CÂU CHUYỆN PHẬT GIÁO (Phan Duy Thức): 1-Một vài định nghĩa

Câu Chuyện Phật Giáo

Lời thưa trước.Bài này hoàn toàn không mang tính cách giải trí, đọc qua cho vui mắt vào ngày cuối tuần rồi bỏ. Nội dung bài này có mục đích rõ ràng là xoáy thẳng vào tạng thức của người đọc. Trong tiếng Sankrist bên Phật Giáo gọi là Alaya Vijnana. Đây cũng chính là hang ổ ma quỷ của kiếp nhân sinh. Thế cho nên người nào tự cho là phật tử mười năm trở lên, không nên đọc bài này. Vì bệnh nhiễm đã quá lâu, có thể sẽ có phản ứng chống thuốc, khiến khó chịu, bực bội, tức giận, do ma chướng từ hang ổ sâu kín tận thức thứ tám vùng lên vật ngã. Hoặc có những thể hiện tâm sinh lý khác, khó lường trước được.

Thực tế, bài này chỉ dành riêng cho những người trẻ tuổi, có đầu óc cởi mở, phóng khoáng, sức lực, khí lực còn dồi dào, và thật lòng muốn tìm hiểu thực tế ma và quỷ, đang lộng hành trong xã hội Việt Nam hiện nay, mới cần nên đọc. Ngoài những điều trên, không nên đọc tiếp. Xin cảm ơn trước.

1. Một vài định nghĩa.

Phật là gì?

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về chữ phật trong Phật Giáo. Nguyên gốc tiếng Phạn (Sankrist) là buddha, có nghĩa là người đã giác ngộ, người đã nhận rõ sự vận hành của kiếp nhân sinh trong vũ trụ (universe), pháp giới (dharmadhatu). Khi chữ buddha du nhập sang Tàu, vì lưỡi ngắn, nên người Tàu phát âm không rõ ràng là But Ta. Hai chữ But Ta (佛 佗) của Tàu lại du nhập sang Đại Việt vào thời bắc thuộc lần thứ tư, vào đầu thế kỷ 15. Tức Đại Việt nằm dưới ách đô hộ của giặc Minh. Hai âm But Ta được người Việt phát âm là Phật Đà. Điều này không có nghĩa là Phật Giáo chỉ du nhập vào Đại Việt trong thời gian 10 năm bắc thuộc của nhà Minh bên Tàu. Hai chữ Phật Đà, nói lâu, nói hoài, mỏi miệng, lại thêm tính làm biếng, nên người Việt cắt bỏ cái đuôi phía sau. Thế là chúng ta chỉ còn lại chữ Phật. Mà hiện nay, mọi người đều gọi là Phật Giáo.

Cũng nên biết thêm, sau khi đắc đạo, Sakya Muni có mười danh hiệu như sau: Như Lai (Tathagata), Ứng Cúng (Arhat), Chánh Biến Tri (Samyak Sambuddha), Minh Hạnh Túc (Vidya Carana Sampanna), Thiện Thệ, (Sugata), Thế Gian Giải (Lokavid), Vô Thượng Sĩ (Anuttarah Purusada Myasarathih), Thiên Nhân Sư (Sasta Deva Manusyanam), Phật (Buddha), Thế Tôn (Bhagavat).

Mười danh hiệu này luôn được dùng cho bất cứ ai, trên bình diện tâm linh, đã đạt được trình độ toàn giác: Anuttara Samyak Sambodhi, mà hiện nay chúng ta thường nghe, do sự phiên âm ngọng của tiếng Tàu, là A [a] Nậu [nut] Đa [ta] La [ra] Tam [sa] Miệu [myak] Tam [sam] Bồ [bo] Đề [dhi].

Chữ Thích Ca là diễn âm Việt của chữ Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni).

Thật ra, chúng ta nên gọi là Thích Ca Giáo thì đúng hơn. Vì đó là những điều truyền dạy của nhân vật lịch sử Sakya Muni, năm 563 trước Tây Lịch. Trong khi đó, Phật chỉ là một trong mười danh hiệu của bất cứ ai đắc quả vị toàn giác, không riêng gì Sakya Muni. Và kinh sách Phật Giáo hiện nay chỉ có từ Sakya Muni truyền ra, không phải do những vị Phật khác trước đó, truyền xuống.

Khi chúng ta gọi là Phật Giáo, sẽ có người hỏi, Phật Giáo là Giáo của Phật nào? Phật Giáo của Phật A Di Đà (Amitaba)? Phật Giáo của Phật Nhiên Đăng (Dipankara)? Hay Phật Giáo của Phật Ca Diếp (Kasyapa), vân vân, và vân vân. Trong khi đó, nếu gọi là Thích Ca Giáo, mọi người đều hiểu rõ rằng đó là những điều giảng dạy bởi Phật Thích Ca Mâu Ni. Xin nhắc lại, chữ phật chỉ là một danh từ chung, trong mười danh vị để gọi, đối với người đã chứng quả vị toàn giác, không riêng gì Sakya Muni.

Bồ tát là gì?

Kế đến, chúng ta cùng xét qua nguồn gốc hai chữ bồ tát. Chữ bồ tát là diễn âm Việt từ chữ tiếng Phạn bodhisattva. Diễn âm tiếng Việt cho đầy đủ, theo âm nói ngọng của người Tàu, cũng du nhập vào Đại Việt vào thời Minh thuộc, là bồ đề tát đỏa (菩 薩 薩 埵). Có nghĩa là một con người đang cải sửa những sự khiếm khuyết, những tật xấu ác, của chính bản thân mình, trên con đường tiến đến trình độ toàn giác. Và đồng thời giúp người khác cùng làm như vậy. Có nghĩa là tự cứu mình, nhưng cũng nhắc nhở người khác để họ tự cứu họ. Chẳng khác nào người bị bệnh cúm, phải lo uống thuốc để tự cứu mình. Nhưng gặp người bạn cũng bị cúm, nên sẵn miệng nhắc họ nên uống thuốc cho sớm lành bệnh. Chứ cá nhân người này cũng không thể uống thuốc giùm cho kẻ khác được. Trong Phật Giáo có câu: “Ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng.” Nên biết, không ai có quyền, và có khả năng, cứu người khác được cả. Kể cả chính bản thân Thế Tôn. Nói chi đến mấy người cạo đầu giả tu, để gạt thiên hạ, hiện nay. Người Việt chúng ta ngu si, mê muội, tin càng, tin bướng, mới hì hục đóng tiền, sì sụp quỳ lạy, thuê mấy người cạo trọc đầu về nhà, khua chuông gõ mõ, hát ê a mấy bài kệ, mà chẳng ai hiểu gì cả. Rồi hài lòng với cái ảo giác phước lộc mãn đường. Chúng ta ngu si, bị người ta gạt thì ráng chịu.

Xin nêu ra đây hai ví dụ có ghi lại trong kinh sách. Khi dòng họ Thích Ca (Sakya) bị vua Lưu Ly (Virudhaka) tàn sát không còn một người. Dù được học trò là Mục Kiền Liên năn nỉ cứu giúp, Như Lai vẫn không làm gì cả. Bởi Thế Tôn biết đó chỉ là nghiệp quả từ bao kiếp trước, bây giờ là lúc họ phải tự giải quyết. Không ai có thể xen vào phá vỡ quy luật nhân quả của vũ trụ, pháp giới được cả. Khi Mục Kiền Liên (Moggallana) bị bọn cướp giết. Dù có biết điều này nhưng Thiện Thệ vẫn không cứu. Mục Kiền Liên là một trong mười học trò của Phật Thích Ca được thầy tặng cho danh hiệu Đệ Nhất Thần Thông. Điều này cũng cho chúng ta biết rằng, dù có thần thông bậc nhất, nhưng Mục Kiền Liên vẫn không thoát khỏi kết quả của nghiệp báo, tức sự vận hành của luật nhân quả.

Bốn chữ bồ đề tát đỏa, nói cho văn hoa, mang tính cách cứu người chuyên nghiệp, là tự độ độ tha. Nghĩa là: lợi mình và lợi người, trên con đường tiến đến toàn giác. (To benefit self and benefit others, leading to buddhahood.) Bốn chữ bồ đề tát đỏa, quá dài, nói hoài mỏi miệng, lại thêm tính làm biếng, nên họ cắt bỏ chữ đề, và chữ đỏa. Thế là chúng ta còn lại hai chữ bồ tát. Hai chữ này, như chúng ta biết, hầu như mọi người, dù không biết gì cũng tự hớp hồn mình và gạt người, qua hai chữ bồ tát. Nghe đến mòn lỗ tai. Nói đến khô nước miếng, và hư cả răng. Mà chẳng hiểu gì cả. Đây là cái hay và cũng là sự ngu si, mê muội, không chịu tìm hiểu cặn kẻ ngọn nguồn, của đại đa số người Việt chúng ta tự cho là phật tử hiện nay.

Theo giáo lý của Như Lai, vũ trụ pháp giới có tất cả mười cảnh giới hay mười cõi (ten spiritual realms), cho những trình độ tiến hóa tâm linh (spiritual levels) như sau: [1] địa ngục (naraka, hell); [2] súc sanh (animal, brutality); [3] quỷ đói (pretas, hunger); [4] atula (asuras, anger); [5] người (humanity, human); [6] trời (devas, heaven); [7] thanh văn (sravaka, learning); [8] duyên giác (pratyeka, realization); [9] bồ tát (bodhisattvahood); [10] phật (buddhahood).

Mười cõi trong pháp giới
(ten dharma realms).

Sáu cõi đầu từ [1] đến [6] vẫn còn trong vòng luân hồi của sinh tử (samsara). Còn thuộc trong tam giới, tức lộn tới lộn lui trong ba cõi (triloka, three realms). Ba cõi này gồm có: dục giới (lust, desire, kamadhatu) 20 cõi, kể cả 6 cõi trời dục giới; sắc giới (form, rupadhatu) 17 cõi trời; và vô sắc giới (formlessness, arupadhata). Chỉ có bốn cõi từ [7] đến [10] mới ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Sáu cõi luân hồi trong vòng sinh tử
(birth and death cycle).

Ngoài ra, chúng ta thường nghe nói đến các vị bồ tát như Quán Thế Âm (Avalokitesvara), Đại Thế Chí (Mahastha Maprapta), Địa Tạng (Ksitigarbha), Phổ Hiền (Samanta Bhadra), Văn Thù (Manjursi), vốn là những vị cổ phật, hoặc vị đã chứng ngôi đẳng giác, diệu giác, nhưng trụ ở cảnh giới bồ tát để hóa độ chúng sanh theo bản nguyện, hay Di Lạc (Maitreya) là bồ tát nhất sanh bổ xứ, đang ở cõi Đâu Suất Thiên (Tusita) lại là những chuyện khác. Chúng ta không bàn đến ở đây.

Những người cạo đầu trọc, giả tu trong Phật Giáo, qua kinh sách, biết rõ nguồn gốc của bốn chữ bồ đề tát đỏa. Nhưng họ không nói ra cho chúng ta biết rõ. Phải để chúng ta hiểu mù mờ, để họ còn lợi dụng được.

Nghiệp là gì?

Chữ nghiệp, trong tiếng Sankrist là karma (action). Tự nó không có nghĩa xấu ác, hay thiện lành. Nó chỉ là một tư tưởng, hành vi, hành động, một thói quen trong đời sống thường ngày. Nghiệp, tức hành động sẽ đưa đến một kết quả. Một người có thói quen suy nghĩ, và hành động, cứu giúp người khác khi gặp hoạn nạn. Người này có được cái nghiệp lành, nghiệp thiện. Một người chuyên dối gạt, lừa đảo, lợi dụng sự ngu si của chúng ta để sống. Người này có cái nghiệp ác, nghiệp xấu.

Trong tiếng Việt chúng ta có một danh từ rất hay, đáng cho chúng ta lưu ý. Đó là hai chữ nghề nghiệp.

Do thói quen, từ lúc nào chưa biết, chúng ta sẽ chọn một cái nghề để kiếm sống. Tức cái nghiệp khiến chúng ta chọn cái nghề. Khi hành nghề, sẽ tạo nên một thói quen. Tức cái nghề tạo nên cái nghiệp.

Ví dụ. Một người, vì quen cái nghiệp lừa đảo, sẽ cạo trọc đầu, chọn nghề tu sĩ giả mạo, lợi dụng sự tôn sùng của chúng ta để kiếm cơm. Càng sống lâu với cái nghề ma trọc này, cái nghiệp lừa đảo của họ càng sâu dày. Với ví dụ ma trọc ở trên, sẽ dẫn đến kết quả là họ có tiền, được sự trọng vọng, do lừa bịp, qua hai chữ tôn giáo. Nhưng kết quả của nghiệp không đơn giản chỉ có vậy. Ác nghiệp đó có thể dẫn đến việc người này bị côn đồ vác dao chém chết, cũng không chừng. Và còn vô số những kết quả do cái ác nghiệp này đem lại, mà ở đây chúng ta chỉ gợi ý sơ lược.

Riêng chúng ta, cứ đến thời là kéo nhau chùa, đóng tiền mua phước. Một loại tiền hưu sau khi chết. Chính cá nhân những ma trọc này cũng chẳng có một chút phước đức, một chút trí tuệ. Làm sao họ bán cho chúng ta được. Đâu có chuyện dễ dàng và đơn giản như vậy. Bởi ngu si, và bị ma ám, chúng ta không nhận ra thực tế đơn giản này. Thế là chúng ta ra về, khen kẻ này giảng hay, người kia thuyết giỏi. Rồi chúng ta vẫn phải hùng hục kiếm tiền, để kỳ sau trở lại cái trung tâm hớp hồn này, đóng tiền, nghe họ hát tiếp.

Để tiền đó đi uống cà phê còn tốt hơn.

Tại sao vậy? Bởi cách nào chúng ta cũng tốn tiền. Nhưng uống cà phê thì cái đầu không bị ma ám. Nhìn cảnh tượng, một ma trọc ngồi ở trên bàn có hoa, có trà, với ngôn từ, lời lẽ, bịp bợm, mà chính họ cũng không hiểu đang nói gì. Còn dưới kia là chúng ta một đám người ngu si, mê muội, nhắm mắt, chấp tay, thán phục. Mà cũng chẳng biết mình đang nghe cái gì, hiểu điều gì. Nhưng càng ngày đầu óc chúng ta càng bị hôn ám, ngu muội. Bởi cứ phải tới những nhà chùa, thực tế chỉ là những trung tâm hớp hồn, do ma quỷ cai quản. Phật Thích Ca rủi có biết được, cũng lắc đầu, nói hai chữ bó tay chấm cơm. Chúng ta ngu si thì ráng chịu. Tại sao người khác không bị bịp, không bị hớp hồn, mà chúng ta lại bị nặng nề, thê thảm. Đã vậy, chúng ta lại còn hớn hở vui mừng. Bởi đây là kết quả do cái ác nghiệp ngu si đưa đến. Bị hớp hồn càng lâu, nghiệp ngu si càng nặng.

Những người phật tử giả mạo chúng ta có lẽ chưa bao giờ nghe được câu này: “Y kinh giải nghĩa, tam thế phật oan. Ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.”

Có nghĩa là; nếu cứ theo mặt chữ mà giảng giải, lếu láo, tức nói oan cho ba đời phật. Bởi kẻ giác ngộ trong quá khứ và hiện tại, không nói như vậy bao giờ. Và kẻ giác ngộ trong tương lai cũng sẽ không bao giờ nói như vậy. Tức là họ đang đem điều lếu láo, nhét vào miệng của những bậc giác ngộ. Trong khi đó, nếu nói ra ngoài kinh sách một chữ thì chính là ma nói, quỷ thuyết.

Có ai trong chúng ta đủ trí lực, và thắng nổi con ma sùng bái, và con ma sợ sệt, đang đè nặng trong đầu, để hạch hỏi một ma trọc rằng, ngồi trên đài cao nói cả tiếng đồng hồ như vậy, thì y kinh giải nghĩa, hay ly kinh nhất tự. Dĩ nhiên, họ sẽ đớ người ra. Bởi có biết cái gì đâu. Họ chỉ cần nói càng, nói bướng, kiếm cơm, đếm tiền là đạt mục đích rồi. Đã vậy họ còn cười, và tự nói rằng:

“Đối với lũ ngu si tụi bây, ta nói gì mà không hay, không đúng. Tụi bây có biết rằng phép phật là vô biên hay không. Ta nói sao chẳng được. Kinh của phép phật có vô lượng nghĩa. Ta nói sao mà chẳng đúng. Cứ yên lòng vui vẻ ra về. Chờ kỳ sau, đến đóng tiền nghe hát tiếp.”

Họ chỉ cần học thuộc lòng vài ba cuốn kinh, làm vốn lận lưng để hành nghề bịp thiên hạ kiếm cơm sống qua ngày. Thực tế, họ cũng chẳng cần hiểu điều gì cả. Tương tự như ca sĩ, đưa bản nhạc nào họ cũng hát được, miễn là trả tiền đầy đủ. Đây là bí mật nghề nghiệp của ma trọc.

Nói vậy chứ đối với phần lớn dân Việt ngu khờ chúng ta hiện nay, họ chỉ cần thuộc bài Bát Nhã Tâm Kinh, Chú Đại Bi, Chú Vãng Sanh là hành nghề được rồi. Cần học thuộc lòng trong một tuần lễ là xong.

Hiện nay ở Việt Nam vẫn có những người hành nghề thầy cúng. Họ không cạo trọc đầu, nhưng vẫn làm đủ những nghi thức, tụng niệm, cầu an, cầu siêu, như một ông cạo trọc. Tuy nhiên, vì không cạo trọc đầu và sống trong chùa, nên giá cả nhẹ nhàng hơn.

Bởi vậy, Thế Tôn khi xưa, biết trước thế nào cũng có ma trọc, lợi dụng những lời dạy để kiếm cơm. Nên Như Lai phủ nhận mọi điều rằng: “Trong suốt bốn mươi chín năm giảng đạo, ta chẳng có nói một lời nào.” Vậy sao bây giờ trọc ma moi ở đâu ra nói hoài, nói mãi không hết. Phật tử giả mạo chúng ta, chưa bao giờ, và không bao giờ để ý, và thắc mắc câu nói trên của Như Lai. Bởi vậy mới gọi là ngu si. Bởi vậy mới gọi là mê muội. Bởi vậy mới gọi là ma ám.

Thế Tôn, đã biết trước sự ngu muội, cùng tính a dua theo số đông của chúng ta, nên có lần đã cảnh cáo rằng:

“Đừng vội tin nghe bất kỳ ai nói cả. Dù kẻ đó chính là ta. Dù điều có ghi rõ ràng trong kinh sách từ xưa. Dù điều đó có cả hàng triệu người chấp nhận. Khi nghe bất cứ một điều gì không nên vội tin nghe. Mà phải chiêm nghiệm, suy nghĩ cẩn thận, kỹ càng. Cho đến khi nào hợp tình hợp lý do sự nhận định của mình thì mới tin.”

Khổ nỗi, chúng ta ngu si, cả hai chữ suy nghĩ cũng không hiểu hết nghĩa trong tiếng Việt, nói chi đến việc suy nghĩ, và nhận định. Hơn nữa, cũng vì nghiệp ngu si, nên thay vì nghe theo lời Thế Tôn, chúng ta hăm hở đóng tiền để được chạy theo nghe lời ma quỷ. Lại bị con ma tham lam ám nhập, nên chỉ muốn loại mì ăn liền, bún nuốt vội.

Để thỏa mãn thị hiếu khách hàng, họ bèn sáng tác ra món Thiền Ăn Liền. Gọi cho hay ho để hớp hồn thiên hạ là Thiền Đốn Ngộ. Thế là có hàng triệu người ào ào, tranh nhau đóng tiền để mua cho được một tô Thiền Ăn Liền. Nói theo tiếng Mỹ sẽ là Instant Enlightenment. Một hình thức như Instant Coffee, Instant Noodle. Vì ngu si, mê muội, chúng ta bị họ bịp mất tiền, mà trong lòng lại vui mừng hớn hở.

Bỏ qua bao nhiêu tiền kiếp tu sửa theo con đường bồ tát đạo, ngay cả trong kiếp cuối cùng, thái tử Tất Đạt Đa (Siddartha) cũng phải mất sáu năm sống trong rừng già khổ công tu sửa. Thế mà chúng ta, một đám lơ ngơ, chỉ cần đóng tiền, ghi danh, theo học vài khóa Thiền Đốn Ngộ, là có thể “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành phật.” Quả là hay và nhanh không ai sánh bằng. Đối với người không quen, câu này có nghĩa là; “chỉ thẳng tâm thật, thấy tánh làm phật.” Không biết bao lâu nay, có bao nhiêu ông phật tốt nghiệp loại này.

Cũng bởi chúng ta mạo nhận là phật tử, nên không bao giờ chúng ta nghe lời Như Lai. Ngược lại, chúng ta tranh nhau, đóng tiền để nghe những lời ma mị của trọc ma, trọc quỷ, đang ồn ào ca hát trước mặt. Cũng bởi cái nghiệp ngu si chiêu cảm mà nên.

Thiền là gì?

Như đã nói, mục đích duy nhất của Phật Giáo là giải thoát (vimukt, emancipate) khỏi cái nạn sinh tử luân hồi (samsara, birth and death cycle), trên đường tiến hóa tâm linh đến trình độ toàn giác (complete enlightenment). Chỉ có vậy. Ngoài ra không có gì khác.

Chắc chắn là không phải để được sức khỏe dồi dào, làm ăn phát tài, học hành đỗ đạt, thăng quan tiến chức, hạnh phúc tràn đầy, phúc lộc dồi dào, kể cả khai mở luân xa, thần thông, phép thuật. Những điều trên là kẻ thù, là chướng ngại (obstacles), đối với việc thực hiện mục đích duy nhất, là giải thoát, của Thích Ca Giáo. Đây là điều chúng ta nên lưu ý để khỏi bị lừa gạt. Phải lâm cảnh tiền mất tật mang. Tật mang ở đây là nghiệp ngu si ngày càng sâu dày. Chữ ngu si (ignorance) chúng ta dùng ở đây mang tính phổ thông, không phải hằn học chửi rửa, và cũng không vẽ vời như trong kinh sách gọi theo lối Tàu là vô minh.

Để thực hiện điều này, Thế Tôn đưa ra nhiều cách. Không cách nào hay hơn cách nào. Cách nào cũng cùng mục đích duy nhất là giải thoát khỏi tam giới, khỏi luân hồi, đạt trình độ tâm linh toàn giác. Vấn đề chỉ là tùy căn cơ của từng người, hay tùy bệnh mà cho thuốc khác nhau. Những cách này được gọi là phương pháp, hay là phép môn. Ví dụ, Tịnh Độ (Buddhaksetra), Duy Thức (Vijnanavadin), Luật (Vinaya), Chân Ngôn (Mantra), Luận (Abhidhamma), Thiền (Dhyana), Câu Xá (Kosa), và còn nhiều nữa.

Riêng Phật Giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhism) thường bị người Việt hiểu lầm là mật tông. Do chữ mật tông này khiến nhiều người Việt tham lam, ưa phù phép, kỳ bí, khác lạ, chạy theo. Cũng chỉ là một hình thức tham lam, muốn chứng tỏ mình có một điều khác người. Tương tự như phong trào thiền đang thịnh hành trong giới người Việt chúng ta hiện nay.

Trong thời đại ma trêu, quỷ ám hiện nay, đi đâu chúng ta cũng nghe vô số người tráo miệng về phép thiền này, phép thiền nọ, kể cả thiền ôm (hugging metitation), thiền nằm (lying meditation). Nhưng có mấy ai biết nguồn gốc, và ý nghĩa, của phép thiền trong Phật Giáo là thế nào.

Chữ thiền, hiểu theo tiếng Việt, có nghĩa là đóng tiền nghe hát. Hy vọng người đọc còn đủ trí lực để nhận ra thiền, theo nghĩa tiếng Việt hiện nay, đơn giản chỉ là việc đóng tiền nghe hát. Đọc đến đây mà đầu óc vẫn còn đớ ra, tức chúng ta đã bị liệt não khá nặng. Tức chúng ta đã bị ma ám khá lâu. Vì bao lâu nay chúng ta do quá tham lam, và sống trong giả dối, khiến đã bị trọc ma, trọc quỷ, hớp hồn khá nặng.

Hiện nay, thời đại ma quỷ lộng hành, chỉ cần nghe nói đến chữ thiền là chúng ta bị ma quỷ trọc đầu hớp hồn. Bất cứ chuyện gì, cứ thêm chữ thiền vào là ăn tiền. Nên biết cái phép thiền này ở đâu cũng có, kể cả thiền ca, lẫn thiền múa. Không phải là sản phẩm độc quyền trong Thích Ca Giáo.

Chúng ta không biết kinh Viên Giác (Purnabuddha), kinh Lăng Nghiêm (Shurangama) bên Thích Ca Giáo, mà nói về thiền, thì cũng chỉ là kẻ phật tử giả mạo, đang ngủ mê nói mớ.

Xin lưu ý, người Tàu, vì lưỡi ngắn, âm “đ” trong tiếng Việt hay “d” trong tiếng tây phương luôn bị phát âm ngọng là “t”. Ví dụ, đà sẽ là tà, đại sẽ là tài, đông sẽ là tung. Âm “r” bị phát âm ngọng là “l”. Ví dụ, Paris họ phát âm là Ba Lê. Người Việt chúng ta bị nô lệ Tàu mọi chuyện, nên cứ theo đó mà nói theo, một cách không suy nghĩ. Đây cũng là căn bệnh nô lệ ngàn năm của người Việt mà ông Phan Chu Trinh đã từng nói đến.

Theo kinh Viên Giác (Purnabuddha). Trước sửa, tức tu, theo phép Chỉ (Samatha). Sau sửa, tức tu, theo phép Quán (Samadhi). Hoặc vừa Chỉ vừa Quán. Hai môn trước xong xuôi, thành thục rồi (pre-requesites), thì mới nói đến Thiền Na tức (Dhyana). Chữ Dhyana bị người Tàu phát âm ngọng nên gọi là Thiền Na. Vì nói nhiều mỏi miệng, và làm biếng, cuối cùng âm Na ở phía sau bị cắt bỏ. Rốt cuộc chỉ còn lại chữ Thiền. Tức đóng tiền nghe hát. Người Nhật cũng du nhập chử Thiền của Tàu và phát âm là Zen. Có vài ngưòi Việt, còn ngớ ngẩn cho rằng Thiền khác với Zen. Chỉ kể sơ một vài định nghĩa căn bản ra ở đây chúng ta đã mờ mịt, thì nói chi đến phép sửa Dhyana trong Phật Giáo.

Có nghĩa là, trước hết chúng ta phải tu sửa theo phương pháp Samatha. Sau khi đã tốt nhiệp xong bậc tiểu học, Samatha, chúng ta mới có thể tiếp tục theo học ở cấp trung học, để tu sửa theo chương trình Samadhi. Tốt nghiệp Samadhi rồi chúng ta mới có thể, chứ chưa hẳn là chắc chắn, tiếp tục tu sửa theo chương trình Dhyana. Khi theo học ở mỗi bậc đều phải có sự hướng dẫn và theo dõi của người thầy. Dĩ nhiên người thầy này phải tốt nghiệp xong và được chứng nhận đàng hoàng.

Chúng ta không thể theo học bậc đại học được giảng dạy bởi một ông thầy tự xưng, hay chỉ mới tốt nghiệp trung học. Ngay cả bản thân người sinh viên đại học cũng chưa hề học xong bậc tiểu học. Quả là chuyện kỳ lạ. Cả thầy lẫn trò, chẳng biết đang dạy, và học điều gì. Nhưng quan trọng là có đóng đủ học phí, và chắc chắn là sẽ được cấp bằng. Dĩ nhiên là mảnh bằng giả mạo. Đây là điều vẫn đang xảy ra tại Việt Nam hiện nay. Đâu có gì lạ. Đời hay đạo, cũng cá mè một lứa cả.

Vì Dhyana là phương pháp khó khăn và nguy hiểm, các bậc tổ đức này trước luôn nhắc rằng: “Phi thượng thượng căn, thận vật khinh hứa.” Có nghĩa là, nếu người học trò không phải là kẻ thượng căn, không nên nhận bừa, hứa ẩu.

Một người Mỹ trắng đến chùa Pháp Luân (Dharma Wheel) thành phố Pasadena, gặp sa môn Tuyên Hóa (Hsuan Hua; 1918-1995) xin được nhận làm học trò. Câu trả lời là: “Muốn học làm phật, đâu có dễ dàng như vậy. Kể từ lúc bước chân ra khỏi bậc cấp của chùa, phải ba bước một lạy, đến tận Ukiah rồi mới tính.”

Từ thành phố Pasadena, nam California đến vùng rừng núi Ukiah, bắc California, là một chặng đường dài bằng cả nước Việt Nam. Nhưng không phải bây giờ. Phải chờ một năm sau, sẽ có người cùng đi. Bởi trong suốt cuộc hành trình ba bước một lạy để được nhận theo học trường Phật, người này không được mở miệng nói một tiếng. Người đi theo sẽ tiếp chuyện với dân chúng khi cần thiết. Mỗi một lạy, mỗi một bước, phải mật niệm một câu Phật hiệu. Ngày chỉ được ngủ ba tiếng đồng hồ. Nhưng phải ngủ ngồi. Và không được ngủ, hay bước chân vào bất cứ một mái che nào trên đường đi. Không được xin ai bất cứ điều gì. Không được giữ một đồng trong túi. Ai cho gì ăn nấy, dĩ nhiên chỉ ăn chay. Nếu không có ai cho, tự kiếm rau cỏ trên đường mà ăn. Không có rau, không có cỏ thì nhịn đói, uống nước tuyết. Nếu sống sót về đến được Ukiah thì lúc đó sẽ tính.

1. Trong bão tuyết.     2. Giữa sa mạc.

3. Trên đỉnh đèo cháy nắng.    4. Trong bão tuyết hoang vu.

5. Trong bão tuyết.   6. Giữa đỉnh đèo.   7. Bão đang tới.

Và như thế suốt hơn hai năm rưỡi, hai người Mỹ này thực hiện chuyến cầu đạo ba bước một lạy suốt chặng đường trên hai ngàn km mới đến được Ukiah để được nhận vào trường học phật. Không dễ dàng và đơn giản như chúng ta. Chỉ cần, đưa ngón tay quẹt iPhone, gọi điện thoại đóng tiền ghi danh, sẽ có xe đến tận nhà đưa đón, và được nghe những buổi thuyết giảng, đã lỗ tai, sướng con ráy, lại còn được dịp du ngoạn ngắm cảnh. Thời đại iPhone nên chứng iPhật cũng khá nhanh và tiện.

Xin nhắc lại một lần nữa để chúng ta được rõ ràng.

Mục đích duy nhất của Phật Giáo là chỉ cho chúng ta cách để tự giải thoát (vimuttirasa) khỏi sinh tử luân hồi (samsara), tức hiện tượng hết bỏ xác này (chết) lại đi tìm xác khác (đầu thai), cứ lộn đi lộn lại, quay cuồng trong ba cõi (realms); dục (lust), sắc (form); và vô sắc (formlessness). Chúng ta hiện nay đang “sống” trong cõi dục, cho nên hết muốn điều này đến đòi điều khác (desire). Nên để ý thêm là tự giải thoát, bởi không ai có thể làm giùm chúng ta cả. Và không ai có quyền bắt chúng ta vào cõi niết bàn được.

Thử nhìn lại. Ngay cả chữ Chỉ (Samatha) mà chúng ta còn ngỡ ngàng, ngơ ngáo, thì nói chi đến Thiền (Dhyana). Điều này cũng giúp chúng ta nhận ra rằng; những gì trọc ma ồn ào bao lâu nay chỉ là trò bịp bợm, gạt những kẻ ngu muội chúng ta để kiếm sống. Nhưng đây là đề tài ăn khách, dễ hớp hồn thiên hạ, mà ma trọc khua chiêng dộng trống để gạt mọi người nhằm kiếm cơm sống qua ngày.

Phép tu sửa này hoàn toàn không phải là lối thả bộ du dương, kiểu cưỡi ngựa xem hoa, mà ma trọc Nhất Hạnh gọi là từng bước hoa sen nở. Hoa sen đâu mà lắm thế. Nghe quảng cáo dưới mỗi bước chân sần sùi, thô tháp, của mình là một hoa sen nở rộ. Liền có vô số kẻ ngu si, mê muội, nhưng tham lam, chúng ta chạy hùa theo, hớn hở đóng tiền nuôi quỷ. Hiện nay đi đâu chúng ta cũng nghe nói thiền đường, thiền viện.

Vì nghiệp ngu si, mê muội, quá sâu dày, chúng ta nào có biết đó chỉ là chốn nhà ma, viện quỷ.

Có vài người tỵ nạn cộng sản may mắn được cho sống tại các quốc gia tự do. Về già ăn lương hưu, không biết là gì, bày trò thiền tập cuối tuần. Một hình thức giết thời giờ chờ ngày đem chôn. Đóng vài trăm đồng dự vài khóa đóng tiền nghe hát. Đôi lúc, họ còn chứng tỏ sự sở đắc, qua vài khóa đóng tiền nghe hát, nên nói năng vung vít: “Ở đâu cũng vậy.”

Nếu đã vậy hãy bỏ quốc tịch Mỹ, Canada, Úc, Pháp, về sống với lũ cướp mang tên cộng sản Việt Nam đi. Đạt được tự tại thần thông rồi. Ở đâu cũng được. Miệng nói ồn ào như vậy, nhưng không hề biết rằng, ngay chính thái tử Siddartha ngày xưa, sống trong chốn cung đình cũng không được, kể cả lúc sau này khi đã chứng quả toàn giác. Nghĩa là Sa Môn Cồ Đàm cũng không mở miệng nói câu cuồng ngôn vọng ngữ: “Ở đâu cũng được.”

Quả thật đây là một hình thức đóng tiền nghe hát, giải trí đã không lành mạnh, lại còn nguy hiểm, khiến đầu óc chúng ta ngày càng u mê, hôn ám. Cho nên cứ sau một khóa ma thiền, người nào trở về cũng đầu óc cũng ngơ ngáo. Lại còn hãnh diện lớn miệng khoe khoang. Chứng tỏ mình đã đạt được những điều vi diệu ảo. Vung tay, múa chân, cuồng ngôn, cuồng ngữ, cứ như một bước là tới thiên đường. Bởi vậy mới có vụ ma trọc Một Hạnh thường ê a tụng câu ma chú hớp hồn thiên hạ: “Từng bước hoa sen nở. Ôi hạnh phúc tuyệt vời.”

Đúng là quỷ ngôn. Đúng là ma thuyết.

Chỉ cần tưởng tượng ra cảnh mỗi bước chân sần sùi, thô tháp của chúng ta cất bước, liền nở một hoa sen. Ai nghe mà không sướng rêm cả người. Nhưng không hề biết đầu óc chúng ta ngày càng u mê, vì bị ma ám.

Chữ ma ở đây chúng ta dùng theo nghĩa tiếng Phạn maras. Có nghĩa là bất cứ một ý tưởng, suy nghĩ, hành động, phương pháp, nào khiến cho chúng ta mê muội, trên con đường tìm sự giác ngộ. Chữ trọc là hình ảnh của một kẻ cạo trọc đầu. Hai chữ ma trọc hoàn toàn không có ý nghĩa mỉa mai, khinh miệt, như người đọc có ấn tượng sẵn trong đầu. Xin người đọc nhớ cho điều này.

Trong các cách thức tu sửa, hay phương pháp, đã nêu ở trên, cách tu sửa Dhyana là khó khăn và nguy hiểm nhất.

Để tránh đẩy người đọc vào thói quen du nhập tiếng Tàu ngọng từ thế kỷ 15, lại thêm tình trạng tràn làn hiện nay của những phù phép ma quỷ, và tránh luôn sự hiểu lầm chữ meditation trong tiếng Mỹ, hiểu và dịch một các sơ sịa về tâm lý, chúng ta sẽ dùng nguyên chữ tiếng Phạn là Dhyana cho cách thức tu sửa này.

Ngay sau khi chứng quả vị toàn giác, Thế Tôn than rằng: “Lạ thay. Lạ thay. Tất cả chúng sinh đều có sẵn đủ đức tướng Như Lai, nhưng do vô minh che mờ, nên mãi trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi, chịu đau khổ mà không hề hay biết.”

Là người mang danh phật tử, có bao giờ chúng ta nhớ đến câu này của đấng Thiện Thệ, để mơ ước có ngày chứng quả toàn giác. Hoàn toàn không. Chúng ta mãi mê muội chạy theo cái gọi là phật giáo để cầu xin những dục lạc thế gian. Sức khỏe dồi dào, làm ăn phát đạt, học giỏi đậu cao, vợ đẹp con xinh, gia đình hạnh phúc. Chỉ có vậy. Rồi chúng ta chạy theo đám trọc ma, trọc quỷ, đóng tiền mua phước thế gian. Chỉ là hành động mê muội tự gạt mình và gạt người, để thỏa mãn tham vọng trong cõi dục giới.

Nên biết, Phật Giáo vốn là một tôn giáo vô thần (atheist). Sẽ có nhiều người phật tử giả mạo hoảng hồn vì điều này. Đúng vậy. Phật giáo là một tôn giáo vô thần. Phật Giáo là những điều Như Lai chỉ dạy cho chúng ta biết cách để tự thoát khỏi vòng lẩn quẩn của sinh tử, đạt sự toàn giác. Chỉ cho chúng ta hiểu rõ luật nhân quả của vũ trụ, pháp giới. Rồi tùy theo đó mà áp dụng. Luật nhân quả không thiên vị bất cứ ai. Dù đó là trời, phật, bồ tát, ma, quỷ, hay người, vật. Gây nhân lành, hưởng quả lành. Gây nhân ác, hưởng quả ác. Gieo nhân trời, sống cõi trời. Gieo nhân bồ tát, sống cõi bồ tát. Gieo nhân người, sống cõi người. Gieo nhân phật, sống cõi phật. Nhân nào quả nấy. Chẳng có ông trời, bà phật, ông thần, bà thánh nào xía vào việc này cả. Phật giáo không phải là việc sì sụp quỳ lạy và cầu xin. Mọi việc tự chúng ta lo liệu và quyết định, dù biết hay không, nó vẫn vậy. Không ai có quyền dẫn chúng ta vào địa ngục. Cũng không ai có khả năng bắt cóc chúng ta vào thiên đường.

Chúng ta đều biết. Theo học trường y khoa là mong sau này thành bác sĩ. Theo học trường luật là mong sau này thành luật sư. Theo học trường kỹ sư là mong sau này thành kỹ sư. Trong khi đó, chúng ta theo học trường phật chỉ để cầu sức khỏe dồi dào, làm nên ăn ra, phước lộc đầy nhà!

Chúng ta nên hiểu lại cho rõ ràng. Theo học trường phật là để thành phật. Thoát khỏi sự lẩn quẩn của sinh tử luân hồi chỉ là bước đầu, trên đường tìm sự giác ngộ. Nếu theo học phật, mà chỉ muốn cầu giàu sang, mạnh khỏe, sống lâu, hạnh phúc, kể cả việc hoa sen nở dưới gót chân, hay hạnh phúc tuyệt vời. Tức chúng ta đã chọn lầm trường.

Đây mới là điều hợp lý. Nếu không thì chúng ta chỉ tự dối mình. Và tất cả những điều chúng ta theo học; [1] chỉ là lợi dụng; [2] chỉ tự gạt mình hay bị kẻ khác gạt; [3] chắc chắn không đem lại kết quả.

Như đã nói tất cả các cách thức của Như Lai truyền lại chỉ có một mục đích duy nhất là giúp chúng ta giải thoát sinh tử luân hồi, để đạt quả vị toàn giác, tức thành phật. Ngoài ra không có một mục đích phụ nào khác. Nếu có, chắc chắn đó là phép ma, trò quỷ. Nghe nói đến thành phật, chắc chắn chúng ta sẽ hoảng hồn. Điều này không có gì lạ. Bởi bao lâu nay chúng ta chỉ giả mạo làm kẻ phật tử, lợi dụng tôn giáo, để cầu xin mọi thứ trong đời, ngoại trừ điều duy nhất này.

Trở lại cách giải thoát theo phương pháp Dhyana. Đây là một trong những cách khó khăn và nguy hiểm nhất trong Phật Giáo. Bởi người theo học phải tự mình mà đi. Điều này nguy hiểm vô cùng. Cho nên một vị thầy khi chọn học trò để hướng dẫn cũng phải vô cùng cẩn thận. Không khéo sẽ đẩy học trò xuống vực thẳm, vì người học trò chưa đủ sức. Đã vậy, điều này còn chứng tỏ ông thầy chưa đủ trí tuệ, khả năng, để biết sức của người học trò. Không phải gặp ai cũng nhận.

Một đứa học trò tiểu học mà bắt theo học chương trình tiến sĩ toán, thì chắc chắn đầu óc sẽ bị điên loạn. Và ngay cả ông thầy cũng là kẻ điên nốt.

Tương tự như một bậc võ sư thượng thừa, khi nhận học trò cũng cẩn thận tuyển lựa. Các trường bác sĩ, luật sư, kỹ sư, cũng bắt học viên phải qua một kỳ thi tuyển. Đâu có cái kiểu chỉ cần đóng tiền là sẵn sàng thu nhận bừa bãi, miễn sao thu tiền đầy túi. Đâu có chuyện như các ông thầy đóng tiền nghe hát hiện nay. Bất cứ ai đóng tiền là sẽ được nghe hát, dù kẻ đó là ai. Điều này cho chúng ta biết, cá nhân những ông thầy thiền cũng chẳng có thực lực, và cũng chẳng biết gì cả. Mục đích là quảng cáo cho nhiều, thu nhận cho đông, để có tiền thật nhiều.

Tu sửa theo phương pháp Dhyana, để sang bờ giải thoát, như một kẻ vượt qua hai bờ vựa thẳm, trên một sợi dây. Dưới kia là vực sâu muôn trượng. Chỉ cần sơ sẩy một niệm là rớt xuống vực sâu tan xác. Ở đây, trong sự tiến hóa tâm linh có nghĩa là rơi vào ma chướng, là sa thẳng vào địa ngục. Không chỉ có vậy, giữa vực thẳm, những cơn gió giật không ngừng thổi dưới chân. Đây chính là ma chướng trên đường tu. Do đó một người học theo phương pháp này phải luôn trì Chú Lăng Nghiêm. Đây chính là thanh ngang luôn phải giữ vững trên hai tay để không bị mất thăng bằng, té nhào xuống vực thẳm ma quỷ dưới sâu.

Điều này đã có mấy người theo học pháp môn đóng tiền nghe hát biết rõ, hay được giảng rõ. Nên nhớ rằng trước khi có thể theo học cấp Dhyana, phải xong cấp Samatha, và Samadhi. Đó là pre-requesites. Đi ngang về tắt là coi như chết tan xác, là điều khó tránh khỏi. Đây là những gì trong kinh Viên Giác đã nói.

Chết tan xác ở đây có nghĩa là bị ma ám nặng nề, và cuối cùng là đọa địa ngục. Đối với những người chỉ thích theo phương pháp đóng tiền nghe hát, một con ma dễ nhận thấy nhất là chúng ta ngông cuồng, khoác lác, trong hành vi, cùng ngôn ngữ, một người tinh ý sẽ nhận ra ngay.

Cũng do những khó khăn này, trong kinh Lăng Nghiêm, Như Lai có dặn tới dặn lui cẩn thận. Bất kỳ một người nào tu sửa theo phương pháp Dhyana, dù có thầy tận tâm theo dõi, vẫn phải luôn trì Chú Lăng Nghiêm, để tránh những ma chướng vùng dậy. (The virtue, or power, which enables a buddha to overcome every obstacle, obtained in the Shurangama Dhyana). Ma chướng (obstacle) ở đây, chính là những ý tưởng ma quỷ sâu thẳm trong tận tạng thức bùng lên. Gọi là nội ma (inner obstacles). Với sức của chúng ta chưa đáng để ngoại ma, tức ma chướng ở cung trời Tha Hóa Tự Tại tấn công. Gọi là ngoại ma, hay thiên ma (deva maras), tức ma cảnh ở cõi trời thứ sáu trong dục giới. Nên nhớ, phải ra khỏi tam giới (three realms), dục giới (lust, desire), sắc giới (form), vô sắc giới (formlessness), mới là giải thoát (liberate) khỏi sinh tử luân hồi (birth and death cycle).

Những người phật tử mạo nhận chúng ta, theo phép đóng tiền nghe hát có bao giờ nghe nói, hay trì chú Lăng Nghiêm chưa? Mỗi người sẽ tự trả lời với chính mình. Miệng nói chữ thiền, mà không hề biết, hay không hề trì Chú Lăng Nghiêm, chắc chắn đó là nghiệp ma. Một trăm phần trăm. Ít nhất chữ ma (maras) đây theo định nghĩa của Phật Giáo, và kinh Lăng Nghiêm. Nhưng hãy nhìn xem chúng ta đã tốt nghiệp Samatha, và Samadhi chưa mà nói đến Dhyana.

Nêu điều này ra ở đây, để chúng ta cùng biết, những phù phép đóng tiền nghe hát bao lâu nay chúng ta mãi mê chạy theo, chắc chắn không phải là phương pháp Shurangama Dhyana đề cập trong kinh Lăng Nghiêm. Hoàn toàn không. Một trăm phần trăm.

Bây giờ chúng ta đã biết rồi. Mọi việc vẫn tùy chúng ta quyết định. Tiếp tục đóng tiền nghe hát, vẫn là quyền tự do tuyệt đối của mỗi chúng ta.

Nói như vậy, chứ không dễ gì chúng ta có đủ duyên phần để gặp được một bậc tu thật, sửa thật. Bởi biệt nghiệp của chúng ta, hoàn toàn khác với họ. Không thể nào tương ưng được. Dù họ có đứng ngay trước mặt, chúng ta cũng không biết họ là ai. Đây là điều chắc chắn. Bởi chúng ta chỉ tương ưng với những ồn ào, những giả mạo, những tham lam, những lợi dụng. Làm sao chúng ta tương ưng với kẻ thật lòng muốn tu sửa theo trường học phật để làm phật. Họ muốn làm phật. Chúng ta chỉ muốn làm giàu. Hai tư tưởng, suy nghĩ, hành động chắc chắn không thể nào tương ưng với nhau được cả. Đây là điều quá rõ ràng.

—>Phần 2: Thời kỳ ma trọc

Advertisements
This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s