Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

9.

Đứng ở nhà Tiểu Công Nghệ trông ra, căn lều đó chỉ hẹp và không cao hơn túp lều dùng làm cầu tiêu ở nhà quê bao nhiêu. Nhưng khi lại gần, người tù thấy khác hẳn và bất giác rùng mình vì cái hình ảnh đơn độc vắng vẻ của túp lều. Thật là một điều lạ lùng, rất khó giải thích. Tuy không thấy dấu vết gì để lại, tù nhân ngắm nhìn túp lều đã đoán ngay ra có nhiều người bỏ mạng nơi đây rồi!

Cách xa Văn phòng đến ba trăm thước, những túp lều vẫn đứng bên trong hàng rào nứa bao vây trại, cách con đường nhỏ dành cho lính cảnh vệ đi tuần không quá 20 thước. Bên ngoài con đường nhỏ còn hàng rào nứa thứ hai, chắc chắn không kém gì hàng rào thứ nhất.

Bằng súng, bằng lưỡi lê hoặc bằng bất cứ võ khí gì khác, cảnh vệ và giám thị có quyền hạ sát ngay tù nhân nào đặt chân lên con đường cấm này mà không cần phải “khuyến hàng” trước.

Tù nhân bất hạnh bị giam riêng tại túp lều nói trên, tự coi như sắp thoát khỏi cảnh ngục tù, chậm lắm, tù nhân sẽ lên đường đáp “chuyến tàu suốt’ trong vòng mười ngày trở lại. Từ trước đến nay, chỉ có một trường hợp ngoại lệ mà thôi còn không tù nhân nào sống sót nổi quá một tuần lễ. Vì đói, vì khát, vì bịnh và kiệt quệ tinh thần.

Trong trại giam Cộng sản hồi đó, chế độ dành riêng túp lều nói trên cho những tù được phong vương. “Phong vương” là phong cho làm vua, một mình một “long sàng”, một cung điện. Tù “phong vương” ăn, ngủ một mình tại lều rồi chết đơn độc, không được mà cũng chẳng cần ngó lần cuối hình ảnh những người còn sống. Đó là một túp lều tầm thường như nhiều lều khác vẫn thấy ở miền quê, dựng trên sáu cây cột chắc chắn, mái lợp rạ. “Long sàng” cao khoảng hai thước, bằng tre ghép lại, tù lên xuống bằng một thang cây. Tù nhân nằm hay ngồi trên sàn lều, lính cảnh vệ hoặc giám thị dễ kiểm soát, từ xa đã trông thấy người tù phong vương mà không phải mất công lại gần. Nói một cách khác, tù nhân rời long sàng leo xuống đất là người ta biết ngay.

Đã bị xiềng cả hai chân, tù phong vương còn phải đeo cùm. Vì thế, suốt ngày anh ta chỉ ngồi hoặc nằm dài trên long sàng, nhàn rỗi không phải làm gì. Mỗi buổi sáng, một giám thị tới coi tù phong vương chết chưa, nếu chưa chết, y sẽ mở cùm cho tù nhân xuống dưới đất đi đại tiện, tiểu tiện, rửa mặt trong vòng mười, mười hai phút đồng hồ. Rửa mặt, nghĩa là thò tay xuống một vũng nước rộng gần bằng chiếc chiếu, vốc nước đưa lên mặt rửa. Không biết đất có chất gì mà nước vũng cứ lờ lờ như nước luộc hến và tanh không thể tả được. Có người tù bị giam lâu biết chuyện nói vũng này nguyên trước đào để chôn tù nhưng đào phải nhiều xác người nên bỏ dở. Trời mưa, nước ngập đọng lại thành vũng nước. Giữa vũng, dăm ngọn cỏ mọc vượt lên khỏi mặt nước thường là nơi hạ cánh của mấy con chuồn chuồn nhàn hạ hay mỏi cánh giang hồ. Một người tù mô tả với anh em như sau: đây là một thau nước lớn, tù phong vương rửa mặt, giặt quần áo, rửa những vết thương, mụn ghẻ lở, rồi lại súc miệng và uống luôn mà không bao giờ chịu thay thau nước mới.

Sau công việc “vệ sinh” buổi sáng, tù phong vương lồm cồm leo lên sàn, vội vã đút hai cổ chân vào cùm cho giám thị khóa lại. Vì phải thường xuyên đeo xiềng vào cùm hai chân, tù nhân bắt buộc phải mặc quần không đũng, có như vậy mới thay được quần.

Khẩu phần của tù phong vương rất đặc biệt vì giản dị. Mỗi ngày, vào buổi sáng, người của ban Quản-trị tới phát cho hai nắm gạo, tù nhân muốn làm thế nào ăn được gạo thì làm. Tất nhiên, vì không có vật dụng nấu cơm, tù nhân không có cách gì khác hơn là nhai gạo sống khi không chịu nổi cái đói, tuy biết trước là ăn gạo sống, chỉ ít hôm sẽ “ỉa cứt cò” nghĩa là phân trắng toát như nước vo gạo đặc rồi đau lỵ hay đau tả mà chết. Về khoản nước uống thì buổi sáng, nhân lúc đi đại tiện, tù mang theo một ống tre múc nước ở “thau nước lưu cữu” đem về uống trong một ngày. Trong những điều kiện ăn uống như thế, tất nhiên cái chết phải rất gần, không thể nào tránh né được.

Ấy thế mà hai năm trước, một người tù đã có sáng kiến nấu được cơm ăn trong những điều kiện thiếu thốn như vậy. Bọn Cộng sản quản trị trại giam phải khiếp phục sát đất rồi tìm cách giết cho mau, khỏi lo hậu họa.

Hồi ấy, tù phong vương bị nhốt riêng tại lều này chỉ bị xiềng hai chân chứ không bị cùm nên vẫn có thể di chuyển.

Tù nhân cùng trại được biết lờ mờ rằng anh này là một nhân vật chính trị có khuynh hướng quốc gia, đã đỗ kỹ sư ở ngoại quốc, bị Cộng sản bắt vì có tư tưởng đối lập rồi bị giam tại Khu Tư cho tới chết.

Giấu được bao diêm trong mình, viên kỹ sư đó định dùng bao diêm -nghĩa là lửa- làm phương tiện vượt trại khi nhận khẩu phần gạo, viên kỹ sư biết ngay tụi Cộng sản định giết anh. Anh ta nhất định không chịu chết vì bịnh ruột nên tìm cách nấu cơm ăn bằng được. Ít nhất, anh cũng tỏ cho bọn Cộng sản biết rằng người quốc gia chiến đấu đến cùng chống bọn Cộng sản, dù trong cảnh tù đày.

Trước tiên, anh kiếm một bẹ chuối, một tầu lá chuối và vét một vốc bùn đất sét dưới vũng lên. Xong anh ta đào một lỗ nông trên mặt đất, đổ nước vào cho đất ngấm nước thành nhão. Ngâm gạo trong nước cho gạo ngấm kỹ nước, anh ta bọc gạo thật kín trong mấy lượt lá chuối, dùng bẹ chuối bọc thật kín bên ngoài như một đòn bánh tét. Sau khi cột kỹ bằng dây tước ở bẹ chuối, anh ta lấy đất nhão bao kín bên ngoài gói gạo, bỏ xuống lỗ rồi lấp đất.

Sau khi đổ nước xuống lỗ cho ngấm đẫm nước, người tù chất lá và củi lên trên mà đốt, đốt mãi. Tới khi đất bùn đã khô queo dưới sức nóng, anh còn chờ thêm một lúc lâu cho đủ sức chín cơm rồi mới giỡ bọc cơm lên ăn. Tuy không ngon lành gì nhưng gạo đã nấu chín thành cơm, ăn không bị bịnh.

Đến lần nấu cơm thứ ba, mưu kế của anh bị khám phá và bao quẹt bị tịch thu. Khi đó viên kỹ sư mới đành chịu bó tay và từ đó trại giam áp dụng biện pháp cùm luôn tù phong vương để chặn hết mọi phương tiện di chuyển.

Tù nhân đành phải ăn gạo sống nếu không muốn chết đói ngay, tuy biết chỉ ngày một ngày hai sẽ bị bịnh về bộ tiêu hoá. Dù sao, cũng đẩy lui được Thần đói được ít ngày.

Người tù mới bị phong vương cũng nghĩ như trên. Y nhìn chăm chú hai nắm gạo sống trên miếng lá chuối khô ở góc long sàng rồi thở dài. Trông lại, nhận ra ngay 982, người đã có sáng kiến thả kiến bò nhọt bắt rận trong quần áo tù, để ngừa bệnh chấy rận bị kiến bò nhọt phản lại nên “được” đưa đến giam tại lều phong vương!

Nhắc lại bữa đó, 982 cứ sự thật mà khai và nhận hết tội lỗi về phần mình vì không muốn anh em bị liên lụy một cách vô ích. Sau một trận đòn tơi bời, 982 được “phong vương” ngay sáng hôm đó do quyết định của phó trưởng ban Quản-trị trại.

Một nhân viên mở hồ sơ cá nhân của 982, đọc qua loa rồi ghi thêm bản án tử hình:

– Phạm tội mưu sát nhân viên ban Quản-trị, được phong vương kể từ ngày…4.1954.

Y đặt cây viết trên tờ lý lịch cá nhân, tò mò nhìn 982 từ đầu đến chân như để xem tướng mạo một người sắp chết rồi buông mấy tiếng nhạt nhẽo:

– Muốn được “làm vua” thì “phong vương” ngay tức thì! Thôi, về cung điện mà ngự lên “long sàng”!

982 ngẩn mặt ra một cách sợ hãi, chưa hiểu ất giáp gì hết, viên giám thị bị kiến độc đốt đã hầm hầm nhìn hắn và nạt:

– Đi theo đây!

982 lần lũi theo sau giám thị, băn khoăn lo lắng, không biết sẽ bị trừng phạt cách nào. giám thị đưa đầu ngón tay trỏ lên miệng, chấm nước miếng, day lên vết độc cắn hãy còn sưng vù rồi cau có nói:

– Xuống dưới lò rèn để đánh xiềng! Biết không?

Tuy chưa biết đích xác lò rèn ở đâu, 982 cũng thưa:

– Dạ, biết!

Rồi toát mồ hôi đầy mình, bước trên mặt đất mà bàng hoàng như đi trong mây. Đang là tội nhân thường, nghĩa là có hy vọng một ngày kia được phóng thích, nay bỗng biến thành tù trọng tội mang xiềng và cùm. Chỉ vì mấy con kiến bò nhọt oan nghiệt!

Đến đây, tác giả xin mở một dấu ngoặc để nói qua về một ngành hoạt động chuyên môn trong Trại giam Đầm Đùn.

Nguyên số tù nhân của Trại Đầm Đùn khi đông nhất có thể tới hơn ngàn người và ngay khi chết dần chết mòn vì “ra bai”, vì thương vong hàng ngày hay vì nhiều lý do khác, cũng còn bảy tám trăm người. Tất cả số tù nhân đông đảo ấy thuộc nhiều giai cấp, thành phần và làm nhiều nghề khác nhau: cày ruộng, thợ cấy, thợ gặt, trồng tỉa, thợ máy, đào giếng, làm củi, làm than, giáo sư trí thức, thanh thiếu niên, du đãng, thợ rèn, thợ mộc, bếp nấu ăn, thương gia, viết văn, nhà chính trị cách mạng, tu sĩ và cả cường hào ác bá nữa v.v…Thôi thì đủ mặt anh hùng thiên hạ không sao kể hết.

Khi họ bị đưa vào giam tại Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm Đầm Đùn, ban Quản-trị sắp xếp chia ra làm nhiều hạng theo nghề nghiệp, thành phần, giai cấp. Vì thế, trại có một số thợ chuyên môn, để phụ trách về các công tác chuyên môn khi cần đến. Cũng bởi lý do trên, Trại giam Đầm Đùn có một ban thợ rèn do một tay thợ rèn khá chuyên môn điều khiển. Hai thanh niên phụ giúp những công việc lặt vặt cho ban này.

Tù nhân phải mang xiềng đều được giám thị dẫn xuống lò rèn đặng làm xiềng đeo vào chân.

Thường những ngày ít việc, thợ rèn “đánh” sẵn những sợi lòi tòi dài cả mấy chục thước quấn thành một đống lù lù lớn như đống mả ở góc nhà. Vậy mà có khi chỉ trong mấy ngày là cả ba bốn chục thước xiềng đã xài hết nhẵn, tù thợ rèn phải luôn tay quai búa chan chát trên đe mới thỏa mãn kịp cho nhu cầu của Trại.

Lò rèn cách nhà Tiểu Công Nghệ cả bốn, năm chục thước, đặt trong một căn nhà lá khá rộng, ba bề không có vách. Đứng trên nhà Tiểu Công Nghệ trông xuống, tù nhân chỉ thấy lấp ló mái nhá lá vì lò rèn bị lấp sau dãy nhà bếp. Nhưng có ngày những tiếng búa đập chan chát trên đe để rèn xiềng nghe như tiếng đóng “cá” quan tài khiến nhiều tù nhân thấy đau nhói ở tim, chịu không nổi. Nhiều người tù khó ngủ hay bịnh, đêm nằm nửa tỉnh nửa thức, bỗng nghe vắng tiếng búa đập chan chát xuống mắt xiềng rồi lo sợ nghĩ ngợi lan man thao thức cho đến sáng không chợp mắt. Bởi vì hình ảnh sợi xiềng sắt xích liền hai cổ chân tù nhân là một hình ảnh thiểu não cùng cực đã in sâu vào tâm thức họ. Tuy thế, cũng chưa ghê rợn bằng nghe tiếng xiềng kéo lê trên mặt đất chạm nhau lách cách, nhịp theo bước chân ngắn dài của tù nhân đi trong ánh trăng non buổi tối mùa Thu, sương mù đầy sân. Nhiều tù nhân không phải mang xiềng tự thương thân bật khóc tức tưởi.

Muốn “được” đeo xiềng vào chân, tù nhân còn phải đau đớn khá nhiều, vì ở trong trại giam, vẫn luôn luôn xảy ra những vụ bóc lột, hối lộ, làm tiền. Nhiều tù nhân đã bị què trước khi mang xiềng vào chân.

Đến trước lò rèn, 982 sợ hãi bước chậm lại rồi đứng trên ngưỡng cửa trân trối nhìn một người cởi trần, mình đẫm mồ hôi đang đập búa lên một mắt xích. Khi ngước thấy giám thị, người này mỉm cười gật đầu chào, và lễ phép đứng lên. Tuy giám thị chưa nói, anh ta đã biết giám thị sẽ ra lệnh cho làm việc gì. Sau khi nhìn giám thị, thợ rèn liếc mắt thật nhanh ngó 982 rồi chừng như nhận thấy dấu hiệu đặc biệt gì của giám thị -một cái đưa mắt chẳng hạn-. thợ rèn ngó sững bộ đồ trên mình 982.

Tuy bộ đồ không còn mới nhưng lành lặn nguyên vẹn và may bằng loại vải dầy và bền, vải chúc bâu trắng. Đợi cho tù thợ rèn nhận định xong, giám thị mới nói:

– Đánh sợi xiềng dài một thước cho thằng này (vừa nói vừa chỉ vào giữa trán 982). Nó mới được phong vương vì tội thả kiến độc trong trại ngủ cho cắn nhân viên gần chết!

892 vừa ức vừa sợ, nhất là sợ, định lắp bắp phân trần để giám thị hiểu cho là y không dám có ác tâm ấy nhưng không nói ra hơi. Quá tuyệt vọng trước một định mệnh tàn ác, y ngớ ngẩn nhìn giám thị rồi cúi gầm mặt xuống, lặng thinh luôn.

Tù thợ rèn hỏi:

– Thưa ông giám thị, cho đeo liền bây giờ?

– Xiềng hai chân luôn. Dài một thước. Nghe rõ chưa?

– Dạ, thưa rõ…

– Nửa giờ nữa, tôi quay lại lãnh tù. Làm xong, biểu nó ngồi chờ ở đây.

Rồi giám thị quay nhìn 982, quát lớn:

– Đeo xiềng xong, ngồi đợi tao đưa mày đến long sàng mới của mày. Không được bước ra ngoài ngưỡng cửa lò rèn, hiểu chưa?

982 khúm núm:

– Thưa ông giám thị, xin tuân lệnh.

giám thị nhìn thợ rèn lần nữa, nháy mắt một cái rồi quay đít, lên thẳng nhà bếp. Hắn kiếm bữa ăn sáng.

Tù thợ rèn mỉm cười, nhìn theo bóng dáng tên giám thị giây lát, nhưng đến lúc quay lại nhìn 982, mặt y đanh lại, với một vẻ tàn nhẫn lạnh lùng như vừa đeo một mắt nạ bằng sắt. 982 nhìn tù thợ rèn, lễ phép xuống nước năn nỉ:

– Kính chào ông anh. Xin ông anh thương giùm em bị oan, làm phước nhẹ tay cho em nhờ…

Thợ rèn lạnh lùng nghe rồi gay gắt hỏi:

– Nghề lò rèn phải quai búa tạ, đâu có nhẹ tay được! Mà nếu “nặng tay” thì sao?

982 luống cuống chưa biết trả lời cách nào để khỏi phật ý thợ rèn, tên này đã gườm gườm cặp mắt, nhìn chằm chặp bộ đồ 982 đang mặc với vuông khăn quấn ở cổ và nói:

– Bộ quần áo còn tốt quá nhỉ? Ra lều “phong vương” mặc bộ đồ này uổng quá, phí của giời. Thôi, người anh em “bán lại” cho tôi đi.

Rồi hắn nhìn 982 toét miệng mà cười…cầu tài. 982 thấy rõ vẻ làm tiền sống sượng của hắn, bẽn lẽn còn chưa kịp trả lời, hắn đã gằn giọng:

– Đưa cổ chân ra coi!

982 sợ hãi đưa cổ chân lại gần bên cho thợ rèn ước lượng. Thợ rèn nheo mắt ước cỡ cổ chân của 982 rồi lẳng lặng lại sát vách, nơi có một thùng cây vuông vắn như cái rương đựng quần áo. Trước khi mở nắp rương, y quát bảo thiếu niên từ nãy vẫn đứng cạnh bễ tò mò theo dõi sự việc và các mẩu đối thoại giữa hai bên:

– Thắng kia! Thổi lửa lên! Mày cũng muốn được “phong vương” hả?

Thiếu niên lặng lẽ kéo bễ thì thụt. Đống than bỗng hồng lên theo từng hơi thụt rồi ngọn lửa xanh từ đống than vươn lên liếm vào không khí. Một làn hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Thợ rèn nhấc nắp rương, thò tay kéo. Tiếng kim khí loảng xoảng, một sợi xích sắt được nhấc ra vứt xuống đất, dài tới ba thước. Cảm tưởng đầu tiên của 982 là cảm tưởng nặng nề. Sợi lòi tòi này phải nặng tới 20 kg là ít.

982 định thần nhìn kỹ. Hai đầu sợi lòi tòi đã dính liền vào hai cái đai sắt tròn vành vạch, đường kính rộng hơn cổ chân chút ít. Đai sắt cao khoảng hai phân và dầy bằng tập vở học trò. Một chi tiết làm 982 hoảng kinh, cạnh đai sắt cứa vào cổ chân và mu bàn chân thì đến bật xương rách thịt, làm sao chịu cho thấu. Lần thứ hai, 982 khép nép, xuống nước nhỏ năn nỉ:

– Xin ông anh làm phước cho em cái đai sắt nào cạnh bớt sắc. Hoặc giả, xin ông anh cho phép em mượn cái giũa, giũa vài nhát vào cạnh đai cho bơt bén. Tội nghiệp em lắm!

982 chẩy nước mắt lúc nào không biết. Y chợt thấy thiếu niên đứng phía sau thợ rèn ra hiệu cho y, một tay thiếu niên vẫn kéo bể còn một tay nắm vào ngực áo, kéo ra kéo vào vài cái, 982 vẫn chưa quyết định tính toán cách nào, thợ rèn đã quát:

– Lại gần đe, ngồi xuống.

Như người mất hồn, 982 sợ sệt nhích lại gần đe ngồi thụp xuống, rồi duỗi dài hai chân ra khi thấy thợ rèn giơ tay ra hiệu.

Hai đầu sợi lòi tòi đã gắn chặt vào đai sắt. Nhưng mép nối của đai sắt hãy còn mở, khi nào tù nhân cho lọt vào trong vòng đai rồi, người ta mới tán cho hai mẫu sắt ở mép đai cắn chặt với nhau bằng một đanh sắt có mũ gọi là “ri-vê”. Bao nhiêu công việc đóng xiềng vào chân tội nhân nguy hiểm là ở chỗ này. Có thể vô tình hay cố ý, khi đập xuống đanh ri-vê để tán, cây búa tạ đánh vào xương ống quyển hay mắt cá chân. Chỉ thấy tội nhân hét lên một tiếng điếng hồn rồi què luôn từ giây phút ấy. Nhưng trong tù có nhiều hiện tượng lạ lùng, què hẳn hoi mà vẫn phải lõng thõng bước đi như thường, khi cần.

982 theo lệnh của thợ rèn, cố đút bàn chân to như bàn cuốc cho lọt qua vòng đai sắt trong khi thợ rèn dùng kìm mở cho đường kính vòng đai rộng thêm ra. Đút lọt một chân vào trong đai sắt rồi, 982 mới nhìn lại bàn chân đã xây xước rướm máu. Chưa kịp chùi vết máu, anh ta đã phải ghếch cả cổ chân có đai sắt lên trên đe trong khi thợ rèn ướm thử một chiếc đanh ri-vê vào lỗ chuẩn bị tán:

– Ê, thằng kia, ra giữ đai cho tao “đóng” đây!

Thiếu niên ngừng thụt bễ, lại gần dùng kìm, kẹp chặt hai mẫu sắt ở mép đai, có lỗ thủng sẵn đặng thợ rèn tán ri-vê 982 rùng mình khiếp hãi, nghĩ thầm:

– Trượt búa một cái, đành là mình gẫy đứt một giò.

Nghĩ vậy, anh ta nhắm mắt lại không dám nhìn. Nhưng lúc mở tí hí mắt thì vừa vặn đúng lúc thợ rèn giơ cao tay búa giáng xuống. Chẳng may, búa trượt ngang, đập trúng mắt cá chân đến “cốp” một cái 982 “ối” mấy tiếng đau đớn nằm lăn quay ra đất mà rên hừ hừ.

– Câm cái mồm lại! Chưa được!

Quả nhiên, khi nhìn lại 982 thấy cây đanh đi-vê chưa dính chặt vào lỗ và miệng đai sắt vẫn chưa đóng kín. 982 ràn rụa nước mắt vì nhức nhối, chép miệng, cởi khuy áo, lạy van rối rít:

– Thế này thật không phải, xin biếu ông anh chiếc áo này và xin ông anh thương tình cho lại em chiếc áo rách, rách thế nào cũng được, miễn còn được chỗ lành để em xin “in số” là được. Ông anh thương mà nhẹ tay giùm.

Lúc bấy giờ thợ rèn mới mỉm cười ra vẻ thông cảm. Hắn ngẫm nghĩ giây lát rồi quay ra phía thiếu niên kéo bễ và nói:

– Mày kiếm một chiếc áo còn khá tốt đổi cho ông bạn, kẻo tội nghiệp. Trời rét này mà ở trần, làm sao chịu nổi.

Gần nửa giờ sau, 982 đã mang xong xiềng vào chân. Gần đúng như lời dặn của giám thị, sợi xiềng nối liền hai cổ chân đo được 98 phân. Lúc tới lò, 982 mặc áo lành lặn, lúc ở lò ra theo giám thị, mặc áo rách, cũ kỹ, ngắn ngũn như áo con nít. Tuy vậy, trên ngực và lưng áo còn hai khoảng lành lặn nhờ có đắp thêm hai mảnh vải còn tốt, 982 có thể năn nỉ xin ban Quản-trị cho in số tù trên khoảng áo lành là được rồi.

Anh ta khập khễnh như người què. Cũng còn may, cạnh vòng đai sắt đã được thợ rèn giũa qua mấy nhát cho bớt sắc, nếu không, chỉ đi mười bước là tóe máu chân ra liền. Tiếng xích sắt lách cách tiến về phía lều phong vương.

982 bàng hoàng nhìn túp lều, ngừng bước chân. Không nghe tiếng mắt xích đập vào nhau, giám thị quay lại quắc mắt, 982 lại vội cất bước.

– Bắt đầu từ giờ phút này (giám thị nhìn đồng hồ tay) 8 giờ 45 ngày…tháng 4.1954… tôi tuyên cáo từ 982 được chính thức phong vương theo quyết định của ban Quản-trị.

Với một giọng điệu đầy vẻ đểu cáng, giám thị mỉm cười thích thú. 982 ngẩn ngơ như người mất trí, tiến không dám, lùi thì sợ…nên chẳng khác chi người chết đứng. Túp lều phong vương thản nhiên chờ đợi trong cái vắng lặng của khu trại, người bạn ăn nằm với túp lều trong một thời gian ngắn ngủi ít ngày.

—>10

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.