Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

10.

Không biết lần thứ mấy, 982 nhìn lại nắm gạo bỏ trên mảnh lá chuối khô tại góc sàn lều mà ban Quản-trị đặt cho mỹ danh là “long sàng” đặng xứng với danh từ “tù phong vương”. Phải, bắt đầu từ 8 giờ 45 sáng nay, anh được thăng làm “tù phong vương” và gần như chắc chắn rằng 8 giờ 45 phút cũng ngày này tuần tới, anh sẽ không còn sống trên cõi đời này nữa.

Ý nghĩ trên làm 982 thắt ruột vì tiếc nuối, căm hờn và đau đớn…Đầu óc 982 trở lại trống rỗng như không còn đủ sức suy nghĩ đến một việc cỏn còn nào hết. Tên giám thị đểu cáng, sau khi cho anh làm công việc “vệ sinh” buổi sáng và rửa mặt bên cái vũng nước đục lờ lờ, hất ngón tay ra lệnh cho anh trèo lên sàn. Rồi y lấy hai mảnh ván cùm vứt lăn lóc trên sàn từ bao giờ, cùm hai chân anh lại. 892 biết chắc cùm này đã “chiếu cố” đến nhiều tù phong vương khác, những người đã sang bên kia thế giới trước anh. Cứ coi các góc cạnh đã nhẵn thín cũng dư biết thành tích giết người của cùm. Ít ra cũng cả trăm cả tù nhân đã mất mạng vì nó.

Dần dà, đầu óc 982 bình tĩnh lại, bản năng sinh tồn của con người vùng dậy. Anh tự nhủ thầm: Hoảng hốt, sợ hãi lại càng mau chết. Đành rằng nếu tổ chức bên ngoài không thực hiện kịp thời một kế hoạch giải cứu, anh khó lòng thoát chết. Nhưng tìm cách kéo dài sự sống vẫn hy vọng hơn. Biết đâu chẳng có một cuộc đại xá…một đặc ân bất ngờ nào đó. Hoặc giả, gặp dịp may trốn thoát về vùng Tề. Biết đâu chừng!

Mắt cá chân buốt đánh thót một cái vì anh vừa gượng co đầu gối lại. Khi đó 982 đang ngồi dựa vào chân cột, ngó khung cảnh chung quanh “điện ngọc” vắng vẻ, im lìm. Dưới đất, những ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm. Trên chòi xa, một tên cảnh vệ canh gác, đang ngó về phía anh…982 nhìn chiếc áo cụt ngủn đang mặc mà giận. Đằng nào cũng mất áo mà còn bị búa đánh toét mắt cá chân. Thật ngu dốt đần độn quá, 982 tự rủa thầm như vậy.

Nhất là khi nhớ ra những chuyện bạn tù kể lại về tác phong của tên tù thợ rèn, 982 càng giận thêm. Họ đã cho anh biết những vụ làm tiền, bóc lột vật dụng quần áo là chuyện tất nhiên phải có, khi tù bị thợ rèn đóng xiềng vào chân. Dù không muốn có những hành động khốn nạn đó, nó vẫn phải làm theo lệnh của giám thị. Vì giám thị của Trại giam Đầm Đùn cũng túng thiếu, phải bóc lột tù mới đủ ăn. Làm việc ở vùng nước độc khỉ ho cò gáy, xa nơi thị tứ, quanh năm buồn như chấu cắn, giám thị là những phần tử phạm lỗi, phải thuyên chuyển đến trại này vì lý do kỷ luật, tác phong hủ hóa, để chia sớt sự thiếu thốn với bọn tù ốm đói sắp chết và đang chết.

Thế cho nên khi tù nhân đến lò rèn để đóng xiềng, gần như bắt buộc phải mất một vật dụng gì cho giám thị qua trung gian là tù thợ rèn. Tùy giá trị món đồ bóc lột được, giám thị sẽ chia cho thợ rèn một phần.

Nhưng có những tù nhân nghèo quá, chỉ còn một bộ đồ rách bươm, giám thị có lột lấy bán lại cũng chẳng được là bao. Trường hợp này, đành phải châm chước mà tùy nghi định liệu. Tù nhân bị đóng xiềng muốn khỏi bị búa trợt vào ống quyển, vào mắt cá chân, có thể điều đình bằng cách nhường cả một bữa cơm cho thợ rèn. Thợ rèn cũng là tù nhân nên vẫn “đói” chẳng khác chi các tù nhân cùng trại. Nhường cho hắn một bữa cơm, hắn tán đanh ri-vê mỗi đai cổ chân một cái, trúng ngay. Nếu không, hắn bèn trợt búa thì chết mẹ cái cẳng chân anh tù cần đeo xiềng. Bữa cơm, nếu không ăn hắn cất đi, đổi lấy thuốc lá, thuốc lào hay áo cánh, quần đùi, rồi nộp giám thị hoặc bán lấy tiền đưa giám thị chia theo nguyên tắc “tứ lục”, giám thị hưởng 6 phần, thợ rèn 4 phần.

Nhưng trên thực tế, phần của sư tử bao giờ cũng phải lớn hơn nhiều nên tù thợ rèn chỉ được một, hai phần mười là đã toại nguyện lắm rồi. Để được đền bù phần nào, thợ rèn còn được giám thị che chở, nâng đỡ về tinh thần nên hắn có quyền hống hách, muốn cho ống quyển tù nhân bị đeo xiềng ăn…”đòn trợt búa” lúc nào cũng được.

Đã biết nguyên tắc nộp “thuế đóng vào chân” như vậy, 982 còn để cho búa táng vào mắt cá chân, thật đáng tội què!

Nhưng có một mánh lới làm tiền khác của thợ rèn, 982 chưa được nghe nói đến nên chưa biết. Tù nhân phải đeo xiềng nhưng đến một hạn nào đó, tất nhiên cũng phải tháo xiềng ra trả lại cho trại. Hoặc là tù xiềng được đặc ân (trường hợp này rất hiếm) hoặc gặp kỳ đại xá, ban Quản-trị có thể xét cho họ tháo xiềng để trở về làm tù nhân hạng nhẹ. Lúc tháo xiềng ra mới thật khổ, không khác chi lúc đeo xiềng.

Tù thợ rèn có hai cách tán ri-vê vào đai sắt của xiềng, một là tán toét đầu ri-vê ra, hai là tán vừa đúng mức mà tù vẫn không thể nào tháo ra được. Trong trường hợp thứ nhất, khi tù nhân được bỏ xiềng, thợ rèn phải chặt đứt ri-vê bằng đục và búa. Độc giả khó tưởng tượng nổi cổ chân phải đau đớn đến mức nào khi thợ rèn chặt ri-vê trên đe!

Trong trường hợp dưới, thợ rèn chỉ dùng một cái chốt sắt đặt đúng lên ri-vê, “đột” một cái là trúng phóc, ri-vê bật ra liền, cổ chân không hề đau đớn gì hết.

Cách tán ri-vê trong trường hợp thứ nhất còn gây ra nhiều điều không hay.

Nếu tù nhân này chết, cố nhiên phải khiêng ra bãi để chôn.

Tháo ri-vê ra phiền phức mất công quá nên thợ rèn thấy không gì tiện hơn là chặt phăng bằng rựa hay rìu hai cổ chân xác chết, thu hồi xiềng trả lại ban Quản-trị rồi liệng hai chân xuống hố phân là xong chuyện. Chỉ trong ít hôm, ròi ăn hết hai bàn chân liền. Dưới âm phủ, cái xác mất hai bàn chân làm sao đi lại được như những xác còn nguyên vẹn thân hình (!)

Nhiều tù nhân mê tín hoặc lẩm cẩm lại còn ngẫm nghĩ cả về điềm vớ vẩn vừa nói nữa.

982 ngắm nhìn cây ri-vê đóng vào đai sắt, gọn gàng, nhẵn nhụi, bỗng cau mặt tức giận. Chắc chắn bị “cúp” mất bữa ăn sáng nay rồi. Thật là họa vô đơn chí! 982 rền rĩ trong họng:

– Đói quá! Đói quá!!

Anh ta vòng hai tay ôm bụng, co đầu gối ép lên hai cánh tay thật chặt. Chiều hôm qua đi làm củi ở rừng về, ăn hết hai lưng cơm mà vẫn đói như chưa được hột cơm nào. Vậy mà sáng nay lại phải nhịn nữa thì chịu sao nổi. Cái đói ùa đến thật nhanh khiến mồ hôi 982 toát ra ướt đẫm lưng. Đôi mắt lờ đờ chợt hướng về phía vũng nước, anh nghĩ thầm:

– Có vũng nước thì phải có ếch, có nhái, cóc hay là tôm, cá nữa, không biết chừng. Hay ta liều xuống kiếm coi.

Liền khi đó, một ảo giác hiện ra trước mắt 982. Ngay giữa “long sàng”, một con ếch tròn vành vạch đang ngồi, gương mắt nhìn anh. Một lưỡi câu có dính bông hoa mướp vàng nhẩy nhót để nhử. Bị khích thích vì màu vàng hoa mướp, con ếch nhoài mình đuổi theo mồi. Một sức mạnh giựt ở đầu sợi dây câu khiến lưỡi câu bung lên đóng chặt vào miệng con ếch béo múp míp.

982 dụi mắt, con ếch biến mất. 982 vừa tưởng tượng đến những lần câu ếch trong dĩ vãng xa xôi ở ven ao làng. Cái đói, cái khát thường tạo ra ảo ảnh như vậy.

982 chợt ngước lên mái lều, nơi vừa phát ra tiếng lạt sạt rất khẽ nhưng vì không khí quá yên tĩnh nên anh nghe được. 982 phát giác một con thạch sùng đang bắt muỗi trên mái, da con thạch sùng vàng ngậy lẫn với màu rạ. Một ý nghĩ thoáng trong đầu 982 như một cứu cánh, mắt anh không rời con vật và lóe ra những tia sáng chói của thèm muốn. Im lặng như cái bóng, 982 vẫn ngồi mà lết dần đến bên dưới khoảng mái rạ có con thạch sùng trong khi tay anh lần cởi khuy rồi lột áo ra, xoắn lại thành một sợi dây lớn, nắm chặt một đầu trong tay. Anh vẫn ngửa mặt nhìn lên nóc nhà, cằm đưa ra đàng trước, mắt lom lom theo dõi con thạch sùng.

Con vật bỗng bò nhanh để bắt một con nắc nẻ đậu gần đấy. Khi đã lại gần đúng tầm, nó nhô mạnh về phía trước để đớp con mồi thì cũng đúng lúc đó, 982 vụt đứng thẳng lên, vung tay cầm áo đập giữa mình con thạch sùng, nhanh không thể tả.

Chiếc áo rơi xuống mang theo con thạch sùng. Nhưng con vật chỉ bị đau sơ chứ không chết. Vừa rơi trên “long sàng”, nó loạng choạng chạy về cây cột lều nhưng 982 đã nhoài người vồ được nắm gọn trong tay, mặc cho con vật vùng vẫy.

Một khoảng đầu con thạch sùng còn thò ra ngoài nắm tay của người tù đói, nhưng nó chạy sao cho thoát! Vừa định quật chết con thạch sùng, anh chợt ngừng kịp cánh tay đang giơ lên nửa chừng. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu. Hai mắt tóe lửa thèm khát của 982 nhìn chòng chọc miếng ăn sống trong tay.

982 há nhẹ hai hàm răng, đút đầu con thạch sùng lọt vào bên trong miệng. Bằng hai ngón tay, anh cấu vào đuôi con vật một cái, đồng thời lỏng bớt tay nắm. Bị đau, con thạch sùng vùng chạy chui thẳng tọt vào cổ họng 982 rồi biến luôn. 982 đã ngậm miệng như thường. Một cảm giác ngứa ngáy khó chịu khi con thạch sùng chạy theo ống thực quản xuống bao tử khiến 982 so hai đầu vai lên như bị thọc nách.

Rồi anh ngẩn người ra ngẫm nghĩ: Cũng may, con thạch sùng không bị rụng đuôi khi rớt, chứ chỉ nuốt riêng cái mẫu đuôi thì cũng dỡ dang, mà bỏ đuôi cũng uổng!

Một lát sau, cái cảm giác nhột và buồn bực do con thạch sùng bò trong bao tử gây ra mới hết dần. 982 cho là còn may, mới tới đã kiếm được thức ăn bỏ vào miệng để dằn cơn đói quái ác! Nhưng sẽ làm gì với nắm gạo sống này đây?

982 giật mình quay về phía trại vì anh lại nghe tiếng chân dẫm trên đất ướt. Quả vậy, một người đang đi tới, tay cầm gói gì mà anh chưa nhận ra. Dáng người trông quen quen, gầy gò, nhỏ nhắn, không phải là tên giám thị khốn nạn. Người đó lại đội cái nón chóp bằng lá gồi dậy dặn anh đã cố công mang từ Việt Bắc về. Không thấy mặt nhưng 982 đọc được số 271 in trên ngực người đội nón.

271 là danh số của trại viên Toàn. Hôm nay, 271 được cắt công tác xay 5 thúng lúa ở nhà Tiểu Công Nghệ và gánh hai chục gánh nước tưới rau, vườn cà của trại. Chưa gánh xong nước, Toàn được giám thị sai mang đến trao cho 982 một bọc gồm mấy cái quần áo. Ba bốn miếng giẻ, một bao tải, một đôi dép cao su “con hổ” đế đã mỏng như lá bàng. Với tư cách trưởng toán, Toàn sẽ cho biết luôn 982 không còn thuộc toán của anh nữa. Như thế con số 982 đã được gạch bỏ trên danh sách trại thường tội trước khi người mang con số đó bị bỏ một cách lạnh lùng ra khỏi cõi nhân thế.

Tới chân thang, Toàn giở nón là ngước nhìn lên “long sàng” mà cười gượng như để an ủi “tân vương”. Nhưng 982 không lưu ý đến vẻ mặt cùng thái độ của Toàn mà chỉ đợi Toàn cho biết những sự việc xảy ra sau lúc anh ta bị gọi lên Văn phòng và xin Toàn giúp cho một việc rất hệ trọng.

Toàn ý tứ nhìn quanh quất tứ phía, coi có ai rình rập theo dõi chăng, rồi chăm chú ngó chòi lính canh đàng xa. Tên cảnh vệ ngồi xây lưng lại phía lều phong vương, 271 yên trí leo lên thang, ngồi ghé xuống “long sàng”.

Thấy mắt cá chân của 982 tím bầm như quả bồ quân, Toàn lờ đi, không muốn gợi cái đau ra cho bạn đồng cảnh. Anh chìa bọc quần áo, cầm hết vật dụng trong tay lần lượt đưa từng thứ cho 982 và chợt có một cảm tưởng kỳ lạ, gặp 982 lần này là lần cuối cùng. Trong Trại giam Đầm Đùn, cái sống xa cách cái chết không quá mươi bước chân. Toàn lặng lẽ nói:

– Đây, tất cả đồ dùng của anh, không thiếu thứ gì, còn quần áo, tôi đã rũ thật sạch, anh yên trí mà mặc…

Toàn cố tránh nhắc đến đàn kiến bò nhọt chết tiệt đã gây ra tai họa cho 982. Toàn thấy 982 mấp máy định nói rồi ngậm chặt vành môi đến gần chảy máu. Hắn giở từng thứ ra coi qua loa, liệng đống ngay bên cạnh, rồi thở dài. Trong giọng nói của 982, Toàn thấy một âm hưởng căm hờn, ngao ngán, nhưng không sợ sệt:

– Tôi bị “phong vương” rồi, anh ơi! Chắc khó sống hết tháng này…Tôi gởi lời chào tất cả các bạn và mấy anh em trong giam cầm này. Dè đâu…

Thiếu chút nữa Toàn bật lên khóc thành tiếng, vừa thương người đồng cảnh, vừa lo cho thân mình. 982 bỗng ngưng ngang, mắt hắn ráo hoảnh long lanh dữ tợn, hai bàn tay nắm chặt thành hai quả đấm, run run. Toàn đoán hắn đang có những ý nghĩ liều lĩnh, bất thường. Người tù nào mới được đưa đến lều phong vương cũng có phản ứng như thế. Thoạt đầu là cảm giác sợ sệt hoang mang, rồi sau đó là lòng căm phẫn, thù hận, những ý tưởng liều lĩnh giết người hay vượt trại giam. Còn sau này có gan thực hiện những mưu định không, lại là chuyện khác.

Toàn đưa mắt nhìn địa thế quanh lều…Tuy đã vào trại giam sáu tháng, Toàn chưa có dịp đến khu này lần nào. Sự vắng vẻ, yên tĩnh, cô độc gây cho anh một cảm giác hồi hộp, sợ hãi. 982 chợt hỏi bâng quơ:

– Này anh Trưởng toán, sáng nay tôi bị “cúp” mất bữa cơm một cách oan uổng nên đói quá. Trước khi bị đưa tới đây, cũng không được ăn bữa cơm cuối cùng với anh em. Thiệt đáng hận…

Nói đến cơm, dường như 982 lại càng đói thấm thía nên hắn ghì chặt hai cánh tay ôm bụng. Toàn xúc động mạnh trong lòng nhưng vẫn làm lơ, giả bộ quay nhìn xuống vũng nước và mấy ngọn cỏ mọc vượt lên khỏi váng nước vàng như gạch cua…Anh định hỏi: “uống nước ở vũng này à?” nhưng lại thôi.

Hai người cùng yên lặng giây lâu. Trán 982 đẫm mồ hôi và hai hàm răng hắn bỗng nghiến ken két. Toàn rùng mình ba bốn lần liên tiếp.

– Chà, cơn đói quái ác!

Mắt 982 bỗng tóe tia lửa khiến Toàn bất giác rợn người. Nếu đúng giây phút này, nhét vào tay hắn một con dao rồi dẫn hắn đi tìm giám thị, hắn dám liều. Toàn sực nhớ đến cảm giác căm thù hết mọi người khi anh bị cơn đói hành hạ. Nếu anh đủ sức khỏe, chắc anh có lần phạm tội sát nhân chứ chẳng không. Rồi so sánh với hiện cảnh của 982, anh thấy anh còn có diễm phúc. Đây là lần đầu tiên trong trại giam, sự so sánh khiến Toàn tự thấy bớt đau khổ, và còn may mắn hơn nhiều người khác.

Ngập ngừng vài giây rồi lấy hết can đảm. Toàn rút trong cạp quần ra một trái bắp luộc còn cả áo bên ngoài, mạnh dạn chìa ra cho 982 và nói:

– Tôi xin tặng anh trái bắp này. Tôi vừa đổi nửa ống quần lấy trái bắp, định tách hạt bắp ra cất để dành, phòng khi đói hay đau ốm, bây giờ chỉ ăn lõi bắp và nhai mấy tấm áo bọc ngoài hít lấy nước ngọt. Nhưng thấy anh tội nghiệp quá, tôi không đành lòng…

982 trợn tròn mắt một cách ngạc nhiên và dữ tợn, bất thần nhanh như cắt chộp luôn trái bắp trên tay 271, dường như sợ 271 thay đổi ý kiến. Rồi lột luôn bắp cạp liền, nhai ngồm ngoàm, vừa nhai vừa nói:

– Cám ơn anh! Cám ơn anh! Đói quá! Không ăn ngay thì chết mất!

Toàn cười vớ vẩn nửa như tiếc rẻ, nửa như tự mãn, lặng thinh không nói. Lúc này Toàn mới nhận mình quá “anh hùng cá nhân” thì đã muộn! Cướp lại sẽ gây phiền phức rắc rối, nguy cho cả hai, nội vụ sẽ vỡ lỡ. Thôi đành vậy.

Nhưng Toàn lại lần cạp quần phía trái, lấy ra một vật gì mà 982 chưa nhận định được. Toàn xuống thang, bước đến đất mới đưa vật đó vào miệng mà nhai ngon lành. 982 vừa nhận ra đó là một miếng cháy lớn bằng bàn tay thì hắn đã ngượng nghịu chìa bàn tay ra xin lúc nào rồi. Hai người không khác chi hai đứa trẻ dụ ăn của nhau. Toàn lắc đầu không trả lời, tiếp tục lạnh lùng nhai miếng cháy. Khi đó 982 đã cạp hết những hạt bắp vàng ửng chắc nịch và tiếp tục nhai lõi bắp, vừa nhai vừa hít nước, hít hết nước nhả bã lõi bắp lả tả vào bàn tay, trải xuống mặt “long sàng”, vun lại thành hàng đều đặn. Toàn đoán:

– Phơi để dành, khi đói quá không chịu nổi sẽ nhai lại nuốt hết.

Loáng cái Toàn cũng nhai hết miếng cơm cháy.

Anh đứng bên chân cầu thang, nói vọng lên, tự coi như mình nhiệm vụ tinh thần với anh em.

– Thôi, anh bạn ngồi nghỉ, tôi về trại đây.

Nhưng 982 lật bật năn nỉ:

– Xin anh làm phúc cho tôi nhờ anh một việc.

Toàn ngập ngừng leo lên thang, 982 đã chắp hai tay lại và nói nhỏ:

– Nhờ anh làm phúc hỏi dùm tôi thằng nhỏ làm ở lò rèn có phải tên Hợi, người Sơn Tây không? Rồi nhắn cho tôi biết. Nếu đúng thằng Hợi, xin anh bảo nó có chú Dũng đang bị “phong vương” đó. Cảm tạ anh trước.

Toàn gật đầu nhận lời, lừng lững quay đi, nghĩ bụng dù Hợi có là người nhà của 982 cũng không giúp gì được hết vì tù phong vương phải ăn gạo sống, uống nước vũng, như thế khó lòng “thọ” được quá tuần lễ! Ngược lại, 982 lại rất hy vọng…và xắp đặt trong đầu một kế hoạch vượt trại giam tuy thấy rằng lúc này có lẽ quá muộn!

Tuy vậy, bắt đầu từ phút đó, nếu rình trộm, giám thị sẽ luôn luôn thấy 982 ngó trừng trừng vào quãng không, vẻ suy nghĩ lung lắm. Mặt hắn ta đanh lại như bằng đá. Sự thật, tuy bề ngoài có vẻ hiền lành chậm chạp nhưng 982 là một người chiến sĩ có thành tích trong hàng ngũ những người trời sinh ra là đã không thể chấp nhận được chủ nghĩa Cộng sản vì bản năng hơn vì lý trí.

Cách đây năm năm, 982 gia nhập một tổ chức chính trị có khuynh hướng quốc gia cực đoan nhưng sau này tổ chức bị nứt rạn trầm trọng, 982 phải lẩn tránh, thay đổi họ tên, sống một cuộc sống che đậy giả tạo chuẩn bị trốn về Tề thì chẳng may bị chính quyền Cộng sản bắt vì một lỗi chỉ có tính cách dân sự, rồi chẳng được xét xử gì hết, bị đưa lên mạn ngược, khổ sai tại các công trường tập thể trước khi bị đưa về Trại giam Đầm Đùn. Tội trạng ghi trong hồ sơ không có yếu tố cấu thành rõ rệt như tội trạng của bao người khác bị bắt hồi bấy giờ, đó là tội lừng chừng, “không triệt để ủng hộ mặt trận Việt Minh” v.v…

982 may mắn dấu được lý lịch thật của mình, cũng nhờ trước đây anh chỉ hoạt động chìm trong tổ chức nên thành tích chính trị của anh không bị tụi công an Việt cộng phát giác. Nếu không, chắc anh đã phải bỏ thây ở Việt Bắc sau khi nhận một nhát dao găm vào ngực hay một ngọn búa vào gáy như hàng trăm, hàng ngàn người khác trong hàng ngũ đối lập với mặt trận.

Vừa ngẫm nghĩ, 982 vừa nhai những tấm lá cuối cùng bọc ngoài trái bắp. Anh nhai kỹ như nhai trầu, càng nhai càng thấy mềm môi nên nuốt luôn cả bã. Dù sao, cũng còn có chất bổ dưỡng hơn nhai vớ vẩn mảnh rẻ rách như mấy người tù mất trí vì quá đói vẫn thường làm.

982 nghĩ lan man từ chuyện này qua chuyện khác, sau cùng cũng quay lại một sự kiện thực tế lúc nào cũng sôi bỏng như lửa đốt. Đó là vấn đề “đói”. Hiển nhiên yếu tố “đói” là một đòn ban Quản-trị sử dụng tới mức để trừng phạt và làm tán loạn tinh thần tù nhân. Điểm đáng sợ là lúc nào, bọn Cộng sản cũng tạo được một không khí khiếp đảm hoang mang trong trại, tù nhân bị đàn áp về tinh thần lại bị chi phối gay gắt về sự sống thực tế trong mỗi giờ, mỗi khắc. Luôn luôn bất kể lúc nào, tù nhân cũng đói, thèm ăn, thèm uống, lại bị kiệt sức như người bịnh nặng nên không thể đủ minh mẫn để suy nghĩ tính toán đến việc gì khác.

982 cau mày lại một cách tức giận. Anh chỉ còn một cách trốn ngay khỏi trại giam, nếu không chỉ trong vòng một tuần lễ anh sẽ lâm bệnh nặng nếu chưa chết, và tới khi đó mọi phương tiện đều trở thành vô dụng, dù có dịp cũng không thực hiện được nữa. 983 tự nhủ:

– Chỉ cần vượt được khoảng 30 cây số xa Đầm Đùn là hy vọng thoát…

Đi bộ 30 cây số đối với tù nhân của trại giam Cộng sản là việc làm tầm thường có thể đi thẳng một hơi không cần nghỉ chặng nào. Một ngày chỉ gánh bốn mươi gánh nước tưới rau, cà cũng phải đi trên 30 cây số. 982 suy tính và cho rằng anh chỉ cần bốn bữa ăn đủ no trước khi lên đường và có một lon gạo rang kỹ làm lương khô, phòng bị kẹt…không tiện xuất đầu lộ diện kiếm bữa, sợ bị phát giác. Thế thôi!

Từ lúc bị lọt trong màng lưới Cộng sản, 982 phải đóng một vai ngớ ngẩn, thật thà, đặc biệt nông dân để giấu lý lịch thực hiện của anh. Vì thế, anh luôn luôn phải lộ vẻ sợ hãi quá mức, có dịp là xung phong tăng năng xuất để tỏ ra đã giác ngộ, cố gắng đái tội lập công. Nhờ tác phong đó nên 982 thoát chết khi có lệnh mật của Tổng Bộ phải “thanh toán” càng nhiều càng tốt số tù nhân bị đưa lên Việt Bắc cho nhẹ bớt phí tổn của nhà nước. Sau đó, 982 được dắt về giam tại Đầm Đùn cùng một số đồng cảnh đã được đãi lọc rất kỹ trên phương diện tác phong và thành phần giai cấp.

Theo tin bên ngoài đưa vào, 982 phải tìm cách bắt liên lạc với một thiếu niên tên Hợi, một phần tử bị tình nghi (vì con một người bạn anh hoạt động trong đảng phái quốc gia) cũng đang bị giam ở trại và lao tác tại ban lò rèn. 982 không biết mặt Hợi, nên trong hoàn cảnh bất đắc dĩ đã đánh liều nhờ Toàn tìm hỏi giùm. Nếu 982 bắt liên lạc được, mưu định có cơ thành tựu…Lúc này ở bên ngoài, chiến tranh Việt-Pháp đã đi đến giai đoạn quyết liệt một mất một còn, mặt trận xảy ra khắp nơi, tàn bạo dữ dội…Biết đâu 982 chỉ vượt khỏi trại vài chục cây số là gặp cuộc hành quân của quân đội quốc gia hay của quân viễn chinh Pháp. 982 sẽ nhào vào giữa cửa tử để tìm sinh lộ. Anh sẽ tìm đến Bộ Chỉ Huy để trình diện và xin xung phong làm hướng đạo dẫn quân đội quốc gia đến đánh phá Đầm Đùn, giải cứu cho các tù nhân đang bị giam giữ và để trả thù…

Ý nghĩ 982 lan man theo óc tưởng tượng. Chưa ra thoát cảnh ngục tù, anh đã nghĩ đến sự trả thù…rửa hận. Nhân lúc này tâm trí bình tĩnh lại, anh cố nhớ đến những kinh nghiệm bản thân, nhớ đến chuyện vượt ngục Cộng sản đã được nghe, hoặc đọc trong sách, báo v.v…rút ưu khuyết điểm mang ra thực hiện trong một ngày gần đây, nếu Trời còn tựa những người quốc gia yêu nước…

982 bàng hoàng nhìn ánh nắng Xuân trên bãi cỏ, trên hàng rào nứa và trên mặt con đường đất nhẵn thín quanh trại. Anh chợt nhớ đến một chuyện viết bằng ngoại ngữ dịch ra tiếng Việt đã đọc vào khoảng 1940 gì đó, trên một tuần báo xuất bản tại Hà Nội. Tuy đã đọc trên mười năm nhưng những sự việc chính ghê sợ, kinh tởm và vô nhân đạo nhất, anh vẫn nhớ. Anh suy ngẫm và thấy Cộng sản dù là Cộng sản Âu, Nga, Tầu hay Việt cũng vẫn là một thứ phi nhân, phi nghĩa, không thể để cho tồn tại trên trái đất nếu loại người còn muốn đứng trên loài ác thú. Đó là câu chuyện vượt trại giam Cộng sản của một đám tù bị đày ở Tây Bá Lợi Á, một câu chuyện có thực 100 phần 100, nhưng hồi đó ít người dám tin là chuyện có thật, kể cả người đã có kinh nghiệm sống chung với Cộng sản.

—>11

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.