kiều cũng đã nói đến nghĩa tình phu-phụ, là vợ chồng:

“Ngỡ là phu quý phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan- tành thịt xương”.

Thế nhưng, ngày đoàn viên, Thúy Kiều không tưởng nhớ tới Từ Hải hay nhắc nhớ tới nấm mộ của Từ Hải ở nơi nào, cũng không thắp một nén hương cho Từ Hải, khác hẳn với lúc đã trở thành “phu phụ” với Từ Hải, nhưng Thúy Kiều vẫn nhớ Thúc Sinh với những lời đầy ân nghĩa, tình thâm. Thúy Kiều cũng đã quên những gì mình đã thốt ra vào giờ phút “tử biệt sinh ly” trước tấm thân “chết đứng” của Từ Hải:

“Khóc rằng: Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!”

Tạm kết

Như đã tình bày, theo người viết, Thúy Kiều có sắc, có tài “cầm kỳ thi họa”, nhưng không có Lý Tưởng; không trọn tình “phu phụ”, không vẹn nghĩa thủy chung với Từ Hải, người đã “nghe lời” Thúy Kiều, như cụ Nguyễn Du cho biết qua “miệng” của Thúy Kiều:

“Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình”.

Và Từ Hải đã phải chết vì bất trí, nên đầu hàng. Chết vì Thúy Kiều; không phải chết vì dân vì nước. Từ Hải đã yêu bằng trái tim, không có lý trí!

Đấy là tấm gương, mà cụ Nguyễn Du đã lưu lại cho hậu thế, để cho những người đã, đang và sẽ có thân danh làm Tướng, hoặc là người lãnh đạo đất nước, cần phải khắc cốt, ghi tâm, để không bao giờ cho phép mình có thể để cho trái tim điều khiển lý trí của mình; bởi dưới “trướng” của mình còn có biết bao nhiêu là những chiến sĩ, và dân lành.

Chính vì thế, nên thân danh của người làm Tướng phải sống và chết cùng quân sĩ nơi sa trường; nếu sa cơ, có bị tù đày, thì sẽ là những tấm gương ngời sáng cho hậu thế ngưỡng mộ và noi theo – Người Lãnh đạo đất nước, phải sống và chết vì Tổ Quốc và Dân Tộc!

03/02/2017 (Đầu Xuân Đinh Dậu, 2017)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Advertisements
This entry was posted in Bình-luận - Quan-điểm. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s