Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

11.

«Sau cuộc thanh trừng rộng lớn năm đó, có tới năm ngàn người Nga bị chánh quyền vô sản đem đầy ở Tây Bá Lợi Á, một vùng sa mạc quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Năm ngàn người đó bị giam trong những căn nhà cất giữa sa mạc mênh mông, tuyết rơi liền nhau. Ban ngày họ phải đi lao tác tại các công trường vĩ đại xây cất trong rừng núi, cách trại dăm cây số.

«Chừng 6 tháng sau, tù nhân chỉ còn gần một nửa, đa số đã chết vì công tác khổ sai, bệnh tật và thời tiết.

«Hàng trăm trại nhỏ, mỗi trại ở vào một khu riêng biệt, lạnh lẽo đứng dưới tuyết.

«Trong một trại kia, số tù nhân đông hơn trăm người, sáu tháng sau chỉ còn 50. Tất cả tù nhân đều biết chắc với mức thương vong hàng tháng như thế, chỉ ít lâu nữa họ cũng sẽ theo các bạn đồng cảnh mà vùi thây dưới tuyết, nên bàn nhau liều vượt ngục. Vượt trại giam Cộng sản thì thiên nan vạn nan thật đấy nhưng còn một phần mười hy vọng sống sót, nếu cứ chịu sống trong trại sẽ cầm chắc cái chết gần kề cả mười phần.

«Cùng trong một căn trại đó, có ba tù nhân thân thiết với nhau hơn tình ruột thịt vì phải chung sống trong cảnh tù tội, phần vì cùng thuộc một giai cấp trong xã hội, giai cấp trí thức. Nhưng đúng nhất là vì họ có cùng một lý tưởng chống Cộng sản đệ tam, một người nguyên là kỹ sư, một là nhà văn và người thứ ba là một cựu sĩ quan cao cấp của Hồng quân bị thanh trừng khỏi quân đội và lý do chính trị.

«Sau khi dò xét kỹ càng tinh thần của mấy chục tù nhân cùng trại, ba người thuyết phục họ vượt ngục và được hưởng ứng nhiệt liệt. Địa bàn, bản đồ, khí giới chuẩn bị đầy đủ nhờ có những đường dây liên lạc bí mật giúp đỡ tổ chức ngay trong trại.

«Nửa tháng sau, dịp may tới, trại chỉ còn 43 người.

«Luật lệ của trại nghiêm ngặt như bất cứ luật lệ của một trại giam Cộng sản nào. Tù nhân – tất cả bị án khổ sai chung thân hay hữu hạn – đều bị ban Quản-trị đóng dấu “sống” trên trán để phân biệt họ với thường dân. Một miếng sắt nung đỏ lửa ấn vào trán để đóng dấu như người ta đóng dấu trâu bò. Dân chúng bắt gặp tù nhân mang dấu, bất kỳ ở đâu ngoài trại mà không có giám thị trông coi, có quyền và có bổn phận phải hạ sát, không tội vạ gì hết. Cách xa trại giam ba, bốn chục cây số, mới có nhà của dân chúng, biện pháp này nhằm ngăn chặn những vụ liên lạc với tù, nếu có. Như vậy, khỏi nói cũng thấy rằng tù khổ sai ở Tây Bá Lợi Á hoàn toàn bị cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài và trên thực tế, họ bị án chết mòn trong trại giam.

«Nhằm ngăn chặn tù nhân giấu giếm vật dụng hoặc khí giới đem vào trại để phá hoại hay nổi loạn, mỗi khi tù nhân vào rừng làm củi hay làm việc ở công trường về, giám thị khám xét rất kỹ. Bọn tù phải cởi truồng, dưới một thời tiết lạnh 30, 40 độ dưới độ không, để giám thị xét từng chiếc áo, từng chiếc quần và thân thể rất tỷ mỷ.

«Ấy thế mà tù nhân cũng vẫn mang được dụng cụ vào trại để cưa đứt chấn song sắt vây quanh phòng giam to bằng ngón chân cái.

« Người chịu hy sinh đau đớn về thể xác để giấu dụng cụ phá ngục là viên kỹ sư trong ban lãnh đạo. Không biết phải bao nhiêu lâu và làm thế nào mà anh ta giấu kín được bên trong làn da của bộ phận sinh dục ba lưỡi cưa nhỏ, mỗi lưỡi dài hơn hai đốt ngón tay, do dây thiều của đồng hồ biến chế thành. Ba lưỡi cưa đó do một đồng chí vẫn sống trà trộn trong dân quanh vùng, tìm cách chuyển đến tay viên kỹ sư.

« Với ba lưỡi cưa nhỏ, đêm đêm ba người trong ban lãnh đạo bọn tù nhân vượt ngục, kiên nhẫn cưa một cây chấn song sắt. Công việc mỏi mệt nguy hiểm đó tiến hành liên tiếp trong hai mươi mốt đêm. Mỗi đêm 5 người luân phiên nhau cưa và 5 người canh chừng. Lưỡi cưa đầu tiên gẫy nửa chừng, lưỡi cưa thứ hai mòn gần hết và phải “giũa” nhiều lần bằng dao giũa do một tù nhân mang vào trại từ lâu chưa kịp sử dụng thì chết. Khi dùng mòn lưỡi cưa thứ ba được một phần, chấn song đã bị cắt đứt. Đêm hôm đó, mấy chục người tù mừng rỡ khóc trong đêm tối và chắp tay cảm tạ Thượng Đế đã cứu thoát đời họ. Họ nhất loạt quỳ xuống cầu nguyện và xin Thượng Đế giúp họ thêm nghị lực và sức chịu đựng để họ vượt thoát hơn một ngàn cây số sa mạc tuyết đặng trở về đời sống nhân gian như mọi người.

« Đám tù nhân phải chờ hai hôm nữa mới có dịp bẻ oằn chấn song sắt, chui ra khỏi phòng giam rồi trốn ra ngoài sa mạc.

« Đêm hôm đó, tuyết rơi tới tấp như mưa sa, gió thổi như bão trên sa mạc. Thời tiết có lẽ lạnh tới 60 độ dưới không. Các giám thị và chức việc chúi đầu ngủ trong những căn buồng ấm có củi đốt trong lò sưởi. Củi đó do tù chặt ở rừng về. Những con chó canh trại lớn như con bê, bị đánh bả bằng thuốc độc không biết bọn tù kiếm được bằng cách nào, đã nằm lăn quay từ hồi tối ở ngoài sân, bị tuyết lấp kín không để lại dấu vết.

« Nương bóng tối, bọn tù lặng lẽ trốn ra sa mạc, dắt nhau đi về hướng Tây. Vừa ra khỏi trại, một số tù chợt nhận thức được sự vất vả gian nan, sợ hãi ngập ngừng định thối lui nhưng không được. Để khỏi bị tiết lộ, các đồng cảnh sẽ buộc lòng phải giết họ.

« Người nào cũng giấu được rìu, dao, búa mang theo dùng làm khí giới tự vệ. Nhưng cần nhất là những tấm chăn trắng. Khi có nhân viên của trại hay dân làng đuổi theo, họ sẽ nằm xuống tuyết, trùm chăn lên trên mình. Không tới năm phút, tuyết sẽ phủ kín họ, không sao tìm thấy. Lương khô họ dành dụm trong hai tháng trời nên sẽ kiếm cách đánh bẫy hay săn các thú rừng làm lương thực. Tuy không chắc chắn về kết quả song họ đành phải liều, hy vọng vào sự may mắn.

« Đoàn tù gồm 43 người đi suốt đêm đầu tiên, xa trại càng mau càng đỡ nguy hiểm, nhưng đến gần trưa hôm sau khi vừng Thái Dương ảm đạm chiếu xuống sa mạc tuyết mênh mông, kiểm điểm lại, ban chỉ huy mới thấy mất năm người. Đó là những người yếu đuối không chịu nổi thời tiết và mệt nhọc, đã ngã gục ở dọc đường. Không ai biết mấy người nọ gục xuống lúc nào nhưng dù cho có biết, cũng không ai dám dừng lại để cứu vì sợ mất thì giờ vô ích, vả lại, chính những người đang lết đi cũng mệt mỏi quá sức rồi.

« Bây giờ những hiểm nguy cấp bách lúc đầu đã vượt qua, họ quây quần lại để kiểm điểm tình hình và ấn định kế hoạch “vạn lý trường chinh”. Ban ngày họ sẽ đi luôn từ lúc có mặt trời đến quá trưa, và đêm thì nghỉ ngơi trong rừng có kín gió. Mỗi đêm, họ cắt cử mươi người luân phiên nhau canh gác, võ trang bằng rìu, dao, búa gậy v.v…cho những người khác ngủ, đề phòng những trường hợp bị thú dữ như gấu tuyết, chó sói tấn công. Lương thực là vấn đề khó giải quyết nhất trong mọi vấn đề đặt ra cho đoàn tù nên họ ăn rất dè dặt, càng ít càng tốt, càng có nhiều hy vọng tới đích hơn.

« Đến chiều ngày thứ ba, hầu hết đoàn người vượt ngục đều không giấu được vẻ mệt nhọc chán nản. Hai người già nhứt trong bọn khoảng trên dưới 60 tuổi, tóc đã bạc trắng như tuyết, ngước nhìn trời rồi nhìn sa mạc tuyết mênh mông trắng xóa tứ phía, bất giác chảy nước mắt. Dưới trời lạnh, những giọt nước mắt lăn nửa chừng trên má đã đông lại thành đá. Mọi người thấy thế đều buồn nản lo lắng cho những ngày sắp tới, nhưng không ai dám thở dài thành tiếng.

« Quá trưa hôm sau, theo ý kiến của ban lãnh đạo, đoàn tù vào ẩn náu trong một cánh rừng khá rậm rạp và sau lúc nghỉ ngơi ngắn ngủi, họ chia nhau đi tìm kiếm săn bắn bắt thú rừng làm lương thực. May mắn quá, lần đó họ đập chết một con chồn, hai con thỏ rừng và một con nhím. Họ làm thịt luôn mấy con thú rừng và đốt lửa nướng ăn ít miếng cầm hơi, còn bao nhiêu chia đều để dự trữ ăn dần. Sau đó, họ bàn nhau lưu lại rừng này một ngày nữa để “kiếm thêm lương thực. Họ bắt được một con chồn và một con cu-ly (marmotte) đang ngủ say trong giấc ngủ mùa Đông.

« Đêm đó, trong đám tù, đã có nhiều tiếng ho sù sụ không ngớt. Nhiều người không chịu nổi cái lạnh ngoài trời mắc bệnh sưng phổi rất trầm trọng.

« Trưa hôm sau, khi mặt trời đã lên cao khỏi khu rừng, mọi người lục tục sửa soạn để lên đường. Khi đó, họ mới thấy có bẩy người ngủ luôn thức dậy nữa. Trong số này, có hai ông già lớn tuổi nhất đám ngồi dựa lưng vào nhau mà chết. Còn năm người kia thì có kẻ nằm gục trên tuyết, có kẻ ngồi mà chết rét lúc nào không hay. Khi viên kỹ sư trong ban chỉ huy xô mạnh vào vai để đánh thức, cái xác đổ lăn kềnh, giữ nguyên thế ngồi chết cóng.

« Trước cảnh đó, một tù nhân nguyên là văn sĩ thay mặt ban lãnh đạo, ngỏ lời tiếc thương mấy người ra đi vĩnh viễn, cầu nguyện cho họ tìm thấy yên ổn ở bên kia thế giới. Rồi xin những người chết tha thứ cho họ nếu vì tình thế họ phải lấy quần áo và vật dụng của người chết cấp phát cho những người thiếu thốn trong đoàn. Nghe nói vậy, nhiều người tù thiếu quần áo ấm lật đật nhìn một cách soi mói vào mấy cái xác chết như để ước lượng giá trị thực tiễn của những vật dụng các xác chết mang trên mình.

« Sau đó, họ đào hố để chôn tập thể cả 7 xác sau khi ban chỉ huy đã lột lấy nhiều vật dụng cần thiết. Một người chặt cành làm cây thập tự cắm trên mộ nhưng viên chỉ huy ngăn cản, nói không nên để lại dấu vết có thể phát giác bọn tù đã đi qua nơi đây. Mọi người đều ngậm ngùi đồng ý.

« Hôm sau, một trận bão tuyết nổi lên bất ngờ nên cả đoàn tù không thể lên đường, phải chui hết vào trong một cánh rừng. Để tránh những tai nạn bất ngờ, viên kỹ sư trong ban lãnh đạo hội họp tất cả mọi người thực hiện gấp mấy cái mái bằng cành, lá cây, rồi đốt lửa bên dưới đặng sưởi cho khỏi bị chết cóng.

« Để xua đuổi không khí chán nản, ban lãnh đạo đề nghị mọi người cùng hát bên ngọn lửa bài hát “Niềm hy vọng của đoàn tù vượt ngục” mà nhà văn trong bọn tù đã viết lời ca và một tù nhân khác nguyên là nhạc sĩ, đã phổ nhạc. Hát xong, họ ngồi dựa vào nhau mà ngủ gà ngủ vịt để lấy lại sức và…quên đói.

« Sáng hôm sau, bão tuyết tan cơn, song việc di chuyển còn nhiều khó khăn nên ban lãnh đạo đưa ra ý kiến ở lại ngày nữa săn thêm thú rừng lấy lương thực đi đường.

« May thay hôm đó, bọn tù vây đập chết được một con sói bị thương đi kiếm ăn lẻ loi và một con cáo. Họ làm thịt ngay hai con thú rừng rồi nhúm lửa, nướng thật chín. Lần này, bọn người vượt ngục ý thức đúng tầm quan trọng của lương thực trên sa mạc tuyết nên không bỏ phí một miếng thịt hay cục xương nào cả. Cả bộ lòng của con chó sói, đoàn tù cũng làm rất sạch sẽ rồi nướng ăn hết. Mặc dầu không ai loại bỏ một miếng nào, vì thói quen, có một, hai người vừa nhai vừa nhăn nhó gượng gạo.

« Lần đầu tiên có sự bất đồng ý kiến trong việc chia khẩu phần người được phần lớn, người phần nhỏ nên một tù nhân còn trẻ đề nghị ban chỉ huy sửa đổi lại cách thức chia lương thực cho công bằng.

« Sau khi hội ý, thể thức sau đây được áp dụng: mỗi con vật được chia làm 31 phần đều nhau, đánh số từ 1 đến 31. Rồi rút thăm, ai được số nào nhận phần mang số ấy.

« Viên kỹ sư lên tiếng nhắc nhở mọi người nên ăn thật dè dặt, phòng khi lương thực cạn mà chẳng may chưa hạ được con thú nào.

« Sáng hôm sau, khi ai nấy đang chuẩn bị hành lý để lên đường thì có tiếng la bải hãi làm mọi người hoảng hốt. Thì ra một người tù đã bị đánh cắp phần thịt sấy mà hồi hôm, trước khi đi ngủ, anh ta đã cất kỹ trong bọc. Nay phần lương thực đã bị đánh cắp mất, làm sao anh ta có sức đi nổi. Người bị mất trộm giở tung quần áo, hành lý trước mặt mọi người để “phân bua” rồi lạnh lùng xếp gọn lại bỏ vào bọc, nhìn mọi người như dò xét thủ phạm rồi yêu cầu ban chỉ huy giải quyết.

« Ba người trong ban chỉ huy bèn đứng riêng ra một chỗ thảo luận với nhau rồi viên kỹ sư tập họp mọi người lại. Trước tiên, ông ta ngỏ ý lấy làm tiếc rằng một việc như thế đã xảy ra trong đoàn. Nếu đó là một vụ “đùa nghịch” thì sự đùa nghịch đó nên chấm dứt để khỏi làm thiệt hại đến quyền sở hữu của người khác. Vả lại, đoàn tù vượt ngục tuy nhiều người nhưng chỉ là một, vì cùng một ý chí, một quyết tâm đi tìm tự do, không sợ chết, không sợ nguy hiểm. Như vậy, nếu phải nhịn đói thì cùng nhịn đói như mọi người chớ nhất định không chịu chiếm phần ăn của người khác đồng cảnh ngộ gian khổ như mình.

« Viên kỹ sư ngừng lại giây lát rồi tuyên bố:

– Để chia sẻ sự thiệt thòi với một đoàn viên, ban chỉ huy sẵn sàng chia sớt bớt phần lương thực của ba người trong ban để đền bù phần nào cho người anh em, nạn nhân của một hành động không đẹp.

« Nhiều tiếng vỗ tay hoan nghênh nổi lên. Bốn người khác tuyên bố theo gương ban chỉ huy rồi mở bọc lấy gói thịt ra thì bất ngờ, người nọ lên tiếng cám ơn, từ chối sự giúp đỡ và nói:

– Tôi tự xét không đủ sức theo anh em nên tôi biết trước sau gì tôi cũng không thực hiện được ý định tìm tự do mà tôi hằng ôm ấp. Hơn thế nữa, xét mình không giúp ích gì mà còn là một gánh nặng cho anh em, tôi xin rút lui khỏi đoàn và xin chúc anh em gặp mọi sự may mắn hơn tôi…

« Nhiều tiếng xì xào nổi lên…Viên kỹ sư nghiêm nét mặt rồi lạnh lùng hỏi:

– Đi theo đoàn là tùy tâm, không bắt buộc, nhưng bạn ở lại, bạn có biết những hình phạt bạo quyền sẽ giành cho bạn không?

– Biết…Tử hình…!

– Vậy mà bạn đành chịu lãnh án tử hình?

– Khi cùng đường, tôi sẽ có cách tự xử. Tôi tự kết liễu cuộc đời…

« Nhiều người nhìn nhau thở dài như chợt nghĩ đến thân phận mình. Người kia nói xong, ngồi xếp trên bọc hành lý, cúi gầm xuống nhìn đôi giầy dính đầy tuyết. Ba người trong ban chỉ huy thảo luận thầm thì với nhau một lát rồi nhà văn đút hai ngón tay vào miệng. Một tiếng còi ré lên tan liền trong bầu không khí lạnh và vô cùng tận của sa mạc. Lệnh lên đường đã ban hành.

« Mọi người lục tục bước theo hàng, mỗi người cầm một cây gậy để chống trên tuyết. Sau cơn bão, trời quang đãng trở lại. Được một quãng, người hướng dẫn ra lệnh ngừng. Khi đó, mọi người mới biết là viên kỹ sư và viên sĩ quan cao cấp còn ở lại thảo luận với người “bỏ cuộc” hồi nãy, chưa theo kịp đoàn.

« Lát sau, hai người trong ban chỉ huy đuổi kịp cả bọn. Mọi người thấy sắc mặt của hai người nọ bừng bừng sát khí nên không đoán được việc gì đã xảy ra. Đến khi thấy vết máu trên lưng áo của viên sĩ quan, họ mới xì xào bàn tán với nhau, nhưng vẫn chưa dám tin là “chuyện đó” có thực.

o O o

« Nhưng “chuyện đó” có thực một trăm phần trăm. Viên sĩ quan và viên kỹ sư đã phải hạ sát người bỏ cuộc, vì sợ hành tung của đoàn tù vượt ngục bị bại lộ vì người này.

« Sau vụ thủ tiêu bất đắc dĩ của một đồng chí bỏ cuộc, viên sĩ quan và viên kỹ sư đã rửa sạch các vết máu nhưng không chùi hết một vết máu thấm trên lưng áo. Hậu quả của sự sơ xuất này thật là trầm trọng.

« Chiều hôm đó, đến một cánh rừng nhỏ, đoàn tù dừng lại nghỉ ngơi, tìm chỗ trú ẩn. Viên kỹ sư chợt nhận thấy có một bọn chừng 10 người ngồi riêng ra một chỗ và đang xầm xì bàn tán với nhau. Viên kỹ sư lảng vảng lại gần thì họ ngưng bàn tán, rồi bắt sang nói chuyện khác. Thái độ của bọn này từ lúc đó có vẻ bí mật, không tự nhiên nên viên kỹ sư phải ngầm báo động ngay cho hai người bạn đặng đề phòng. Đêm hôm đó, ba người trong ban chỉ huy luân phiên nhau canh chừng, luôn luôn thủ khí giới trong tay.

« Qua đêm đến sáng, chẳng có chuyện gì xẩy ra hết. Mọi người sửa soạn lên đường, và nhận ra có sự thay đổi về nhân số của đoàn. Kiểm soát lại, thấy thiếu mất mười người. Đúng là bọn người có thái độ bất mãn, nghi hoặc chiều hôm trước. Khi đó viên cựu sĩ quan mới sực nhớ lại rằng vào hồi gần sáng dường như ông ta có nghe những tiếng động do nhiều người bước trên mặt tuyết gây ra, nhưng ông ta tưởng lầm là gió thổi làm tuyết trên cây rớt xuống đất.

« Ban chỉ huy tập họp mọi người, báo cáo sự việc đáng tiếc rồi nói thêm:

– Chúng ta chỉ cần những người can đảm, chịu đựng gian khổ và tin tưởng mãnh liệt rằng chúng ta phải tới đích. Cứ đi theo cái mức bình thường, chỉ phải cố gắng trong một tháng rưỡi đến hai tháng là nhiều, sẽ tới thị trấn đầu tiên có thể giúp ta phương tiện muốn đi đâu tùy ý. Nghĩa là khi đó, ta đã đến bến Tự Do để tìm cuộc sống thích hợp với mỗi người…

« Một ông lão lạnh lùng hỏi:

– Chúng ta đã đi được bao nhiêu đường đất rồi?

« Viên kỹ sư lẩm nhẩm tính rồi đáp:

– Trên dưới 100 cây số…Mới vượt được khoảng một phần mười con đường phải đi.

« Nhưng cũng bắt đầu từ buổi sáng hôm đó, một làn không khí chán nản, phảng phất nghi kỵ bao bọc đoàn người vạn lý trường chinh. Họ ít nói chuyện với nhau, lầm lầm lỳ lỳ, người nào cũng lộ vẻ suy nghĩ bí hiểm. Sự bất đồng ý kiến manh nha từ bữa chia khẩu phần thịt chó sói sấy lại phát hiện trong một vài sự việc khác như canh gác ban đêm hay đi săn. Đoàn tù chỉ còn 21 người, nghĩa là còn một nửa.

« Chiều hôm đó, trước khi ăn để cầm hơi, họ căng mấy tấm chăn che tuyết rồi cầu kinh khá lâu. Sự tin tưởng ở Đấng Tối Cao chí công chí chính hiển nhiên đã mang lại cho mấy người trong bọn sự bình tâm và sự hăng hái. Đã có người mỉm cười buổi sáng khi thức dậy.

« Nhưng việc phải đến đã đến. Đến ngày thứ 25 trong cuộc trường chinh, chỉ còn lại một nhóm 4 người, sau khi chịu nhiều sự tang thương biến đổi. Một số đoàn viên quá nản chí trước những gian nan nguy hiểm do vấn đề lương thực gây ra vì yếu tố may rủi là yếu tố chính hoàn toàn chi phối sự sống của họ, một số khác quá kiệt sức buộc lòng bỏ cuộc, đành ngồi lại trong rừng rưng rưng nước mắt nhìn theo các đồng chí lên đường, xa dần, nhỏ dần trên sa mạc tuyết. Lại có người không chống chỏi nổi với bệnh hoạn, buổi tối còn lẩm nhẩm cầu kinh rồi sáng hôm sau không đứng dậy nữa, chẳng một lời từ biệt…

« Tối hôm trước, khi bọn tù vào ẩn trong rừng, chỉ còn vỏn vẹn ba người trong ban chỉ huy với một ông già trên 50 tuổi và một thanh niên đúng hai mươi. Nhưng sáng hôm sau, ông già đã lên đường sớm hơn mọi người để tìm Tự Do ở một thế giới khác, chỉ có trong niềm tin của những người có đạo. Ông già vẫn ngồi trên bọc hành lý nhỏ, lưng dựa vào một chỗ lõm của thân cây nhưng độ lạnh của tuyết đã khiến cơ thể ông cứng nhắc liền sau khi mạch đập vừa ngừng.

« Mặc dầu vậy, 4 người còn lại vẫn phải lên đường. Ban chỉ huy đã tự ý giải tán vì hết đoàn viên! Viên kỹ sư nhờ có nhiều khả năng đặc biệt, sức mạnh tinh thần và thể chất ít có nên vẫn được 2 người tín nghiệm và yêu cầu dẫn dắt họ. Liệu viên kỹ sư còn dẫn dắt họ được bao lâu nữa?

« Bốn người đã phải nhịn đói gần một ngày vì cạn lương. Mãi đến chiều hôm qua mới bẫy được con chồn nhỏ xíu không đủ bốn bữa ăn trong 48 tiếng đồng hồ cho 4 người. Thanh niên nọ đang sức ăn, lại bị đói suốt ngày nên không ăn dè được mặc dầu đã có lời khuyến cáo của nhà văn. Chỉ từ sáng đến tối, khẩu phần dành cho hai ngày đã chui hết vào bụng thanh niên một cách thòm thèm.

« Tình hình lương thực như vậy, nên hôm nay, mới quá trưa một lát, cả bọn phải vào một cánh rừng tìm thú. Viên kỹ sư vẫn có một chiếc rìu, viên sĩ quan một con dao rừng, nhà văn đeo một con dao găm to bản, thanh niên nọ thì lúc vượt trại giam đã kiếm đâu được một sợi dây kẽm gai dài mà cậu ta chấp lại làm bốn thành một võ khí trông khá dữ dội, cầm lắt lẻo trong tay. Từ ít ngày nay, không người nào để tay không mà luôn luôn cầm võ khí. Họ rất ít nói và lộ vẻ đăm chiêu. Họ nghĩ gì? Và họ đề phòng sự gì?

« Cho tới sẫm tối bữa đó, không săn được con mồi nào hết. Cả bốn người đều phải nhịn đói tìm chỗ trú ẩn dưới hốc cây mà ngủ cho qua đêm. Sự thật thì ba người kia – trừ anh thanh niên- đều còn một ít lương thực nhưng họ phải để dành cho ngày hôm sau.

« Bốn người ngồi dựa lưng vào nhau cho bớt lạnh. Nhưng nào họ có ngủ được! Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh! Quá nửa đêm, ba người kia mới chớp mắt được một lúc lại giật mình thức dậy vì thanh niên nọ cứ lục đục ngọ nguậy hoài, làm sô lệch mấy bọc hành lý lót bên dưới chỗ họ ngồi ngủ.

« Vừa sáng, viên sĩ quan giật mình tỉnh dậy trước tiên vì thấy như có vật gì luồn dưới bọc hành lý. Ông ta đứng nhổm lên, bắt quả tang thanh niên nọ đang luồn tay vào trong bọc hành lý của ông ta lấy trộm miếng thịt sấy. Ông ta thét lên một tiếng dọa nạt thì thanh niên nọ bất ngờ xô nhà văn ngã lăn cù ra xa, để cướp miếng thịt sấy bằng bàn tay mà hắn đã moi ra ngoài bọc được quá nửa. Thanh niên nọ dữ tợn như con thú điên. Trong lúc thảng thốt, có lẽ tưởng rằng chính mình bị cướp đoạt, sẵn con dao rừng vừa tầm tay, viên kỹ sư vung lên rồi bổ lại xuống một nhát. Đầu thanh niên hứng chịu cả sức mạnh của lưỡi dao, chỉ nghe “phập” một tiếng rồi thanh niên nọ loạng choạng ngã vật xuống đống tuyết, cây roi bằng kẽm gai chập lại chưa kịp sử dụng từ tay hắn văng ra xa.

« Sự việc xẩy ra bất ngờ. Ba người kia đứng lặng nhìn xác của người bạn trẻ, không nói một lời. Sau cùng, một người nuốt nước miếng, lên tiếng trước tiên:

– Hắn có lỗi vì xâm phạm vật sở hữu của người khác. Dù sao, việc này cũng rất đáng tiếc…

« Viên kỹ sư nói rồi nhìn hai người bạn dò xét phản ứng. Hai người này mặt tái nhợt như xác chết, vẫn không nói một tiếng…Nhà văn quay đi nhìn nơi khác, thở dài suy nghĩ.

« Ba người xách hành lý ra cách xa đó mươi bước chân rồi lấy lương thực ra ăn, mặc dầu là khẩu phần cuối cùng. Họ đói quá, không nhịn lâu hơn được nữa. Khi ăn, mỗi người nhìn đi một phía như sượng sùng không muốn trông mặt nhau. Dù sao, lương tâm của họ cũng không thể yên ổn được. Người thanh niên kia là một đồng chí, đã chia sẻ những phút nguy hiểm từ đầu đến cuối và đã quyết theo họ đến cùng để tìm Tự Do.

« Vậy mà nay chính thanh niên đó lại bị chết trong tay một đồng chí!

« Ăn xong, theo ý kiến của viên kỹ sư, ba người lại đi sâu vào rừng để săn thú lấy lương thực. Cho đến quá trưa không gặp một con thú nào hết, ba người đành phải quay lại gốc cây nơi giấu hành lý. Cách mấy mươi bước chân là xác của người chết, tuyết phủ gần kín. Ba người lầm lầm lì lì, bụng đói, tâm hồn nặng chĩu lo âu bực dọc. Những ngày sắp tới ăn bằng gì đây? Rừng mỗi ngày một thấy xác xơ hơn, không loài cầm thú nào sinh sống nổi. Mà muốn sống để đi đến đích phải có gì bỏ vào bụng mỗi ngày, không thể thiếu được.

« Đêm hôm đó, cả ba bóp bụng trống rỗng leo lên cây ngủ.

« Viên cựu sĩ quan là người háu đói nhất, đã dậy từ lúc nào không ai biết. Khi hai người kia thức giấc, thấy ông ta đứng nhìn xác thanh niên với một vẻ mặt khó tả, vừa sợ hãi vừa hung tợn. Nhà văn liếc nhìn viên kỹ sư có ý ngầm hỏi, ông này nhún vai một cách lờ mờ khó hiểu.

« Hình như xác thanh niên nọ có mang một cái gì hấp dẫn lắm nên viên cựu sĩ quan để hết tâm trí vào đó, không biết ở phía này, hai đồng chí đang theo dõi nhất cử nhất động của ông ta. Lát sau, lại thấy ông ta lúi húi cúi xuống, tháo chiếc giày của xác chết ra, rồi cầm dao chặt mạnh xuống vật gì trên mình xác chết.

– Này, anh bạn! Làm cái gì vậy?

« Lúc đó, một cẳng chân của xác chết đã bị chặt đứt băng khỏi thân thể. Chà! Cái bắp chân núc ních những thịt, trông bắt thèm. Viên cựu sĩ quan đăm đăm nhìn như đang ước lượng sức nặng của miếng thịt tươi tốt, trắng như thịt heo mới cạo sạch sẽ. Nghe hỏi bất ngờ, ông ta giật mình, cười ngượng:

– Liệng bỏ ở đây, thú rừng cũng sẽ ăn hết. Chi bằng mang đi theo một cẳng làm…kỷ niệm!

« Viên kỹ sư bỗng bật cười lên khanh khách như người điên, nghe mà bắt rùng mình. Ông ta mân mê cái rìu trong tay rồi hỏi với một giọng gần như khiêu khích:

– Vậy chớ tôi cũng mang một khúc làm…”kỷ niệm” được không?

– Được chớ! Cả ba chúng ta đều có phần tình cảm bằng nhau đối với “hắn”, nên có quyền được mang theo những kỷ niệm “nặng” bằng nhau về “hắn”.

o O o

« …Kể từ ngày vượt ngục, đây là lần đầu tiên họ có điều kiện ăn no đủ nhất. Nhưng vì một lẽ dễ hiểu, họ nhai một cách gượng gạo và nuốt rất khó khăn những miếng thịt người sấy kỹ, nghẹn ngào như bị một bàn tay vô hình chặn lấy họng, không cho nuốt.

« Rồi ba người lại thu xếp lên đường một cách vội vã như sợ trông thấy những hình ảnh nhắc nhở họ sự việc ghê tởm đã xảy ra.

« Số lương thực mang theo khá nhiều, đầy đủ cho một thời gian hai mươi ngày là ít. Ngoài ra, mỗi người lại còn một bọc hành lý và khí giới, tất cả đều khá nặng nề trong cuộc trường chinh nên họ không đeo trên lưng mà kéo lê hành lý trên mặt tuyết. Ba người bèn làm một cái khung bằng cây, giống như khung của chiếc xe “kéo trên tuyết” (Traineau), xếp hết mọi thứ lên trên ngoài khí giới rồi dùng một sợi dây dài buộc vào kéo theo. Như thế gọn hơn lại đỡ mệt sức.

« Từ cái buổi sáng ghê sợ đó, thái độ và tính nết của ba người thay đổi hẳn…Ít nói, chỉ nói khi thiệt cần. Viên kỹ sư từ sáng đến chiều luôn luôn trầm ngâm, viên cựu sĩ quan càng lầm lì hơn trước và thỉnh thoảng phải nhìn trộm hai người kia. Còn nhà văn nét mặt u tối, đăm chiêu, nhưng khi nghỉ ngơi cố ý ngồi cách xa hai người bạn, lấy bút hí hoáy ghi vào cuốn sổ tay rồi cất trên túi áo ngực. Hai người kia nhiều lúc tò mò muốn biết nhà văn ghi những gì, song không hỏi.

« Có lương thực đầy đủ nên họ có sức chịu đựng, đi đều đặn hơn trước từ trưa cho đến xế chiều, mới kiếm chỗ nghỉ ngơi. Sự mệt nhọc giảm rất nhiều.

« Chiều đó, như thường lệ, họ vào trú ẩn trong một khoảng rừng, đốt lửa nướng lại phần thịt mang theo. Trong lúc quân quần bên ngọn lửa, nhà văn lạnh lùng cất tiếng hỏi viên kỹ sư:

– Còn chừng bao nhiêu lần nữa thì…hy vọng tới?

– Nếu tính không lầm và nếu ta không đi sai đường, khoảng hơn một tháng nữa!

« Rồi viên kỹ sư rút trong túi ra một bản đồ vẽ tay. Y chỉ chỉ, vạch vạch trên bản đồ, tính cộng lại những quãng đường đã qua, thời gian đi mỗi ngày, ngày nào có người chết, có người trốn, nhất nhất viên kỹ sư đều ghi rõ.

« Ăn xong, trong khi hai người kia đang kiếm chỗ ngủ, nhà văn lững thững đi ra xa một quãng để thỏa mãn một nhu cầu về tiêu hóa.

« Ít phút sau, bỗng có tiếng la hét rùng rợn từ phía sau một gốc cây lớn đưa lại, hai người bạn lật đật xách khí giới chạy tới tuy chưa hiểu chuyện gì. Đến nơi, họ thấy nhà văn đang bị một con chó sói tấn công rất hiểm nghèo.

« Nguyên con chó sói lạc loài này đi theo rình ba người tù đã hai tiếng đồng hồ mà họ vô tình không biết. Không dám tấn công vì thấy lực lượng của người mạnh hơn, nó đành lẽo đẽo theo, chờ cơ hội. Lúc ba người ngồi ăn, chó sói nấp sau một gốc cây, thèm chẩy rãi. Chẳng may, nhà văn lại tự dẫn thân đến miệng nó. Khi vừa nhận ra có mùi khác lạ của thú vật, ông ta chưa kịp đứng lên, chó sói đã phi tới như tên bắn, chồm lên cắn vào cổ và đè dí xuống. Ngã ngửa trên tuyết, vừa la được mấy tiếng kêu cứu, nhà văn đã bị chó sói táp một miếng vào cổ họng rồi tha đi một quãng. Viên kỹ sư lật đật xách rìu đuổi theo, phang mạnh một đòn trúng giữ sống lưng chó sói, nó mới chịu nhả mồi, khập khiễng bỏ chạy.

« Đêm hôm đó, nhà văn nóng mê man, cổ họng bị rách toác, không trả lời được những câu hỏi của hai người bạn, chỉ ra hiệu một cách khó nhọc. Bị thương vào chỗ phạm, máu ra nhiều, phần khác, vì thời tiết quá lạnh, sự đau đớn tăng thêm nên nhà văn kiệt sức rồi lịm chết trước khi trời sáng rõ. Trước đó, hai người bạn đốt lửa sưởi cho người bị thương và đề phòng chó sói quay trở lại tấn công, họ đành leo lên cây ngủ. Đến sáng, họ mới dám leo xuống, người bịnh đã chết từ lúc nào. Cũng may! Con chó sói bị thương không quay lại.

« Lương thực của người chết được lấy ra chia đều làm hai phần. Nhờ thế, số lương thực dự trữ của hai người còn sống lại tăng thêm nên hai người cho là tạm đủ đến khi săn được thú rừng. Vả lại, nếu đem thêm lương thực nữa thì nặng quá, đi mau không nổi.

« Thật ra, chỉ vì lúc này hai người không bị cái đói thắt ruột thắt gan dầy vò nên cả hai đều không đủ can đảm chặt lấy hai bắp đùi và hai cánh tay mang theo. Nhờ đó, người bạn chết được vùi sâu dưới tuyết, đầy đủ cả thân hình.

o O o

« Tính đến hôm nay, hai người tù còn lại đã vượt sa mạc tuyết được thêm 25 ngày. Sự vất vả mỗi ngày một nhiều, đã có lúc tưởng bỏ thây ngoài sa mạc vì gặp bão tuyết. Nhiều lần, lại thấy cả vết chân hàng đàn chó sói.

« Ban đêm, họ đều ngủ trên cây nhưng mỗi người một nơi. Và cẩn thận hơn, họ đem theo luôn cả bọc hành lý, lương thực cất kỹ càng ngay kế bên họ cùng khí giới. Viên kỹ sư không lúc nào rời chiếc rìu. Còn viên cựu sĩ quan vẫn có con dao rừng to bản cán dài. Lúc sau này, một người chiếm con dao găm nhà văn đã bỏ lại, còn người kia chiếm luôn cây roi bằng dây kẽm gai của thanh niên bị hạ sát.

« Cả hai đều đề phòng cẩn thận hơn trước nhiều, làm như kẻ thù lúc nào cũng lẩn quẩn trước mặt! Thật là kỳ cục vì không hề có hình bóng một người thứ ba.

« Thì ra, hoàn cảnh bất ngờ đã đưa hai người đến một tình trạng thê thảm lạ lùng.

« Hai người tù khổ sai kia, đồng một chí hướng, không thể sống dưới một chế độ tàn bạo nên liên kết lại để có thêm sức mạnh đặng vượt ngục. Giờ đây, họ có thêm một kẻ thù tàn bạo ghê gớm không kém mà hàng ngày, hàng giờ họ phải chống cự rất gay go.

« Đó là Thần đói.

« Cái đói làm thay đổi nhãn quan của con người, làm thay đổi luôn lòng dạ và quan niệm về sự sống còn và cái chết.

« Do đó, hai người sống sót cuối cùng của đoàn người vượt ngục bắt đầu đề phòng nhau vì họ bắt đầu kính sợ, ghê tởm nhau. Hai bên sức lực gần tương đương nên cuộc tranh sống sẽ rất gay go gian khổ.

« Đã hơn mười ngày, họ không đánh bẫy được con mồi nào để bù đắp số lượng lương thực hao hụt lần mòn. Những ngày họ sống trên sa mạc tùy thuộc vào số lương thực dự trữ. Nói một cách khác, ăn hết đến đâu đời sống của họ thu ngắn lại đến đấy. Hai người cũng biết như thế nên cùng bị một nỗi ám ảnh. Tuy vậy, họ cứ không thể rời bỏ nhau mà vẫn phải đi cùng một đường nhưng cách xa nhau vừa đủ để người nọ không thể tấn công bất ngờ mà người kia không kịp đối phó.

« Cái xe kéo trên tuyết đã liệng vào một xó rừng. Lúc này, người nào vác hành lý của người nấy, riêng biệt. Viên kỹ sư vẫn là người dẫn đường vì có địa bàn, viên cựu sĩ quan vẫn lẽo đẽo theo nhưng đi ngang hàng, bên tay mặt hoặc tay trái. Như thế, lúc nào hai người cũng vẫn “thấy” nhau mà không cần nhìn.

« Cả hai cùng có một nhận định đáng sợ: Người nào chịu đựng được lâu hơn dù chỉ một tiếng đồng hồ, là người ấy sống. Muốn thế, cần phải ăn ít hơn mỗi bữa một vài miếng, chịu đói gan hơn và nhất là ít và tỉnh ngủ hơn. Khi ngủ say, làm sao đỡ hoặc tránh được một nhát búa hay một nhát dao vào đầu.

« Rồi thì lương thực cũng hết mà đã hai ngày ròng đã không gặp một con thú rừng nào. Viên cựu sĩ quan có tật háu đói, đã có lúc phải vặt mấy cái lá cây rừng nhai. Hoặc giả lão ta đã bắt đầu mất trí? Lão đói quá, đói không chịu nổi, đói từ sáng đến chiều và từ chiều đến sáng, liên miên bất tận. Có lúc lão ta toát mồ hôi đẫm lưng trong khi tuyết rơi lả tả chung quanh. Cả hai người bạn cùng lấy vẻ thành thực nói cho nhau biết đã cạn hết lương thực dự trữ rồi và đành chịu chết đói. Nhưng trong thâm tâm, người nào cũng tha thiết mong mỏi người cùng thề nguyền sống chết với mình ngã gục xuống trước mình dăm, mười phút là đủ. Đủ cho mình sống thêm một thời gian khá dài nữa.

« Cả hai cầm khí giới trong tay, sẵn sàng tấn công và sẵn sàng tự vệ. Viên cựu sĩ quan nhìn viên kỹ sư một cách căm thù hiển nhiên vì hắn biết người kia nói dối, còn hai miếng thịt bằng bàn tay giấu trong mình mà nói là hết, chờ đến tối mới kín đáo lấy ra ăn một mình. Sáng hôm sau hắn năn nỉ mãi, bạn hắn mới liệng cho một miếng bằng ngón tay trỏ và ngón tay giữa chập lại. Rồi nhất định không cho nữa, mặt hầm hầm, tay lăm lăm cán rìu. Viên sĩ quan ước lượng sức khỏe của địch thủ ngang tay với mình, lại còn nhanh nhẹn hơn nên tính hạ thủ hắn bằng sức mạnh, ắt không xong. Phải tìm thế đánh bất ngờ mới mong có kết quả.

« Viên kỹ sư lặng lẽ đi, bước hơi mau hơn lúc thường khiến viên cựu sĩ quan phải cố gắng mới đuổi kịp. Y thấy mồ hôi khi không lại toát ra đẫm mình rồi ruột gan thắt lại vì đói, cẳng chân rời rã không muốn nhấc nữa. Song y vẫn phải bám sát, không thể bỏ người bạn đồng hành, chẳng khác chi con chó đói đuổi theo miếng mồi. Lúc đói, người ta không còn bạn, chỉ có địch thủ giành ăn để sống.

« Viên cựu sĩ quan thầm nhủ: Phải hết sức tỉnh táo mới được! Giây phút này là giây phút của định mệnh. Tâm trí mình bàng hoàng, tay chân mình lẩy bẩy là…không xong rồi.

« Hắn rảo bước và hướng chênh chếch về phía viên kỹ sư với mục đích sát lại gần đối thủ mà không muốn cho đối thủ nhận thấy dụng ý của hắn. Đằng kia, viên kỹ sư vẫn lầm lũi bước, nửa mình trên ngả về trước, nhìn thẳng, cây rìu cầm chắc bên tay trái. Viên cựu sĩ quan lại nghĩ thầm:

– Thắng cha này thuận tay trái. Vậy phải nhớ: Ta từ phía trái tiến lên.

« Rồi đặt một kế hoạch tấn công chớp nhoáng. Thời gian này đây, chỉ còn mỗi “cách đó” để tự cứu.

« Trong khi ấy, viên kỹ sư vẫn lầm lũi bước như không hay gì hết.

« Hai người chỉ còn cách nhau mươi bước chân thì vừa vặn tới hàng cây đầu tiên của một khu rừng thưa. Vẻ mệt nhọc, viên kỹ sư đặt bọc hành lý dưới gốc rồi ngồi lên trên, chống cây rìu xuống tuyết, ngẩn nhìn người bạn cùng đường.

– Lại mất một dịp thuận tiện rồi!

« Viên cựu sĩ quan nghĩ thầm như vậy một cách tức tối rồi cũng đặt hành lý bên gốc cây. Nhưng lão ta không ngồi mà đứng, tính toán mưu kế và ước lượng địa thế. Hai người cách nhau khoảng sáu thước, nghĩa là chỉ ba bước nhẩy là tới bên, vừa tầm tay.

« Bỗng viên kỹ sư thò tay vào trong ngực móc ra một khúc thịt bọc bên ngoài một ống xương chân. A! Lần này hắn không cần giữ gìn che dấu nữa mà ăn ngay trước mặt địch thủ. Hiển nhiên là một sự thách thức, hắn đưa thịt vào miệng cắn một miếng nhai ngon lành, mắt long lanh một vẻ thỏa mãn. Vừa ăn hắn vừa nhìn nơi khác để khỏi trông thấy người kia đang nhăn nhó chìa tay ra xin như một kẻ hành khất sắp chết đói. Hai con mắt viên cựu sĩ quan vẫn đăm đăm nhìn, lóe ra những tia sáng thèm giết người. Rồi miệng hắn nhếch thành một nụ cười, rãi rớt chảy lòng thòng như rãi chó sói.

« Trong khi đó, viên kỹ sư lạnh lùng nhai nhồm nhoàm, mắt lấm lét liếc ngang liếc dọc, nhưng vì say mê với miếng ăn, không biết rằng kẻ địch đang nhích lại gần, chỉ còn một bước là nhẩy tới…Đúng lúc đó, xẩy ra một sự việc bất ngờ. Khi dằng cho đứt một miếng đã ngậm một nửa trong miệng, viên kỹ sư dùng quá sức nên tuột tay, cả một khúc xương còn dính thịt văng xuống mặt tuyết, khoảng giữa 2 kẻ thù. Nhanh như cắt, viên cựu sĩ quan lăn xả tới, ngả người trên tuyết chụp lấy khúc xương đưa ngay vào miệng. Giữa khi đó, nhanh hơn cắt, một đường búa đã vung lên tựa ánh chớp đập trúng gáy người nằm trên tuyết, khiến khúc xương văng ra xa. Người bị thương mất trí liền sau khi trúng đòn, cố nhỏm lên mà không nổi, còn ngơ ngác ngước nhìn kẻ đã giết được mình thì một đường búa thứ hai lại đập trúng giữa sọ hắn. Sau nhát này, hắn nằm thẳng cẳng không cục cựa, máu tuôn xối xả.

« Liền sau đó, giữa sa mạc mênh mông, những tiếng cười – hay những tiếng khóc thì đúng hơn – nổi lên, man rợ và đau đớn, vừa hùng tráng tàn bạo lại vừa thảm thiết thê lương. Chó sói nghe thấy cũng phải rùng mình khiếp hãi mà chạy trốn.

« …Bóng tối buông xuống dần trên sa mạc tuyết lạnh lẽo, phủ lên một cái xác chỉ còn khúc giữa. Đằng xa, một bóng người nặng nề mỏi mệt lẻ bước vào trong rừng…

o O o

« Bốn tháng sau đó, một buổi chiều, tại một tiệm rượu đường X…ở Thủ Đô Varsovie (Ba Lan), một người đàn ông hốc hác kể xong câu chuyện cho mấy bạn nghe, run rẩy đưa tay lên vuốt mồ hôi trên trán, trên mặt, nốc một hơi cạn ly rượu, rồi quay về phía quầy rượu, quát lớn.

– Ê bồi! Rót cho tao ly rượu nữa đấy! Một ly cối nghe. Tao phải uống để quên hết chuyện cũ…

« Đó là một nhân vật độc nhất còn sót lại trong số 43 người tù khổ sai vượt ngục Tây Bá Lợi Á kể trên.

« Nhưng 3 tháng sau, y phát điên thật sự, phải nhốt vào “Trung Tâm Những Người Mất Trí”. Luôn luôn lúc cười lúc khóc, y chối bai bải – dường như với người vô hình đứng trước mặt- rằng y không hề ăn thịt mấy người bạn “cùng vượt ngục”.

—>12

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.