CÂU CHUYỆN PHẬT GIÁO (Phan Duy Thức): 2-Thời kỳ ma trọc

Câu Chuyện Phật Giáo

2. Thời kỳ ma trọc.

Chúng ta nên biết. Kể từ sau khi Thế Tôn nhập niết bàn, Phật Pháp được chia làm ba thời kỳ. Chánh Pháp (Saddharma) kéo dài 500 năm. Kế đến là thời kỳ Tượng Pháp (Upakadharma) kéo dài 1000 năm. Và sau đó là thời kỳ Mạt Phát (Saddharma vipraloma) cho đến ngày Phật Pháp hoàn toàn bị tiêu diệt. Như vậy, hiện nay chúng ta đang ở trong thời kỳ Mạt Pháp. Tức thời kỳ Phật Giáo bị hư hoại, và dần dần bị tiêu diệt. Trong thời kỳ nầy, đạo đức suy đồi, pháp nghi tu hành hư hoại. Tà ma ngoại đạo lẫn vào phá hư phật pháp.

Trong kinh Đại Tập (Great Heap Sutra), Như Lai đã có lời huyền ký rằng:

Trong thời Mạt Pháp, ức triệu người tu hành, song không có một ai chứng đắc.”

Trong kinh Pháp Diệt Tận (Dharma Extinction Sutra), Như Lai cũng có huyền ký rằng:

“Về sau, khi pháp của ta sắp diệt, nơi cõi ngũ trược nầy, tà đạo nổi lên rất thạnh. Lúc ấy có những quyến thuộc của ma trá hình vào làm sa môn để phá rối đạo pháp của ta. Họ mặc y phục y như thế gian, ưa thích áo cà sa năm màu, thay vì mặc áo ba màu luốc của hàng tăng sĩ. Họ ăn thịt, uống rượu, sát sanh, tham trước mùi vị, không có từ tâm tương trợ, lại còn ganh ghét lẫn nhau; sư nầy ghét sư kia, chùa nầy ghét chùa kia. Họ chỉ biết tích tụ tài sản, làm các nghề không hợp pháp để sanh sống, đốt phá rừng núi, làm tổn hại chúng sanh không chút từ tâm. Lúc ấy, có nhiều kẻ nô tỳ hạ tiện xuất gia làm tăng ni, họ thiếu đạo đức, dâm dật, tham nhiễm, nam nữ sống chung lẫn lộn. Phật pháp suy vi chính là do bọn nầy. Nếu có giảng thuyết giới luật, họ lược trước bỏ sau, không chịu nói ra cho hết. Nếu có đọc tụng kinh văn, họ không rành câu chữ, không chịu tìm hỏi nơi bậc cao minh, tự mãn cầu danh, cho mình là phải. Tuy thế, bề ngoài họ cũng làm ra vẻ đạo đức, thường hay nói phô trương, để hy vọng được mọi người cúng dường. Các tỳ kheo ma nầy sau khi chết sẽ bị đọa vào trong tam đồ ác đạo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trải qua nhiều kiếp. Khi đền xong tội, họ sẽ thác sanh làm người ở nơi biên địa, chỗ không có ngôi tam bảo.”

Theo kinh Đại Bi (Mahakaruna), Thế Tôn bảo A Nan:

“Nầy A Nan! Khi ta nhập niết bàn rồi, trong thời gian 2.500 năm sau, những người giữ giới, y theo chánh pháp, lần lần tiêu giảm. Các bè đảng phá giới, làm điều phi pháp, ngày càng tăng thêm nhiều. Bấy giờ có nhiều tỳ kheo đắm mê danh lợi, không chịu tu thân, tâm, trí huệ; họ tham trước những y bát, thức ăn, thuốc men, sàng tọa, phòng xá, chùa chiền, rồi ganh ghét tranh giành phỉ báng lẫn nhau.”

Trong Thích Ca Giáo – người đọc muốn nghe cho quen tai thì là Phật Giáo- có ba ngôi báu gọi là Tam Bảo (Triple Jewels, Triratna). Tam Bảo gồm có: Phật Bảo (Buddhaya), Pháp Bảo (Dharmaya), và Tăng Bảo (Shangaya). Đã là báu, là bảo, thì không có điều tà vạy, xấu ác dính lẫn vào được.

Tăng Bảo là tập hợp những người hộ trì và hoằng dương chánh pháp Như Lai trên con đường giác ngộ. Những người này được gọi là tỳ kheo (bhikkhu) hay sa môn (sramana, swami). Đây là những danh từ chung chỉ những người trong Tăng Bảo, chúng ta không nên viết hoa ở đây. Cũng như hội viên của một hiệp hội là danh từ chung chỉ những người thuộc một tổ chức. Không thể viết hoa bậy bạ để chứng tỏ lòng tôn kính cá nhân. Ngày xưa lúc còn ẩn tu trong rừng, thái tử Siddartha được gọi là Sa Môn Cồ Đàm (Swami Gautama).

Hiện nay vì tình trạng hỗ lốn, tạp nhạp, trong chùa chiền tại Việt Nam, có nhiều người cho rằng họ là những ma tăng. Mới nghe qua thì có lý, và thuận tai. Nhưng điều này không đúng.

Đã là thành viên của Tăng Bảo thì không thể là ma được. Chúng ta nên nhớ điều này. Họ có cạo đầu, lợi dụng tôn giáo làm những điều gì khác ngoài việc học để làm phật, chúng ta chỉ có thể gọi họ là ma trọc, hay những kẻ giả tu. Không thể gọi là ma tăng. Xin người đọc lưu ý điều này.

Từ người sinh viên năm thứ nhất, đến sinh viên năm thứ tư, vẫn là sinh viên y khoa, sinh viên kỹ sư. Chưa bao giờ họ dám tự nhận là kỹ sư hay bác sĩ. Trong Tăng Bảo chỉ có tỳ kheo, hay sa môn, không có ma tăng, cao tăng, hay thánh tăng. Họ vẫn là những người đang theo học trường phật, và chưa tốt nghiệp. Chúng ta, những con người trần tục thế gian, căn cứ vào điều gì để gọi họ là thánh tăng. Và có giá trị gì, đối với họ. Tuy nhiên, cũng vì tình trạng tôn sùng bừa bãi này, mới khiến những kẻ ma trọc lợi dụng để gạt người.

Những điều này do người kém hiểu biết tự đặt điều để ca ngợi, hay chê bai, một kẻ cạo trọc đầu tu giả mạo. Đối với những người này chúng ta chỉ có thể gọi là ma trọc, quỷ trọc. Bởi không theo trường học phật, tức theo đường ma, lối quỷ, dù trong hình tướng nào.

Nên biết chữ tu có nghĩa là sửa. Chứ không phải cạo đầu trọc là sẽ làm thầy, làm cha thiên hạ, để người khác sì sụp quỳ lạy, và dốc túi cúng dường tiền bạc. Hoặc đăng đàn khua chuông, dộng mõ, diễn trò tụng kinh cầu an, cầu siêu. Toàn là một trò bịp. Họ cứu bản thân họ chưa xong, tư cách gì, khả năng nào, mà đòi hành nghề giải nghiệp mướn cho người khác.

Sửa cái gì? Sửa những thói ngu tật ác của chính họ, để trở thành người tốt lành, hoàn thiện hơn. Những người trọc đầu mang tiếng tu càng lâu, càng chứng tỏ sự ngu si, và điều xấu ác của họ có quá nhiều. Chứ không phải tu lâu thì leo lên chức thượng tọa, hay bò lên chức hòa thượng. Chỉ riêng về danh vị, người nào hám danh trong Thích Ca Giáo, cũng đủ để chúng ta biết đây là ma trọc. Bởi tu sửa suốt cả mấy chục năm, vẫn chưa hết tính ngu, tật ác. Đó là nói về những người thật lòng tu sửa lỗi lầm của chính mình. Họ là những người mà chúng ta gọi là chân tu, tức kẻ thật lòng muốn cải sửa điều xấu ác của chính mình.

Những người sửa thật, tu thật, luôn né tránh mọi chung đụng với mọi sinh hoạt thế gian. Cho nên mới gọi là xuất thế. Bởi họ sợ rằng, những thói hư tật xấu của chính bản thân gọt sửa chưa xong, mà đã nhiễm thói hư tật xấu của người khác, thì biết bao giờ mới sửa cho xong. Nên họ luôn ẩn tu là vậy. Tương tự như một người tự biết mình ốm yếu, không dám lang thang ra ngoài, dễ bị nhiễm bệnh nặng hơn.

Còn những người ma trọc ồn ào hiện nay thì họ làm gì có cái gọi là chân tu, tức thật lòng tự cải sửa điều xấu ác của chính họ. Họ chỉ cạo trọc đầu, mặc áo vàng để lợi dụng sự sùng kính ngu muội của chúng ta để tiến thân. Nói thẳng ra là lợi dụng hai chữ tôn giáo để kiếm sống. Tức hành nghề tôn giáo, để kiếm cơm, và ôm những danh vị ảo, rồi tự thỏa mãn trước quần chúng ngu muội, hôn ám, chúng ta.

Năm 1968, trong trận Tấn Công Tết Mậu Thân tại Huế. Trong khi hàng ngàn thường dân vô tội bị đảng cướp tàn sát, trọc Đôn Hậu được lũ cướp võng ra Hà Nội. Sau đó, Thích Đôn Hậu phải nghe theo lệnh của đảng cướp Hà Nội sang các nước Á Châu để quảng cáo cho đảng cướp nước. Thế mà mãi đến 2010, Thích Quảng Độ khờ khạo, vẫn không biết điều này. Lại còn lớn tiếng bào chữa rằng Thích Đôn Hậu bị cộng sản Hà Nội bắt cóc, trong khi bị bệnh. Và đổ lỗi này cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, không bảo vệ được dân chúng, khiến Đôn Hậu bị bắt cóc. Ngôn từ của ma trọc luôn lấp liếm, và ẩn chứa toàn lời ác độc là vậy. Dĩ nhiên, có vô số những phật tử giả mạo chúng ta bị ma quỷ hớp hồn, nên luôn tin nghe, và phụ họa. Đây chính là bằng chứng rõ ràng, của một kẻ ngu mà không biết mình ngu, nên cứ mãi lớn tiếng.

Hình 1: Đôn Hậu sang Mông Cổ quảng cáo cho đảng cướp Hà Nội, 1969.
Hình 2: Đôn Hậu với vợ là Tuần Chi, cùng tên Việt gian Nguyễn Hữu Thọ của Mặt Trận Bù Nhìn Giải Phóng Miền Nam.
Hình 3: Đôn Hậu với Lê Duẫn và Võ Nguyên Giáp tại chùa Linh Mụ, Huế, năm 1976.
Trâu tìm trâu, quỷ gặp quỷ. Ma trọc gặp quỷ dữ, nên chúng vui vười hớn hở ra mặt.

Năm 2001, nhân sự kiện Tòa Tháp Đôi của Mỹ bị sập vào ngày 11/9, ma trọc Nhất Hạnh sang Mỹ, ồn ào tuyên bố, nhắc lại tội ác của quân đội Mỹ đã bỏ bom tiêu diệt 300 ngàn người tại một ngôi làng ở Bến Tre, vào năm 1967. Có rất nhiều người tôn thờ Nhất Hạnh, và theo học phương pháp hoa sen nở dưới chân, nên cái đầu chúng ta đã bị ma ám, không còn biết hai chữ suy nghĩ là gì. Đối với người ngoại quốc chẳng biết gì về xã hội Việt Nam, có thể họ tin nghe. Nhưng một người Việt Nam, ít ra chúng ta cũng phải biết, một ngôi làng ở Việt Nam không thể nào có được 300 ngàn người. Nhất là những làng ở Miền Nam, đất rộng dân thưa.

Nên biết, vào năm 1967, dân số Miền Nam Việt Nam là 39 triệu 298 ngàn người. Vào năm 2009, dân số của toàn tỉnh Bến Tre cũng chỉ có 139 ngàn 639 người. Vào năm 1967, lấy đâu ra 300 ngàn dân ở một làng hẻo lánh tại Bến Tre để Mỹ bỏ bom tiêu diệt. Đã vậy, ma trọc này, dù là giả mạo, cũng nên chứng tỏ cái gọi là lòng từ bi cho hơn ba ngàn nạn nhân bị chết trong vụ Tòa Tháp Đôi. Đàng này, ma trọc chỉ lợi dụng dịp này để kích thích lòng thù hận của người Việt. Chúng ta cùng nêu điều này ra để nhận thầy cái ngôn ngữ bất lương, và ác độc, của những ma trọc, sống kiếp Atula.

Một người có lòng nhân ái bình thường, khi gặp người bị nạn cũng xót xa, thương cảm. Chỉ riêng điều này Nhất Hạnh đã hiện nguyên hình là một con quỷ trọc đầu.

Tuy vậy, vẫn có nhiều người Việt chúng ta đầu óc bị ma ám nặng nề, nên vẫn tin nghe, tôn thờ loài quỷ dữ. Cộng nghiệp tương ưng, là ở chỗ này. Trâu tìm trâu, vịt tìm vịt, là ở chỗ này. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, là ở chỗ này. Chẳng khác nào, tại Việt Nam hiện nay, lũ cướp nước tôn thờ tên gián điệp Hồ Quang, tức tên cướp nước Hồ Chí Minh, là ông tiên sống mãi. Người nào tôn thờ loài quỷ này cứ việc tiếp tục. Không nên đọc những lời nhận định ở đây. Bởi cứ tiếp tục đọc sẽ bị con ma ngu si, mê muội, từ bao lâu nay vẫn trốn núp sâu thẳm tận thức thứ tám, vùng lên đập đầu, bóp tim khiến nhức đầu, chóng mặt, nổi máu côn đồ, lớn tiếng chửi rửa, để tự hành hạ mình, thì ráng chịu.

Nên biết thêm, năm 1975, sau khi cộng sản Bắc Việt cướp Miền Nam, bè đảng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tính nhân cơ hội này, giựt trên tay cộng sản Hà Nội. Thế là đám cướp Miền Nam của Trần Văn Trà, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, vận động thành lập chính phủ Miền Nam Tự Trị. Thế là chúng bấu vào con chốt Nhất Hạnh, đang trốn ở Pháp để tính bề lợi dụng. Và Hạnh ta vui mừng, hăm hở chuẩn bị khăn gói trở về Việt Nam nhận chức bộ trưởng văn hóa giáo dục.

Lúc bấy giờ Hạnh và vợ là Cao Thị Phượng đang ở mướn tại ngôi nhà ba phòng, số 16 đường La Grange, Paris, Pháp. Nói là ba phòng ngủ, nhưng một phòng cho người khác share, để chia nhẹ tiền nhà. Một phòng làm phòng đọc sách và chỗ ngồi luyện phép hoa sen nở dưới chân. Lúc bấy giờ Hạnh vẫn còn bắt chước cách ngồi xếp gập hai chân theo thần đạo Nhật Bản. Lúc này Hạnh vẫn còn để tóc dài. Cách ngồi tréo chân hiện nay gọi là thế ngồi hoa sen, Hạnh mới tập ngồi trở lại sau này, sau khi cạo đầu trở lại, để gạt người phật tử Việt Nam chúng ta. Hạnh và Phượng ăn ngủ sống chung trong căn phòng còn lại. Vợ chồng Hạnh Phượng biết người nào nêu điều này ra không?

Về việc sống chung này, ca sĩ Cao Thái, anh của Cao Thị Phượng, đang sống ở Paris cũng rất phiền lòng về đứa em gái dang díu, bầy hầy với một ma trọc giả tu. Ca sĩ Cao Thái nói mãi không được, nên bực mình, mặc kệ tụi nó. Ngoài tin về hai đứa con gái, ma trọc Nhất Hạnh có một đứa con trai với Cao Thị Phượng, Hạnh đặt tên là Hải Triều Âm, được giao cho em của Phượng là Cao Thị Thanh nuôi. Thật ra, cuộc sống tình dục, cá nhân của Nguyễn Xuân Bảo, chúng ta không nên đề cập đến. Ở đây chúng ta chỉ nói đến việc ma trọc giả tu trong mục đích gạt những người phật tử nhẹ dạ chúng ta.

Nghe được tin vui, chồng sắp trở về quê hương nắm chức bộ trưởng, Cao Thị Phượng hí hửng đem khoe cho nhiều người thân cận biết: “Thầy sắp về Việt Nam làm bộ trưởng.” Lúc này Hạnh chưa dùng hai chữ thiền sư. Nhưng xui cho Hạnh, cộng sản Hà Nội đâu dễ dàng bị đám tay sai Miền Nam cướp tay trên như vậy. Liền ngay sau đó, chúng xóa sổ cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thế là con đường hoạn lộ của ma trọc Nhất Hạnh, chưa kịp xuất hành đã trở thành mây khói. Nhất Hạnh đành phải ở lại Pháp, cạo trọc đầu trở lại, sáng tác ra cái gọi là phép môn “thiền ôm” (hugging meditation) để, dụ những kẻ ngu muội chúng ta, kiếm cơm sống qua ngày.

Lúc này trọc Hạnh chưa có đủ tiền để gầy ra làng hồng, sau này đổi thành làng mai. Vậy trọc Hạnh moi tiền ở đâu ra? Khi được Pháp cho một chân dạy học để kiếm cơm, sống qua ngày, Hạnh lợi dụng đám trẻ mồ côi ở Làng Cô Nhi Gò Vấp. Hạnh gạt những giáo sư người Pháp, cùng dân chúng Pháp, bảo trợ trẻ mồ côi Gò Vấp. Những người Pháp giàu lòng nhân ái, mỗi tháng đóng tiền đều đều cho Hạnh “gởi về” Việt Nam nuôi trẻ em mồ côi. Đến mỗi đầu tháng, vợ chồng Hạnh Phượng hì hục, ngồi mở phong thư những người Pháp giàu lòng nhân ái, nhưng ký thác chi phiếu bảo trợ cô nhi Gò Vấp vào trương mục riêng. Lâu lâu, Hạnh đưa cho họ xem hình của một vài đứa trẻ để chứng minh hoạt động “từ thiện” gian lận của mình là thật. Ngoài ra, trong thời gian thập niên 1980, phong trào vượt biên bùng nổ, Hạnh cũng tận sức tranh giành việc “cứu trợ” người tỵ nạn vượt biển với bà đại sứ Hòa Lan, Bùi Tuyết Hồng, nhằm hốt tiền quỹ cứu trợ của UNHCR. Việc này cũng gây ra nhiều xôn xao về Nhất Hạnh, một ma trọc thời đại.

Năm 2008, ma trọc giả tu này còn đăng trên tờ báo Làng Mai, cho rằng xã hội chủ nghĩa hiện nay chính là cõi tây phương cực lạc mà Thích Ca Giáo đã đề cập trong kinh A Di Đà. Đúng là ngôn ngữ của một loài quỷ, giả tu. Nếu đã vậy, ma trọc này không về Việt Nam ở luôn, mà trốn sang Pháp làm gì? Chỉ tội nghiệp cho những người trẻ tuổi Việt Nam, ham chạy theo sự hào nhoáng bên ngoài, nghe theo lời Nhất Hạnh, sau này bị cộng sản đàn áp tả tơi ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng. Còn Hạnh thì bay về Pháp, sống nhở nhơ ở Paris, mỗi ngày nhìn hoa sen nở dưới chân. Những kẻ ngu muội chúng ta theo ma trọc Một Hạnh hoàn toàn không nhận ra sự bịp bợm này. Bởi vậy mới gọi là chúng ta bị ma ám nặng nề.

Vợ chồng trọc Hạnh, Phượng, dẫn những con người mê muội, chạy theo hình tướng bên ngoài, đến nhà chụp chung hình với vợ chồng Võ Nguyên Giáp.
Trâu tìm trâu, quỷ gặp quỷ, là điều bình thường. Chỉ có người đầu óc bị ma ám nặng nề mới không nhận ra điều này.

Trong kinh Hoa Sen (Lotus Sutra), Như Lai có giảng cho học trò là Xá Lợi Phất (Shariputra) biết rằng tam giới, tức ba cõi (three realms), dục giới (lust), sắc giới (form), vô sắc giới (formlessness) như căn nhà lửa (burning house). Phải mau mau tìm cách thoát ra khỏi căn nhà đang phừng phừng lửa cháy. Thì ma trọc Một Hạnh vừa cà tửng gõ chuông, vừa hát câu vè lô tô: “An trú trong hiện tại. Giây phút đẹp tuyệt vời.”

Quả là Một Hạnh đang nói ngược lại với bậc Thế Gian Giải. Chúng ta mạo nhận phật tử, lạy ma trọc hát vè lô tô, nên không nghe lời Như Lai. Quả thật chúng ta không biết mình đang làm gì. Và chúng ta hoàn toàn không biết đấng Thiện Thệ là ai. Chỉ thấy trước mắt là ma trọc Một Hạnh, hay Một Hột, lửng thửng, vừa đi vừa gõ chuông, dưới gót chân, hoa sen nhựa nở từng chùm.

Thêm một dữ kiện khác về ma trọc Một Hạnh. Trong bộ truyện sử Anh Hùng Tiêu Sơn, nói về thời Nhà Lý, của tác giả Trần Đại Sỹ. Trong tiểu bộ Anh Hùng Bắc Cương, tác giả đã lồng thực tế hiện tại vào bối cảnh lịch sử giặc Tống ở phương Bắc. Trong đó, tác giả cho chúng ta biết Nguyên Hạnh đại sư, chính là ma trọc Một Hạnh hiện nay. Nguyên Hạnh cùng bè với Vũ Nhất Trụ, tức Võ Nguyên Giáp hiện nay. Ma trọc Nguyên Hạnh này cùng vợ là Cao Thạch Phụng, tức Cao Thị Phượng, cầm đầu bọn côn đồ Hồng Hương, tức Làng Hồng, trước khi được đổi thành Làng Mai. Chữ hương ở đây có nghĩa là làng, không phải là thơm. Ví dụ: quê hương là làng quê. Điều bí mật chỉ có tác già Trần Đại Sỹ biết được là; vợ chồng Nguyên Hạnh đại sư trực thuộc Khu Mật Viện của Tống Triều. Đây chính là sở Tình Báo Hoa Nam của Bắc Kinh hiện nay. Như vậy, ngoài việc ma trọc Một Hạnh bịp quần chúng trong các phép ma, trò quỷ. Một Hạnh còn là kẻ phản quốc, cùng bộ phận với Võ Nguyên Giáp. Cả hai đều là nhân viên gián điệp của Sở Tình Báo Hoa Nam của Tàu cộng trong âm mưu thôn tính Việt Nam. Hèn gì, dù suốt đời chưa hề gặp mặt, mà khi về Việt Nam, vợ chồng Hạnh, đến tận nhà viếng thăm vợ chồng Giáp. Cứ như đã là thân quen từ trước. Mà thật vậy. Chỉ là chúng ta không biết được, cho đến khi tác giả Trần Đại Sỹ bí mật nói ra trong bộ Anh Hùng Bắc Cương.

Ví dụ. Trong tiểu bộ Anh Hùng Bắc Cương, có ghi:

“Thanh Mai tố đích danh Nguyên Hạnh họp với Tống, hơn nữa tố rõ Nguyên Hạnh có vợ tên Cao Thạch Phụng. Hỏi ai không kinh hoàng? Phủ Vạn Nặc là phật tử rất thuần thành. Do vậy y giao du với Nguyên Hạnh. Nguyên Hạnh khích y cướp ngôi cháu. Nguyên Hạnh khuyên y nên theo Tống.”

Nên hiểu ẩn ý của tác giả muốn nói với người đọc rằng:

“Thanh Mai tố đích danh Nhất Hạnh làm việc cho Tàu cộng, hơn nữa còn tố rõ rằng Nhất Hạnh có vợ là Cao Thị Phượng. Hỏi ai không kinh hoàng? Souvanna Phouma (hoàng thân Lào) là một phật tử rất thuần thành. Do vậy y giao du với Nhất Hạnh. Nhất Hạnh khích y cướp ngôi vua của cháu (Savang Vatthana). Nhất Hạnh khuyên y nên theo Tàu cộng.”

Một vài câu đơn giản của tác giả Trần Đại Sỹ mà chúng ta cũng không hiểu được ý của tác giả. Cần phải có người diễn dịch. Thế mà chúng ta đòi hiểu hết những điều bậc Thiên Nhân Sư nói, qua miệng lưỡi của đám ma trọc, thì chúng ta quả là kẻ Đệ Nhất Cuồng Nhân, hay Thiên Hạ Đệ Nhất Ngu.

Thấy khu du lịch Ma Viện Trúc Lâm, của ma trọc Thanh Từ, cấu kết với Sở Du Lịch tỉnh Lâm Đồng, từ năm 1994, còn gọi là khu du lịch Tuyền Lâm làm ăn khấm khá. Năm 2006, tên Việt gian cộng sản, phó bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên, đến gặp ma trọc Thanh Từ, đưa ra một đề nghị hợp đồng làm ăn khác. Bọn cướp nước này đề nghị, nếu trọc Thanh Từ đồng ý, họ sẽ cho xây dựng khu du lịch trên núi Bạch Mã, Huế, và cũng đặt tên là Ma Viện Trúc Lâm. Lợi tức ăn chia theo phần trăm.

Ma trọc Thanh Từu thấy tiền không ham mới là điều kỳ lạ. Lại thêm một hợp đồng làm ăn giữa ma và quỷ. Đã có Tuyền Lâm, Đà Lạt. Bây giờ lại thêm Bạch Mã, Huế. Thế là ma trọc Thanh Từu hớn hở đồng ý. Của dâng tận miệng ngu gì từ chối. Dĩ nhiên, để gạt lũ dân ngu khờ mê muội chúng ta, họ loan tìn rằng thiền sư ma đang hoằng dương Ma Pháp. Đúng theo những gì họ thường nói trên cửa miệng. “Phùng phật sát phật. Phùng quỷ kính quỷ.” Có nghĩa là; Gặp phật giết phật. Gặp quỷ thờ quỷ. Thế là ngày 28/3/2008, ma trọc Thích Thanh Từu được lũ cướp nước rước về Huế chống gậy thiền làm lễ lạc thành Ma Viện Trúc Lâm trên núi Bạch Mã. Hàng triệu phật tử giả mạo chúng ta hớn hở mừng vì lại có thêm một Ma Viện ngay khu du lịch Bạch Mã, Huế.

Hiện nay chúng ta đều biết có một ngành moi tiền mới, gọi là du lịch hành hương. Người muốn hành hương cũng đóng tiền. Người muốn du lịch cũng đóng tiền. Nhất của lưỡng tiện. Ma quỷ là ở chỗ này. Vì ngu si, mê muội, chúng ta nào có biết. Đã ngu thì ráng chịu, than trách gì ai. Đây chỉ là cái quả do nghiệp ngu si đem lại. Nhân nào quả nấy, không thể nào sai khác.

Ma trọc Thanh Từu đến dự lễ khánh thành Ma Viện Trúc Lâm, một hợp đồng giữa ma và quỷ, trên núi Bạch Mã, Huế, ngày 28/3/2008.

Hiện nay, tại các chùa miễu, bọn cướp cai trị địa phương ra lệnh phải dùng hai ổ khóa để khóa thùng tiền cúng dường. Mỗi bên giữ một chìa khóa. Khi mở thùng tiền phải có mặt cả hai bên đạo và đời, còn gọi là ma và quỷ, cùng mở để kiểm tiền bán phước, rồi ăn chia theo phần trăm. Ma trọc trấn chùa, bèn nghĩ ra cách moi tiền. Họ dùng chiếc que dài, bôi keo, thọc vào thùng cho tiền dính vào chiếc que, kéo lên, và moi tiền ra giữ riêng. Họ thực hiện điều này vào ban đêm, phật tử giả mạo chúng ta bị lừa và gạt nào biết được, nên vẫn tiếp tục đóng tiền cho ma quỷ, để mua phước.

Sau này có người báo riêng, hoặc thấy tiền bán phước quá ít, bọn cướp địa phương bèn gắn camera chỉa ngay vào thùng tiền. Thế là ma trọc giữ chùa đành chịu phép. Ma gặp quỷ, là ở chỗ này. Ma cao một trượng, quỷ cao ba thước, là ở chỗ này. Nhưng dù sao, cũng do người dân Việt Nam chúng ta quá nặng nghiệp ngu si, và mê muội, mới ra cớ sự. Một vũng nước bẩn, sinh ra bầy muỗi mòng là điều tự nhiên, và bình thường, ai cũng hiểu cả.

Chúng ta hãy tưởng tượng ra khung cảnh thiêng liêng nơi chốn chùa chiền. Tối đến, nơi chánh điện tôn nghiêm. Đèn bật sáng rực. Bàn thờ trên cao có tượng Thích Ca thếp vàng, sau lưng có ánh đèn hào quang giả chớp nháy đủ màu. Hai đứa, một ma một quỷ, một đạo một đời. Cùng lúc đưa tay mở hai ổ khóa. Mở toang thùng tiền bán phước. Một trọc ma, một cướp quỷ, cùng nhau đếm tiền bán phước trong tháng. Xong hai bên chia nhau theo phần trăm định sẵn. Vui vẻ bắt tay nhau. Cùng khóa lại thùng bán phước. Dĩ nhiên cũng phải hai ổ khóa. Chờ tháng sau ma và quỷ lại gặp nhau một lần nữa để thu hoạch. Quả thật là khôi hài. Số tiền đó chính là công sức do những phật tử giả mạo chúng ta đem dâng, qua dịch vụ bán, và mua, phước.

Trên cao, tượng Thích Ca, đắp bằng thạch cao, nhìn ma và quỷ tranh nhau chia tiền cướp gạt thiên hạ, mà không nói một lời. Bởi vậy mới gọi là Sakya Muni, tức Thích Ca Im Lặng. Chúng ta, những người phật tử giả mạo, nặng nghiệp ngu si, mê muội, tự thỏa mãn với kiểu làm ăn này của ma quỷ nơi chốn chùa chiền, được ngụy hóa trong câu ngụy ngữ “hộ trì ma phép”.

Phần lớn người Việt chúng ta vì dân trí quá thấp kém, cho nên từ chính trị, xã hội, đến tôn giáo, luôn bị kẻ đầu trâu mặt ngựa lừa bịp. Đây là cái giá chúng ta phải trả cho sự ngu si, mê muội của mình. Không trách ai được.

—>Phần 3: Trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa.

Advertisements
This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s