CÂU CHUYỆN PHẬT GIÁO (Phan Duy Thức): 5-Những người thật lòng tu sửa

Câu Chuyện Phật Giáo

5. Những người thật lòng tu sửa.

Chúng ta đã xét qua những ma cạo trọc đầu giả tu, như lời Thế Tôn đã huyền ký vào thời Mạt Pháp. Bây giờ chúng ta cùng xét qua hành trạng của những người thật lòng tu sửa, trên đường cầu giái thoát và giác ngộ.

Nói như những phần trước, không có nghĩa là hiện nay ở Việt Nam không có những người thật lòng tu, thật lòng sửa. Chỉ là họ không ồn ào, không khua chiêng dộng trống. Bởi họ biết không những vô ích, mà con gây nên nghiệp ma, nhân ác. Ngoài ra, biệt nghiệp giả tu, và tham lam của chúng ta, hoàn toàn không tương ứng với biệt nghiệp mật tu, mật hạnh trong mật nguyện hòa quang đồng trần, để tự độ và độ tha, của họ. Cho nên, dù họ có đứng ngay trước mắt, chúng ta cũng không thể nào nhận biết.

Một ông già râu tóc lưa thưa, làn da sạm nắng, mặc bộ đồ lính cũ, đầu đội chiếc nón lá rách, chân mang giày trận sần sùi. Giữa núi rừng hoang vắng, ông âm thầm, lặng lẽ gieo từng hạt bắp trên luống đất khô, theo từng câu Phật hiệu. Những người thượng đi rừng, thỉnh thoảng bắt gặp, cũng không biết ông là ai, làm gì ở chốn này. Chúng ta không bao giờ tìm thấy hình ảnh đó nơi những cảnh chùa to, tượng lớn, ánh đèn điện, giả hào quang, chớp lóe đêm ngày trong chánh điện.

Tỳ kheo Thích Thiền Tâm, một bậc ẩn tu giữa rừng núi hoang vu.

Năm 1967, tỳ kheo Thích Thiền Tâm (1925 – 1992), đang giữ chức viện trưởng Phật Học Viện Huê Nghiêm, và Ni Trường Dược Sư. Là một tu sĩ chân chính, ông chỉ mong cải sửa ác nghiệp, tìm đường giải thoát. Khi nhận thấy ma sự đang ồ ạt xen vào trong giới gọi là tu sĩ Phật Giáo, qua những cuộc xuống đường, biểu tình, đả đảo, chống chính phủ nền Đệ Nhị Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam. Những kẻ cạo trọc đầu, lợi dụng tôn giáo, mưu đồ chính trị và quyền lực thế gian, ngày càng lộng hành.

Nhận biết ma nghiệp xen lẫn vào chùa chiền ngày càng lớn mạnh, tỳ kheo Thích Thiền Tâm quyết tâm từ bỏ tất cả. Kể cả cái gọi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Trả lại chức viện trưởng Phật Học Viện Huê Nghiêm cho mọi người. Một thân một mình lặng lẽ tìm chốn ẩn tu trong vùng rừng núi Đại Ninh, Lâm Đồng, với thú rừng, khỉ rắn. Ông thề rằng cho đến chết, quyết không bước chân ra khỏi chốn rừng núi, chỉ một lòng tìm đường giải thoát. Tất cả mọi chuyện thế gian, những ồn ào, tranh đấu, và hừng hực, trong chủ trương cứu nguy đạo pháp, của nhiều người trong cái gọi là giáo hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đối với tu sĩ Thích Thiền Tâm chỉ là ma sự. Không lợi ích gì trên đường tìm cầu giải thoát. Thế là từ đó, sơn tăng độc ảnh nơi rừng núi, triền phược thế gian trả thị thành. Suốt bao nhiêu năm, tu sĩ Thiền Tâm vẫn một hình một bóng, không rời khỏi chốn núi rừng. Quyết lòng ẩn tu tìm cầu giải thoát. Khi biết thân phụ qua đời, nơi chốn ẩn tu, ông chỉ âm thầm cầu nguyện, nhưng không trở về dự tang cha. Bởi tu sĩ Thích Thiền Tâm cho rằng kể từ ngày cạo đầu phát nguyện làm con Phật, thì Nguyễn Nhựt Thăng đã chết từ lâu. Một người thật lòng sống cuộc đời xuất gia là vậy.

“Mấy mươi năm nay. Ngày luống qua ngày. Nhiều khi nghĩ lại thấy thẹn thùng khi tự xét mình. Miệng tuy niệm Phật mà lòng không nhiễm đạo. Chỉ có việc tự cứu mình còn chưa xong, dám đâu nói đến hai chữ cứu người. Chưa tự cứu được mình mà bảo rằng hoằng dương đại pháp, quảng độ chúng sanh thì thành ra mang cái tội trộm danh, khinh đời. Tự xét mình nghiệp chướng còn nhiều, căn tánh kém, không dám lạm bàn đến đạo lý cao siêu, sợ e hạnh chẳng xứng lời, trở thành vọng ngữ. Tự ví mình như kẻ bại chân, ngồi nơi ngã ba đường. Tuy không tự đi được, song cũng cố gắng chỉ nhắc hành khách tránh nẻo hiểm nguy. Chỉ mong lấy tánh cách người cùng chìm trong biển khổ cố gắng kêu nhắc đồng bạn cùng vượt qua biển khổ, để mong nhờ chút ảnh hưởng đó tiêu bớt phần nào nghiệp chướng của chính mình. Bởi vậy mới tự gọi là vô nhất tăng. Đúng là cảnh, nhất sự vô thành, thân tiệm lão. Một kẻ suốt cả đời mang tiếng tu hành mà không làm nên một việc gì ra hồn cả.”

Chúng ta nên nhớ, trên đây là lời tự thán của một người từng là viện trưởng Phật Học Viện Huệ Nghiêm, của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Đây là một vài nét sơ lược về hành trạng của một người trong hình thức tu sĩ Phật Giáo, thật tâm tu sửa trên đường tìm cầu giải thoát. Điều này cũng cho chúng ta biết biệt nghiệp của kẻ tu thật, không bao giờ tương ưng với cộng nghiệp của những người cao trọc đầu giả tu, nhằm mưu đồ quyền lực chính trị, cùng quyền lợi thế gian. Hai cái nghiệp này không thể nào tương ưng với nhau được. Dù một giọt dầu, vẫn không thể hòa lẫn với cả lu nước. Đã vậy, lại là lu nước bẩn.

Nêu điều này ra để chúng ta biết rõ rằng, theo nguyên lý công nghiệp tương ưng, với cái biệt nghiệp của chúng ta hiện nay, chắc chắn không bao giờ chúng ta gần gủi, hay tương ưng, được những người tu thật như tu sĩ Thích Thiền Tâm ở trên. Cả một tổ chức gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn không tương ưng được với cái biệt nghiệp của tỳ kheo Thích Thiền Tâm, thì làm sao chúng ta gặp được một kẻ chân tu. Chúng ta nên suy nghĩ điều này.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, hay một hành giả mật tu trên đường bồ tát đạo.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, sinh năm 1927, tại Huế. Năm 1953, vừa 26 tuổi, ông nhập ngũ vào quân đội, tốt nghiệp khóa 3, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với cấp bậc Thiếu Úy. Ra trường ông được giao chức vụ trung đội trưởng, thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 7 Nhảy Dù. Theo thời gian ông được thăng lên các cấp Đại Úy, Thiếu Tá , rồi Tư Lệnh Sư Đoàn, và cuối cùng là Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Việt Nam Cộng Hòa.

Trong thời còn trẻ tuổi, với cấp bậc sĩ quan, lại thuộc dòng dõi danh gia thế phiệt chốn cố đô, ông sĩ quan Nhảy Dù Nguyễn Khoa Nam được nhiều người mai mối để lập gia đình với các khuê môn kiều nữ kinh thành Huế. Nhưng ông luôn từ chối và bảo rằng: “Mình sống cuộc đời lính trận. Sống nay chết mai. Lập gia đình chỉ làm khổ cho vợ con sau này.” Sống cuộc đời quân nhân độc thân, không tiêu xài, tiền lương ông thường cho các sĩ quan dưới quyền lo cho gia đình. Mỗi ngày trước khi làm việc, và cuối ngày trước khi đi ngủ, ông luôn đến trước bàn Phật, thắp nhang khấn nguyện, và gõ ba tiếng chuông. Trong suốt thời gian chỉ huy các cấp trong quân đội, ông âm thầm sống kiếp trường chay. Lòng chỉ mong: “Mình cầm quân, cố gắng ăn chay trường, mong sao quân lính dưới quyền đỡ tổn hại sinh mạng.”

Đây là điều không hề dễ dàng đối với một ông tướng hai sao, Tư Lệnh Quân Khu IV của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 30/4/1975, theo lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, tướng Nguyễn Khoa Nam ra lệnh cho sĩ quan các cấp, cùng binh sĩ dưới quyền thuộc Quân Khu IV, nên buông súng, trở về cùng gia đình, không nên gây chiến, tránh cảnh chết chóc không cần thiết. Là một vị tướng Tư Lệnh Quân Khu IV, lúc bấy giờ vẫn không hề bị áp lực của cộng quân, ông vẫn không ra đi như bao nhiêu người khác. Trái lại, ông vẫn ở lại để để giữ an ninh trật tự trong vùng trách nhiệm cho dân chúng. Khoảng 2:30 chiều, Thiếu Tướng Tư Lệnh tiếp hai người thuộc phía bên kia. Ông mời họ vào văn phòng, tự tay rót trà mời khách, nhẹ nhàng tiếp chuyện. Sau 10 phút thảo luận việc bàn giao chuyển quyền, ông bắt tay, tiễn họ ra về. Khoảng 6:30 chiều, ông bảo sĩ quan tùy viên đưa đến Quân Y Viện Phan Thanh Giản. Tư Lệnh đến từng giường bệnh thăm hỏi từng người thương binh, khuyên họ cố gắng sống trong thời gian tới. Ông ân cần thăm hỏi bệnh tình, và cầm tay, nói với từng người thương binh nằm trên giường bệnh rằng: “Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.”

Sau một lúc thăm hỏi, cố dấu những giọt nước mắt thương cảm cho những người thương binh, ông mím môi lặng ra về. Dừng chân nơi cột cờ trước sân bệnh viện, ông tướng Tư Lệnh quay lại đứng lặng im, bất động cả phút đồng hồ nhìn lại bệnh viện, không nói một lời, rồi vội vàng quay bước lên xe.

Vào 6:30 sáng hôm sau, 1/5/1975, sau khi dặn dò và bảo sĩ quan tùy viên hãy trút bỏ quân phục trở về với gia đình, vị Thiếu Tướng Tư Lệnh đến trước bàn Phật, thắp ba nén nhang đứng yên lặng khấn nguyện một lúc. Cuối cùng, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam gõ nhẹ ba tiếng chuông, chấp hai tay cúi đầu xá ba lần trước tượng Phật. Lễ Phật xong, ông tướng chậm rãi đến ngồi nơi ghế trước bàn Phật, cầm khẩu súng colt kê lên thái dương, bóp cò.

Trong túi áo trên ngực của ông tướng hai sao chỉ có cuốn Chú Lăng Nghiêm (Shurangama Dhyana).

Qua câu chuyện trên, chúng ta nhận ra rằng, suốt cuộc đời của ông lính sĩ quan Nhảy Dù, cho đến khi giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV, dù trong hình tướng của một quân nhân, tướng Nguyễn Khoa Nam, luôn âm thầm mật tu trong mật hạnh sửa mình và giúp người. Cả cuộc đời, chưa bao giờ ông nghĩ đến bản thân. Với cuốn Chú Lăng Nghiêm trong túi áo vào lúc cuối đời. Điều này cho chúng ta biết ông đã mật tu theo phương pháp Dhyana mà Thế Tôn đã chỉ dạy trong kinh Lăng Nghiêm.

Ngay cả khi từ bỏ xác thân giả huyễn, hành trang cuối cùng ông tướng nguyện mang theo chỉ là cuốn Shurangama Dhyana trong túi áo trên ngực.

Hành trạng của một kẻ thật tu, là vậy. Họ không ồn ào, không muốn bất cứ ai hay biết. Đây chính là mật hạnh hòa quang đồng trần của một người thật lòng tu sửa trên đường bồ tát đạo (bodhisattva carya). Họ âm thầm đến, âm thầm đi, không một ai hay biết. Càng nhiều người biết, càng gây chướng ngại trên con đường tu sửa. Một tu sĩ Phật Giáo trong hình ảnh một ông tướng hai sao trong quân đội, không một ai hay biết. Đó là hình thức mật tu giữa dòng đời. Trình độ tiến hóa tâm linh của ông tướng hai sao Nguyễn Khoa Nam đạt bậc nào trong 52 phẩm vị nơi cõi bồ tát trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta không thể nào biết được.

Vì mãi chạy theo hình tướng bên ngoài, chúng ta say mê sì sụp quỳ lạy con ma cạo trọc đầu, mặc áo tu sĩ, ngồi trên đài cao, khoa chân múa tay, hớp hồn người nhẹ dạ. Và cũng vì mãi chấp theo hình tướng bên ngoài, chúng ta không thể nào nhận ra ông già, đầu đội nón lá, mặc áo lính chân mang giày trận, âm thầm cuốc đất giữa rừng là một bậc chân tu. Hy vọng đây là một kinh nghiệm để chúng ta cùng nhìn lại.

Điều này, một lần nữa, cho chúng ta biết rõ rằng, với biệt nghiệp gian dối của chúng ta, một người thật tu đứng ngay trước mặt, chúng ta cũng không thể nào nhận ra. Hai cái biệt nghiệp đã bất tương ưng, thì không thể nào tương hợp. Dầu không thể nào hòa chung với nước. Điều này càng xác nhận rằng, những kẻ ồn ào chúng ta gặp hiện nay chỉ là một đám ma trọc. Những lời huyền ký của Như Lai vào thời Mạt Pháp đã xác nhận điều này. Cộng nghiệp tương ưng sẽ xác nhận đều này. Tin hay không, nó vẫn vậy.

—>Phần 6-7: Tình cờ lịch sử & Lời cuối

Advertisements
This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s