DANH NÁ (Duyên Anh ): 6-10

-7-

Khi Danh ná và Chơn Chơn đạo nhơn thức giấc, sinh hoạt ở ngọn Tầm Vu đã náo nhiệt rồi. Ghe chở lúa gạo từ kinh Bốn Tổng xuống, xuồng chở rau trái từ kinh Ông Cò vào, nhộn nhịp bến nước. Chợ Ba Bần mỗi lúc một đông. Đồng quê miền Nam nhiều sinh khí là nhờ nhiều kinh rạch. Mỗi con sông có hàng trăm cánh tay. Mỗi cánh tay lại có hàng trăm cánh tay khác. Tay của sông là kinh, là rạch. Tay của kinh rạch là rạch nhỏ, là mương. Nói cho rõ ràng, mỗi dòng nước chẩy trên quê hương miền Nam đều là một ông Phật trăm tay. Tay sông ôm lấy đất. Đất nuôi dưỡng người. Tay sông như tay đời, thiết tha, độ lượng. Vì tay sông độ lượng nên dân miền Nam thường cư ngụ dọc theo những con kinh, những con rạch, nhất định không định cư thành làng có lũy tre bao bọc chung quanh. Dân quê miền đồng bằng sông Cửu Long, già trẻ, lớn bé đều biết chèo xuồng, chèo ghe. Phương tiện đi lại trên kinh rạch là xuồng chèo hay xuồng máy đuôi tôm. Tưởng tượng một đám cưới hàng trăm chiếc xuồng đuôi tôm đi trên kinh rạch. Đẹp quá, dân tộc quá. Tưởng tượng chiếc xuồng nhỏ chở đôi người nhẹ trôi trên dòng mương hẹp dưới ánh trăng xuyên qua lá cành. Thơ mộng quá. Dễ thương quá. Sông nước miền Nam đấy. Thiếu những cánh tay như thiếu hơi thở của đời sống.

Hơi thở ấy đang dồn lên chợ Ba Bần. Danh ná ngồi nhìn cảnh tượng ở ngọn Tầm Vu, nghe tiếng nói, tiếng cười, tiếng máy khuấy nước, tiếng sóng vỗ vào bờ một cách thích thú. Phải chi Danh ná là nhạc sĩ, nó sẽ sáng tác một bản nhạc hay hơn “Giòng Sông Xanh [3].

– Anh Danh !

– Gì ?

– Tối qua anh biểu mình cần đi sâu vô trỏng xem có gì lạ.

– Ừa, mà tao đổi ý. Đây gần nhà mình, tao sợ mày trốn về rờ vú mẹ.

– Em đi không về cũng được nhưng đã nói là làm, đàng này anh thay đổi xoành xoạch.

– Mày ngu quá. Phiêu lưu là … tự do, thích chi làm nấy !

Hai nhà phiêu lưu đang càu nhàu nhau, quên khuấy mất rằng, từ con rạch nhỏ xuyên ra lối kinh Bốn Tổng, ba chiếc xuồng gỗ réo riết chào và đã xuất hiện trên kinh để gặp bè chuối. Không đông, chỉ có Năm ròm, Quới cù lần, Bẩy vẩu, Sáu xạo và Tám lưới.

– Danh ná !

Danh ná quay lại. Tám lưới vẫy tay :

– Đi thôi. Lẹ lên không chị tao đuổi theo thộp cổ tao về đó.

Danh ná giục Chơn Chơn đạo nhơn gỡ dây neo. Thoáng cái, chiếc bè đã được chống đẩy xa khỏi bờ. Tám lưới hỏi :

– Vô kinh Bốn Tổng hả ?

Danh ná đáp lớn :

–Kinh Ông Cò mới có đường ra sông.

Chiếc bè ra giữa dòng. Nước buổi sáng chẩy xuôi về phía vào kinh Ông Cò. Bọn nhóc Ba Bần, Vĩnh Trạch đã lố nhố trên bờ, vẫy tay lia lịa. Danh ná vọng vào, dặn dò :

– Nhớ nhé, vui vẻ, làm việc và yêu thương.

Nó giục Cà Đao :

– Gáy chào tạm biệt !

Dũng sĩ Cà Đao vỗ cánh gáy ba hồi. Bọn nhóc trên bờ bùi ngùi tiếc nhớ. Ba chiếc xuồng chèo thật nhanh như thể ba chiếc tầu khu trục mở đường cho chiến hạm bè chuối. Bè không cần chèo cũng trôi nhưng Danh ná và Chơn Chơn đạo nhơn vẫn cứ chèo. Chẳng mấy chốc, bè chuối đã khuất hẳn chợ Ba Bần, nơi Danh ná nhớ suốt đời nó. Kỷ niệm không bao giờ có, nếu ta nằm ì xó nhà. Muốn có kỷ niệm làm rạo rực tâm hồn ta, làm xao xuyến trái tim ta, ta phải phiêu lưu. Nhưng một nhà phiêu lưu có tâm hồn cao quý như Danh ná khác hẳn những tên phiêu lưu tìm đất thuộc địa. Nhà phiêu lưu Danh ná đi tìm cái ‘Đẹp’ trong trời đất bao la, bọn phiêu lưu đi tìm đất thuộc địa chỉ thích kiếm lợi lộc, gây bao cảnh chém giết thê thảm cho loài người. Đó là bọn đi tìm cái ‘Xấu’. Bọn phiêu lưu đi tìm cái xấu thì sức mấy có kỷ niệm làm xao xuyến tâm hồn. Bọn đó không hề có kỷ niệm. Vì bọn nó không có tâm hồn. Những ai có tâm hồn mới có kỷ niệm. Và, những ai có tâm hồn thì sống bất cứ nơi nào người ta cũng quý mến, gặp bất cứ nghịch cảnh nào cũng được cứu rỗi. Còn những đứa không có tâm hồn, sống ở Mỹ, ở Pháp, ở Gia-nã-đại, ở Anh, ở Đức hay ở ngay trên quê hương mình, vẫn bị khinh bỉ, nguyền rủa và khai trừ.

– Anh Danh !

– Gì ?

– Em phục anh.

– Thôi mày, chèo đi.

Ba chiếc xuồng đã chậm tay chèo, có ý chờ bè tới gần. Ba Bần ơi, thật xa rồi.

– Anh Danh !

– Hỏi hoài !

– Khi về mình có về lối này không ?

– Không. Về lối sông Long Xuyên bọc Trà Ôn, băng qua cầu Đúc vô làng mình.

Bè đã gặp xuồng. Xuồng ép sát mạn bè. Danh ná hỏi Tám lưới :

– Mày rành miệt này chứ ?

– Rành.

– Vậy trưa nay chúng mình ghé ở đầu kinh Ông Cò.

– Tụi tao tới trước, nghe. Tao sẽ lưới cá, trưa nay ăn cơm.

Chơn Chơn đạo nhơn cười tít. Nó thèm cơm muốn ứa nước miếng. Cả ngày hôm qua, hai đứa chỉ ăn bánh tét, bánh ú, chuối chiên và cháo vịt. Đạo nhơn, chắc chắn, khó sống nổi ở Mỹ, ở Pháp… Ăn bánh mì suốt đời nó sẽ điên mất. Ăn cơm với thịt kho nước dừa, dưa giá là tuyệt cú mèo. Con nhà Chương Còm, mùa hè năm ngoái, ăn cơm ở nhà ông Tư Beo, nó khen bà Tư Beo kho thịt ngon nhất nước. Má nó cũng thường kho thịt nước dừa mà nước không quánh. Chơn Chơn đạo nhơn mê canh chua cá bông lau vô cùng. Ối dào, cái bụng cá bông lau béo thế, không mê sao nổi ! Mới thiếu cơm một ngày mà Đạo nhơn đã ngỡ xa quê đi sứ đất Mỹ mười năm lận.

– Chơn ơi !

– Dạ !

– Mày chèo một mình cho anh ngủ nhé !

– Dễ mà.

Danh ná buông chèo xuống mặt bè, nằm gối đầu lên cục gạch ngủ. Nó vừa nhắm mắt là đã ngủ ngon. Chơn Chơn đạo nhơn chỉ cần lái bè giữ đúng đường đi. Nước chẩy dư sức làm bè trôi. Khoảng mười một giờ, chiếc bè tới đầu kinh Ông Cò. Bọn Tám lưới đã neo xuồng, biến đâu mất. Chơn Chơn đạo nhơn nghi bọn này đi lưới cá. Nó cho bè áp vào bờ, neo chắc. Danh ná vẫn ngủ. Chơn Chơn đạo nhơn cởi quần áo, nhẩy ùm xuống nước. Nó ngụp lặn, bơi lội thả giàn. Nước mát ơi là mát. Bơi lội chán, Chơn Chơn đạo nhơn leo lên cây bằng lăng, bắt chước Tâm sún “bông-nhông”. Rồi nó hát inh ỏi. Một lát, bọn Tám lưới từ phía trong xóm ra, mỗi đứa bưng một món đồ. Chơn Chơn đạo nhơn đánh thức Danh ná. Tám lưới bi bô :

– Ngỡ dừng bước nơi đâu, chứ đây là Vĩnh Phú, nhà cô tao trỏng kia kìa. Tao vô bắt mấy chú cá lóc nướng trụi, xin bánh tráng, làm nước mắm, rau sống, bún, tụi mình mặc sức ăn.

Chơn Chơn đạo nhơn thất vọng :

– Không có cơm à ?

Năm ròm nói :

– Tối ăn cơm.

Bẩy nhà phiêu lưu dùng bữa. Các món ăn bầy trên bờ cỏ. Bữa ăn của những tay giang hồ lúc nào cũng ngon. Đạo nhơn ngốn thật kỹ. Tám lưới sành sõi thật. Đi phiêu lưu có nó, còn sợ gì đói nữa. Dũng sĩ Cà Đao nuốt bún một cách vất vả. Quới cù lần bắt tội nghiệp Cà Đao, nó nhúng bún vô nước cho Cà Đao dễ nuốt. Ăn xong, Tám lưới gạ :

– Chiều nay vô Vĩnh Phú nghe, tụi bay. Trỏng có đá banh. Đội banh của anh tao đá với đội Phú Hòa. Thiên hạ cá lớn lắm.

Danh ná thấy ngứa cẳng rồi. Nó bẻ bão tay :

– Vô thì vô.

Tám lưới nói :

– Anh tao biểu cứ neo xuồng ngoài này, đứa nào xớ rớ anh tao đập chết.

Sáu xạo cười :

– Ngủ cái đá. Tao bao rửa chén đũa. Ngủ dậy tao thanh toán cái rụp.

Bẩy nhà phiêu lưu bèn ngủ. Dũng sĩ Cà Đao có dịp dạo quanh đây đó, thưởng thức chú cào cào, mợ châu chấu, cậu dế… phiêu lưu hoặc vài nhánh cỏ non. Chàng chạy đuổi săn mồi cho đỡ cuồng cẳng. Rồi vỗ cánh gáy ỏm tỏi khiến Tám lưới cứ mở mắt hoài. Con nhà Tám lưới ngắm nghía Cà Đao. Nó thầm nghĩ, mửng này mà cáp độ là có đường. Chiều nay Tám lưới sẽ cáp độ đá banh. Nó cá hội Vĩnh Phú chấp hội Phú Hòa một trái vì nó tin tài “làm bàn” của anh họ nó. Nghe nói, dân đánh cá chợ Phú Hòa vô Vĩnh Phú khá đông. Sẽ khối kẻ trầy trụi. Nếu Tám lưới “ăn” số tiền còm của nó tăng gấp đôi và cuộc phiêu lưu với Danh ná sẽ… “long trọng” hơn. Vẩn vơ suy nghĩ, Tám lưới không ngủ được. Khi nó vừa chợp mắt chút xíu, nó đã mớ, hét inh “Sút [4], dứt, dzô” … Cả bọn bị đánh thức. Quới cù lần cự nự :

– Dứt, dứt… lông gà hả, Tám !

Tám lưới mắc cở. Nó đánh trống lảng :

– Anh tao có vẻ hồi hộp đây. Ổng biểu Phú Hòa nó mướn hai thằng ở thị xã.

Năm ròm nói :

– Mình vô thôi. Có thằng Tám nấu nồi chè tổ chảng.

Bọn nhóc theo bờ ruộng vào Vĩnh Phú. Cũng có con rạch, cánh tay của kinh Ông Cò, chẩy vô lòng, nhưng cho bè vô vừa chậm vừa tốn sức nên bọn nhóc thả bộ. Những nhà phiêu lưu này không hải bàn, ống nhòm, địa đồ và đồng hồ nên mới tính toán đều trật lất, nhất là giờ giấc. Chúng vào tới đầu làng đã thấy sân banh đông đầy khán giả. Tám lưới hốt hoảng :

– Chết mồ, đã ba giờ rồi cà !

Nồi chè được tạm quên. Bọn nhóc phóng ra sân banh. Sân banh ! Đó là miếng đất vừa dài vừa rộng, cấy lúa mùa mưa và bỏ hoang mùa nắng. Mùa mưa ai thèm đá banh. Có muốn đá cũng chẳng làm gì có sân. Sân ngập nước, toàn ễnh ương, cóc nhái, tôm tép, vá lòng tong, cua rắn… Dân thể thao bóng tròn – môn thể thao duy nhất – nhà quê hoạt động mùa nắng. Nếu cấy lúa mùa mưa thì gặt hái, đốt đồng, bắt chuột, xong xuôi, người ta xúm nhau sửa chữa mặt “sân” cho nó tàm tạm phẳng phiu. Rồi người ta trồng cột gôn [5]. Dĩ nhiên là không hề có lưới, dù đấu giao hữu hay là đấu ăn giải. Cột gôn mùa mưa trông thảm lắm cơ. Y hệt những cành cây khẳng khiu trụi hết lá trong những bức tranh mùa đông xứ tuyết lạnh ấy. Nếu mùa mưa, “sân” bỏ hoang, không nghe lời ca dao khuyến nông “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”, thì đến mùa nắng, người ta cũng sửa chữa, giẫy cỏ, thay cột gôn mới. Và quả da bơm căng vờn vẽ trên sân, tung bay trên không, tíu tít, ồn ào, sinh động một làng quê suốt mùa nắng. Người lớn đá banh. Trẻ con đá banh. Con trai đá banh. Con gái đá banh. Sân banh chỉ rảnh rỗi ban đêm không trăng sao. Đá banh không cần trọng tài, không có đấu pháp vì không có ai làm huấn luyện viên cả. Đá lung tung beng. Ham làm bàn, hàng hậu vệ ồn ào xông lên thế chân hàng tiền đạo sút banh vung vít. Hàng tiền vệ, có khi, rút về giải cứu những pha [6] bóng nguy hiểm. Cái đấu pháp bóng đá nhà quê Việt Nam này mới chính là cha đẻ của nền túc cầu tổng lực hôm nay mà hội tuyển Hòa Lan vừa thi triển tài nghệ ở Tây Đức năm 1974 làm bàng hoàng nền túc cầu chi bảo Nam Mỹ. Huấn luyện viên Stefan Kovac đừng tưởng ông đã khai sinh ra đấu pháp tổng lực.

Trận đấu giữa Phú Hòa và Vĩnh Phú, chiều nay, sắp khai diễn trên sân bóng vừa được diễn tả ở trên. Sân này, chắc chắn, chỉ hoạt động chừng tháng nữa. Hiện nay, nó rất lý tưởng nhờ mấy trận mưa rào đầu mùa mưa. Đất mềm, các cầu thủ có ngã, đỡ sứt máu tay, chẩy máu chân, trầy đầu gối, toét cùi chỏ và đỡ tốn dầu cù là, mật gấu, rượu thuốc cắc kè thoa bóp mình mẩy lúc mãn cuộc giao tranh. Các cầu thủ vườn thường chơi chân không nên, nếu sân banh nhiều mô đất, có lỡ sút cả bóng lẫn mô đất thì mô đất bay theo bóng bay sang vùng cấm địa đối phương luôn một lượt. Bóng và đất đau chứ chân êm ru bà rù !

Khán giả đã bu kín quanh sân. Trời nắng gay gắt. Mũ nón, ô dù rất khan hiếm ở những sân banh này. Dân cổ võ và đánh cá từ Phú Hòa tới bằng xuồng đuôi tôm. Họ neo xuồng ngoài rạch. Dân cổ võ hội nhà đông lắm. Quý vị khán giả con nít chiếm tỷ lệ cao. Đàn bà không thích coi đá banh. Thiếu nữ đếm được hơn chục cô, chắc là người yêu của các cầu thủ hội nhà. Trên danh nghĩa, trận bóng này là trận giao hữu nhưng dưới… danh nghĩa, nó lại là đá cá. Mà dân đánh cá Phú Hòa chỉ cá hội Phú Hòa thắng, còn Vĩnh Phú thì cá hội mình thắng, huề kể như thua. Lúc đó, giao hữu biến thành ăn giải. Giải được chia cho cầu thủ nên cầu thủ quyết bảo vệ mầu cờ sắc áo một cách chính nghĩa rạng ngời !

Những nhà phiêu lưu ham bóng đá đã có mặt trong đám khán giả. Tám lưới thoắt biến mất. Nó đi đánh cá. Khán đài trung ương được dựng vội vã bằng tre lợp lá dừa, kê mấy cái “băng [7]”. Nơi đây các chức sắc làng Vĩnh Phú và Phú Hòa và các tay chuyên … cá vừa ngồi chủ tọa vừa thu tiền đánh cá, ghi tên người đánh cá. Hai đội bóng đang dợt bóng mỗi bên sân. Hội chủ nhà Vĩnh Phú mặc áo may-ô [8] ba lỗ, ngực và lưng viết số mực đỏ, quần xà lỏn đen. Thủ môn cởi trần. Hội khách Phú Hòa mặc áo may-ô một lỗ, áo may-ô có tay ngắn, ngực và lưng viết số mực đen, quần xà lỏn xanh dương. Đá banh bằng chân, bắt banh bằng tay, ai đá, bắt bằng áo bao giờ. Nghệ thuật dân gian, luôn luôn, đơn giản và trong sáng.

Khi công việc cáp độ đã ổn thỏa. Người ta đuổi khán giả giãn rộng ra chung quanh sân. Trọng tài xuất hiện. Ông thổi một chập tu hít. Cả làng im lặng. Trông ông oai ghê đi ấy. Nghe nói ban tổ chức mướn ông hai ngàn bạc công thổi còi. Ông từ Chợ Mới sang lận. Trọng tài mang giầy Bata [9] thông dụng, mặc cái “xoọc” [10] đen, cái “sơ-mi” đen. Ông ra giữa sân. Thổi còi nữa. Nghề của ổng mà. Ông sẽ thổi lia chia. Hai đội banh xấp thành một hàng dọc, thủ quân mỗi đội đi đầu, tiến sát trọng tài. Không chụp hình, trao cờ kỷ niệm gì hết trọi. Các cầu thủ chào khán giả. Khán giả vỗ tay chào lại. Trọng tài cho rút thăm chọn sân. Ông bẻ cọng cỏ dài ngắn ra sao mà hai thủ quân cùng phản đối mấy lần. Giận quá, ông phá lệ, cho hai thủ quân “tay trắng tay đen”. Thủ quân Phú Hòa “oẳn tù tì” [11] ra cái bao. Thủ quân Vĩnh Phú ra cái búa. Bao bọc búa. Búa không đập vỡ nổi bao. Phú Hòa chọn bên sân không bị mặt trời chiếu nắng.

Mỗi đội banh chạy về phía sân mình. Đội hình sắp xếp thật lẹ. Cầu thủ đôi bên đều thuộc tuổi mười bẩy, mười tám. Anh thằng Tám lưới là thủ quân Vĩnh Phú, chỉ cao hơn Danh ná cái đầu. Quả da nằm thỗn thện giữa sân. Trọng tài coi đồng hồ. Ông thổi tu hít. Phú Hòa giao banh. Phút hồi hộp bắt đầu…


[3] “Giòng Sông Xanh”: Le Beau Danube Bleu/The Blue Danube, của nhạc sĩ Áo, Johann Strauss II, sáng tác năm 1866. Lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy viết ‘Giòng’, thay vì ‘Dòng’.
[4] sút : từ tiếng Pháp: shooter, do tiếng Anh shoot; đá mạnh quả bóng vào khung thành trong trận bóng đá.
[5] gôn : từ tiếng Anh ‘goal’; đích.
[6] pha : từ tiếng Pháp “phase” ; trạng thái của/trong một thời điểm nhất định.
[7] băng : từ tiếng Pháp ‘banc’ ; ghế gỗ dài.
[8] may-ô : từ tiếng Pháp ‘maillot’ ; áo thun ; may-ô ba lỗ : áo thung không cổ áo, không hai cánh tay áo.
[9] giầy Bata: giầy thể thao thông dụng của hãng giầy Bata.
[10] xoọc : từ tiếng Anh ‘short’ ; quần đùi ngắn.
[11] oẳn tù tì : từ tiếng Anh, ‘one, two, three’(một, hai, ba) mà trẻ con kêu lên trong trò chơi ‘bao, kéo, búa’.

—>8

Advertisements
This entry was posted in Duyên Anh, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.