Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

13.

Trời sắp về chiều, một cơn mưa dăng dăng phủ kín cả vùng núi rừng quanh Trại giam Đầm Đùn. Đám tù làm củi ở rừng về, lếch thếch gánh củi trên vai, ướt lướt thướt như đàn gà gặp mưa, thấy thật thảm hại. Dưới cơn rét, tù nhân càng gầy guộc xác xơ, có người tóp lại, trông chỉ còn một nửa.

Một cơn gió thổi tạt ngang lều phong vương, bốn phía không có vách nên nước mưa đổ hắt vào sàn lều ướt như ngoài sân. Tù 982 vướng cùm ở chân, lê đít vào mé sàn cuối gió tránh mưa, không khác chi người què ngồi lê để di chuyển. Anh ta tháo ống tre đựng nước chìa ra dưới giọt gianh, hứng đầy nước. Dù sao, nước mưa mái rạ cũng lành hơn mương vũng. Anh ta cố uống thêm mấy hớp nước mưa nữa, hứng đầy ống tre trở lại rồi treo lên cây đanh bằng tre đóng trên cột, cho khỏi đổ. Tiếc của trời, 982 xòe hai bàn tay hứng nước rửa mặt, rửa cổ, rửa nách rồi thò hai bàn chân ra cho giọt gianh chẩy và rửa sạch đất.

Sáng hôm nay, bất ngờ giám thị xuất hiện tại lều phong vương như một bóng ma. Lúc đó, chưa đến giờ tù được dậy, chưa có kẻng. 982 thức dậy lúc canh năm khi nghe gà gáy ran ở khu chăn nuôi gà vịt trong trại, nhưng trời lạnh quá không ngủ lại được. Vả chăng, từ ba ngày nay, tâm trí anh ta làm việc rồn rập, tính toán đường đi nước chạy trong những ngày sắp đến, luôn luôn xúc động hồi hộp vời trăm mối lo ngổn ngang trong lòng. Đối với người tù, ngày giải thoát là ngày mong ước nhất trong đời, vậy mà gần đến ngày vượt ngục, tự nhiên 982 có cảm giác bàng hoàng thấp thỏm, pha lẫn mừng, sợ tùy từng lúc.

Tên giám thị khốn nạn bước rất nhẹ trên cỏ để tới bất chợt, song nhờ thính giác đã tập quen với sự phân biệt các tiếng động trong đêm tối, 982 nhận ra ngay sự xuất hiện bất thường, chỉ liếc mắt một cái đã biết đúng tên giám thị tới. Anh ta liền rên rỉ khe khẽ trong miệng, lúc nối lúc tắt như người bệnh nặng sắp chết đến nơi. Và làm như không trông thấy gì hết, mắt tên tù phong vương đã mờ rồi! Hắn đang chết!

Giám thị leo lên bực thang tre như bóng ma, yên lặng quan sát, tưởng 982 nhắm mắt nên không thấy hắn tới. Rồi hắn lẩm bẩm trong miệng một cách bực tức: tên này chưa chết, cũng chưa có dấu hiệu rõ rệt là sắp chết. Hắn nghĩ đến nọc độc của kiến bò nhọt đã được thưởng thức, bất giác lẩm bẩm chửi thề. Nghe tiếng rên rỉ của tên tù phong vương, hắn càng tức lộn tiết:

– Này, thằng kia thằng Việt gian phản động kia!

982 vờ giật mình, mở choàng mắt, rụi mấy cái để nhìn cho rõ, khi nhận ra có giám thị tới mới hốt hoảng vụng về chồm dậy:

– Thưa ông giám thị…

– Tiên nhân cha thằng Việt gian! Sao mầy không chết cha mầy đi cho được việc, đỡ tốn cho nhân dân hai nắm gạo một ngày…

Phải chi đến bữa nay 982 chưa bắt được liên lạc với thiếu niên Hợi và chưa có hy vọng gì về mưu định trốn khỏi Trại giam Đầm Đùn, chắc chắn anh ta phải nhào vào ôm chặt tên giám thị mà cắn mà xé, chết thì chết, cũng liều.

Nhưng một vùng trời tự do đã hiện trước mắt nên anh ta nhịn được một cách dễ dàng, chỉ tiếp tục rên khe khẽ với ý định làm lạc hướng nhận xét của kẻ thù. Tuy thế, tên giám thị cũng thấy những tia thù hận chợt như lóe lên trong hai lỗ mắt sâu hoăm hoẳm của người tù phong vương khiến hắn ta rờn rợn. Nhưng hắn lấy lại ngay vẻ hách dịch, quyền uy:

– Thằng phản động kia, sắp tả lỵ chết chưa mầy?

Tiếng trả lời hổn hển, như tù 982 có nói mà không hiểu nói gì:

– Dạ…sắp…

Tên giám thị đang giận mà cũng suýt bật cười. Hắn hỏi lại, giễu cợt:

– Bao giờ mấy chết?

– Dạ, sắp…

– Chết ngay cho được việc, nghe không, thằng Việt gian? Đừng tưởng bở mà sống mãi, tốn gạo…

– Dạ…

Dạ xong, 982 lật bật, cố gắng mãi mới ngồi lên được. Trời lạnh lại chưa sáng rõ, da thịt anh ta đen bầm lại như xác chết đã mấy ngày. Tên giám thị chỉ nhìn sơ qua rồi chậm chạp bước xuống thang. Hình như ý cố ngó khoảng đất dưới sàn để tìm biết bệnh của 982 nặng đến đâu rồi, nhưng trời chưa sáng hẳn nên không thấy gì trong đám cỏ.

Một hồi kẻng từ nhà Tiểu Công Nghệ vang trong gió sớm. Giám thị vội vã quay đi, không nói một tiếng. 982 lại nằm vật xuống nghĩ thầm:

– Mình đóng kịch cũng không nỗi…tệ lắm!

Vụ “đóng kịch” che mắt tên giám thị khiến 982 thích thú cả ngày hôm đó.

Lát sau, 982 vịn cột đứng lên, nhân lúc tên cảnh vệ ngồi trên chòi canh quay lưng lại, anh ta liền thò tay vào đầu ống tre, nơi giáp với mái rạ moi ra một miếng cơm cháy, bỏ vào miệng nhai trệu trạo. Đây là cái kho giấu đồ vật thức ăn mà anh ta đã tình cờ kiếm ra, trong một đêm không ngủ, đi du lịch và khám phá tất cả mọi nơi, mọi chốn, mọi khe, mọi lỗ hổng trên sàn lều.

Cây giũa Hợi đưa, cũng cất trong ống tre này. Muốn lấy, một tay đẩy mạnh mái rạ, tay kia thò vào trong lòng ống, móc ra. Riêng cây căm xe đạp vẫn gài kín trên mái, cứ đến đêm anh mở khóa cùm cho hai cẳng thảnh thơi, gần sáng mới đút chân vào cùm, tự tay khóa lại.

Sáng hôm qua thức dậy, anh hết hồn vì bị đi tiêu chảy, nhưng nhờ mấy viên thuốc Thanh cho – qua Hợi – anh hết bệnh. Mặt khác, cũng nhờ được ăn cơm cháy do Hợi tiếp tế, chứ nếu nhai hai bữa gạo sống mỗi ngày chắc chẳng thuốc nào chữa nổi.

Cây giũa và lưỡi dao, Hợi mang đến cho 982 một lần. Chỉ tiếc cây giũa đã rỉ, không còn sắc, 982 băn khoăn. Anh sẽ phải dùng tận lực mới hy vọng cắt đứt được hai mắt xích ở hai đầu xiềng trong khoảng thời gian ấn định. Bữa nay là 18, tối mai anh sẽ được giải thoát khỏi Trại giam Đầm Đùn. Bao nhiêu sức lực phải dành cho giờ hành động sắp tới. 982 hồi hộp nghĩ đến những giờ phút quyết liệt tối mai. Theo kế hoạch, lúc trăng mọc là lúc anh sẽ được tự do ở trong rừng, đang cao chạy xa bay.

Đồ vật của 982 còn những gì? Dù sao cũng phải mang đi theo vì nhiều lý do. Một bộ quần áo cánh còn lành lặn chưa in số tù, một bao tải cũ, một nón lá, tấm khăn quấn cổ bằng vải và đôi dép cao su “con hổ” đã mòn hết đế. Ba miếng vải cũ lớn bằng chiếc khăn mùi xoa để dành từ khi còn bị khổ sai ở Việt Bắc cũng mang theo về Đầm Đùn. Tất cả sẽ bỏ trong bao tải, còn vốc gạo sống nhặt nhanh bỏ vào trong tấm khăn quấn cổ, xếp khăn lại như ruột tượng thắt ngang bụng. Chiếc nón lá bỏ lại vì sợ gây ra tiếng sột soạt. Đôi dép cao su mang luôn vào chân khỏi sợ gai góc và đá nhọn lởm chởm trên đường.

Cây căm xe đạp, cây giũa và lưỡi dao sẽ mang theo. Trừ cây căm chỉ dùng một lần để mở khóa, con dao và giũa sẽ cần đến luôn, hai thứ này phải dắt kỹ trong người. Con dao rèn theo dáng dao găm, nhọn mũi sống khá dầy, đào ngạch rất tiện…

982 vẫn miên man tính toán. Mưa đã tạnh hẳn. Nhờ miếng cơm cháy vừa nuốt, bụng anh đã hết cồn cào.

Tù nhân đã ăn xong bữa chiều, một số đang dọn dẹp bát đũa xuống nhà bếp. Lính cảnh vệ đi lại quan sát. 982 nhận ra vẻ khác thường trong cử chỉ của bọn cảnh vệ. Hình như có xảy ra chuyện gì nên 982 thấy tù nhân vội vã, khúm núm, len lén hơn ngày thường.

Đến lúc xếp hàng về trại ngủ, tù nhân đi trong hàng ngũ chỉnh tề hơn mọi ngày. Cả những tù bệnh, ốm đói, què chân vì sâu quảng, vì đạp phải gai, mảnh sành, vì tai nạn cây đè, cũng cố tập tễnh vịn vào vai người khỏe, chạy theo cho kịp cả bọn.

982 nghe tiếng quát tháo rồi có tiếng rên la thảm thiết. Một tên giám thị đang giơ roi vụt một con vật trên mặt đấy, như đang đánh một con chó thì phải.

Nhưng trại giam không nuôi chó. 982 giương mắt nhìn kỹ, một tù nhân què đi không được bằng hai chân, phải ngồi một cách chật vật, lết một bước lại nghỉ một lần. Có lẽ tù nhân này làm mất thì giờ của giám thị nên bị ăn đòn chăng?

Rồi có hai tù nhân tách khỏi hàng, lại xốc cánh đồng cảnh đang lết đứng lên, dìu hắn đi một cách khó khăn.

982 còn thấy cái hình dáng tập tễnh té xuống hai, ba lần trước khi lần về tới trại ngủ.

Cảnh tượng trên khiến 982 suy nghĩ đến khuya không ngủ được. Đêm nay là đêm thứ ba, 982 dùng cây căm xe đạp mở khóa rút hai chân ra khỏi cùm cho bớt tê bại. Anh xoa nắn hai cẳng từ bắp đùi trở xuống đến đầu các ngón chân cho mạch máu chảy đều. Tối mai anh sẽ dùng đến hai cẳng chân “thiên lý mã” này. Mắt cá chân bị ăn đòn trượt búa của thợ rèn đã gần hết nhức nhối tuy vẫn tím bầm như quả bồ quân. Cũng còn may vì vết thương không biến thành sâu quảng, 982 mừng thầm tự nhủ, nếu bữa đó, thằng cha thợ rèn mạnh tay chút nữa, mình đành bỏ mạng tại “sa trường”. Hoặc què không đi được, hoặc vết thương lở loét thành sâu quảng! Đằng nào cũng chết. Còn may!

Trong “kho”, 982 còn hai phần cơm cháy để dành cho hai bữa ngày mai. Nếu ngày mai, Hợi có dịp mang gạo sống và tiếp tế thêm cho ít cơm cháy nữa, sẽ sung sướng biết dường nào! Sẽ để dành cho những ngày sống trong rừng.

Đêm đó, cứ chợp mắt được hơn tiếng đồng hồ, 982 lại giật mình thức dậy. Bốn bề lặng lẽ như bãi tha ma. Thỉnh thoảng tiếng mõ lách cách cầm canh vẳng tới càng làm tăng vẻ chết chóc thê lương trong trại. Tiếng gà eo óc gáy trong trại chăn nuôi nghe xa xôi như từ trong làng xa.

982 bỗng đứng thẳng lên lần từng bước, đi quanh trên sàn một lát, đứng lên ngồi xuống như người tập thể dục. Xong, anh nằm ngửa, co đầu gối lên ngực, đạp chân một hồi như đạp xe máy. Đến lúc thấy nóng ran cả người, anh ta mới ngưng, cho chân vào cùm khóa lại. Hai cẳng chân vẫn mạnh, chưa bị cùm và sự dinh dưỡng thiếu thốn làm cho thương tổn. 982 thêm vững bụng.

Khoảng ba giờ sáng, bỗng thấy có ánh đèn ngoài sân đi xuống khu trại giam những người bị án tử hình. Ánh lửa ngừng bên ngoài xà lim, lát sau một người cởi trần chập chững đi ra, bước theo người xách cây đèn bão. Đi sau người tù, một tên lính cảnh vệ cầm súng, lưỡi lê sáng loáng phản chiếu ánh đèn theo nhịp bước.

Cả bọn ba người vào bên trong nhà Tiểu Công Nghệ. Khoảng nửa giờ sau, cây đèn sáng trong tay người giám thị rời nhà Tiểu Công Nghệ, đi ra sân trước rồi chập chờn tiến về cổng sau của trại giam, ra khỏi trại mất hút.

982 biết người tù bị án tử hình vừa ăn bữa cơm thịnh soạn – ăn cuối cùng – trước khi thân xác hắn “hoàn thổ quy nguyên”. Hình như có tiếng khóc lóc khi người tù ra khỏi trại được một quãng. Nhiều người tù bị đói lâu quá nên chỉ cầu được ăn một bữa cơm ngon, no phưỡn bụng rồi chết cũng cam lòng. Nhưng trái lại, người tử tù lúc sắp phải “ra bai”, ngồi trước mâm cơm thịnh soạn, có thức ăn tráng miệng và điếu thuốc lá, kể cả những tay gan lì nhất, chỉ ăn được vài miếng và trái chuối là tắc họng, hết nuốt được vì sợ.

Nhớ những lời đồng cảnh kể lại, 982 thấy ớn lạnh cùng mình. Tình cờ khuya nay, anh ta chứng kiến một vụ “ra bai”. Là người theo Đạo Phật, nhưng chưa bao giờ 982 tụng một câu kinh đọc một câu kệ, chỉ ngồi chắp tay trước ngực, nhắm mắt lại mà hồi hộp.

Lát sau, một tiếng súng vang đưa tới, 982 tưởng tượng một bộ xương ngã gục xuống trong khi một điểm linh hồn oan ức thoát ra bay lên thinh không. Bất giác, anh ta nghĩ đến hoàn cảnh của mình rồi tự nhiên, từ miệng 982 bật ra lời niệm Phật trước đó anh ta không hề nghĩ tới:

Nam Mô A Di Đà Phật!

Dường như trong khi niệm Phật nguyện cầu cho người tù “ra-bai” được siêu thoát và nhất là cho mình khỏi sợ, 982 cảm thấy nỗi thống khổ triền miên của chính anh nhẹ đi phần nào. Anh ta chắp tay, đọc thêm mấy chục lần nữa câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, rồi nằm xuống nghĩ vơ vẩn.

o O o

Quá trưa một lát, khi tù nhân trong trại đã đi lao tác rồi, 982 bắt đầu bồn chồn, nóng ruột, hồi hộp, lo lắng không yên.

Hôm nay là 19 âm lịch, ngày trọng đại đối với đời anh, ngày cuối cùng của anh trong Trại giam Đầm Đùn, hoặc là ngày áp chót của đời anh nếu anh trốn không thoát.

Lúc đó vào khoảng hai giờ trưa, vì ánh nắng đã chiếu xiên vào đúng mép sàn lều. Khi nào bóng mái rạ lùi đến chân cột giữa là năm giờ, giờ chuẩn bị.

Nhưng bắt đầu từ 2 giờ trưa, thời khắc trở nên nghiêm trọng, 982 hồi hộp lạ thường. Trong đời, anh đã gặp nhiều trường hợp quan trọng, hiểm nghèo, nhưng ít có lần xúc động run rẩy như thế này. Vượt một trại giam Cộng sản, có nghĩa như đánh tiếng bạc chín mươi phần trăm thua, chỉ có mười phần trăm thắng. Là vì dưới chế độ Cộng sản, nhân dân là tình báo đắc lực của nhà nước. Lọt qua khe lưới tình báo của nhân dân là một việc khó khăn vô cùng, từ khi Cộng sản nắm chính quyền, ít người làm nổi. Thời gian hoạt động cách mạng ở bên ngoài, 982 đã có nhiều dịp biết rõ điều đó.

Mặc dầu vậy, 982 vẫn phải tiến hành theo kế hoạch đã ấn định, không thể lùi được nữa. Cho là thua cũng chỉ đến “ra bai” là cùng!

Sáng nay, thiếu niên Hợi đã đem gạo sống đến cho bác Dũng với một vốc cơm cháy phơi khô. Đó là cơm cháy Hợi để dành cho mình phòng khi cần đến, nay lấy hết ra tặng luôn bác Dũng. Hai bác cháu nói một vài lời từ biệt vắn tắt rồi Hợi chúc 982 can đảm, có đầy đủ nghị lực thực hiện mong ước.

Trước khi Hợi quay về lò rèn, cậu ta còn dặn thêm một lần nữa:

– Xin bác nhớ, đừng để lại đồ vật gì có thể khiến ban Quản-trị tìm ra những người liên can. Phải tiêu hủy liền khi không cần dùng đến những thứ đó.

– Bác đã nhớ kỹ, cháu hãy yên tâm.

Hợi đi thẳng một mặt về lò rèn, chẳng hề ngoái cổ lại. Cả ngày hôm đó, giám thị không héo lánh đến lều lần nào. 982 cho là điềm may vì anh ta có cảm giác lo lắng mỗi khi giám thị tới. Chỉ sợ lỡ ra, hắn phát giác được sơ hở nào đó và suy đoán ra mưu định của anh thì thật nguy hiểm, không sao nói hết. Nguy hiểm cho anh mà người khác cũng liên lụy.

Quá năm giờ chiều, trời sắp tối chạng vạng, mặt trời đã xuống thấp sau rặng cây phía Tây. Tù nhân lũ lượt về trại nghỉ sau hồi kẻng.

Những nữ tù nhân (trại phụ nữ) gánh nước tưới cây hoặc sàng gạo trong nhà Tiểu Công Nghệ đã đem dụng cụ cất vào kho, tù nhân thuộc ban canh nông, trồng trọt, cuốc đất, kéo cầy gần trại cũng đã tấp nập trở về. Lát sau, bọn tù làm củi về tới, đi một hàng dài như đoàn dân công. Trời tạnh ráo nên thân hình họ bớt tiều tụy. 982 sực nhớ lại buổi đi làm củi trong rừng, lần đầu tiên xung phong khi về Trại Đầm Đùn này, rồi nẩy sinh ý kiến bắt kiến bò nhọt cho tổng tấn công rận khiến gây ra hậu quả tai hại ngày nay. 982 bất giác thở dài, không thể ngờ mình bị phong vương. Và càng không thể ngờ mình vượt trại giam tối hôm nay. Mọi sự xẩy ra như trong giấc mơ.

Trong khi tù nhân ăn cơm, để tiết kiệm thì giờ, 982 cũng lấy một nắm cơm cháy phơi khô nhai một cách ngon lành. Gạo sống đã hốt hết vào trong tấm khăn quấn cổ. Quần áo xếp gọn ghẽ với bao tải thành một bọc nhưng chỉ mới cột sơ sài, đề phòng giám thị hay cảnh vệ bất ngờ đến khám xét, chúng thấy khác sẽ nghi ngờ chăng?

Từ hôm được tiếp tế cơm cháy, 982 nhớ lại chưa bị quá đói bữa nào. Nhờ thế sức khỏe của anh hồi phục thêm chút đỉnh. Cái lõi ngô 271 cho bữa nọ, 982 đã nhai nát hít hết nước, rồi phơi bã trên sàn để dành. Hôm qua anh ta chỉ nhai lại sơ qua rồi nhổ đi, không nuốt. Vì chẳng còn bổ béo gì, không khác nhai cái sơ mướp khô vẫn dùng để rửa chén đũa.

982 nhai thêm nắm cơm cháy phơi khô để lấy sức vững vàng, uống một hơi lưng ống nước mưa, bụng bảo dạ phải uống hết ống nước mưa này trước khi xuống lều, kẻo phí. Miếng nước trong lành đối với tù nhân cũng quý không kém “ngọc thực”.

Trời đã sâm sẫm. Bóng tối từ dưới đất chui lên xóa mờ rất mau các ngọn cây trong rừng phía trước mặt. Sương mù chập chờn bao phủ mái nhà Tiểu Công Nghệ và trại ngủ. Đây đó trong trại, ánh đèn dầu le lói nức nở sau màn sương như những hơi thổn thức của người tù. Hình dáng tên lính cảnh vệ ngồi trên chòi canh đã nhòe vào bóng đêm. Tiếng côn trùng rỉ rỉ dưới cỏ như tiếng than dài của những tù nhân bạc phước sống những ngày đói khát liên miên bất tận, lao động kiệt sức, không biết sống chết lúc nào, không biết kêu xin cầu cứu với ai cho bớt nỗi thống khổ.

982 thấy phấn khởi trong lòng. Trốn là phải, trốn là cách tranh đấu tích cực nhất của người tù dưới chế độ Cộng sản nếu không thể làm reo hay phá trại. Anh ta đưa mắt nhìn quanh hai ba vòng, nhìn thật kỹ từng khoảng một. Giờ này cảnh vệ hoặc giám thị không đến đây bao giờ. Có thể khởi sự. 982 nghe rõ hơi thở hồi hộp của mình. Anh đặt tay lên ngực để trấn tĩnh. Trong lúc sự sống và sự chết chỉ cách nhau gang tấc, anh mới cảm thấy có sức mạnh kỳ bí, linh diệu chi phối mọi cuộc sống trên thế gian này. Anh nghĩ đến những người đã bỏ mạng trong trại từ trước khi anh tới, những người đã chết vì tù đày, vì cách mạng mà linh hồn lảng vảng trong rừng núi âm u không siêu thoát được. 982 ngước nhìn lên cao, chấp tay trước ngực, van vái “những vong hồn phò hộ cho anh vượt qua những hiểm nguy đặng trốn thoát”. Vì không nhất tâm theo một tín ngưỡng chân chính nào, anh ta trở thành mê tín, dị đoan những lúc hiểm nghèo.

Lát sau, tâm trí 982 bình tĩnh trở lại. Lần thứ hai, anh ta nói thầm như ra lệnh cho chính mình:

– Đã tới giờ, khởi sự là vừa!

Tay vịn cột, 982 vươn mình lên, lùa tay trong mái rạ, rút ra cây căm xe đạp. Vì đã quá quen tay, chỉ mò mò sơ qua là anh lách được đầu mẫu cây căm vào lỗ khóa. “Cách” một tiếng, lò xo bật, khóa mở. Bỏ khóa xuống sàn, lựa thế tháo rời hai tấm ván dầy của cùm, 982 rút hai chân ra nhẹ nhàng, không mảy may gây tiếng động. Anh dắt luôn cây căm vào cạp quần, định bụng vào đến rừng sẽ liệng bỏ.

Xếp hai tấm ván cùm lại bên cột, 982 rờ sang bên trái, đặt tay lên bọc quần áo, dùng sợi dây chuối cột sơ lại cho khỏi rơi rớt lung tung rồi nhanh nhẹn lại “kho” một tay đẩy góc mái lên, tay kia thò vào trong lòng ống tre rút ra cây giũa. Bên trong còn cơm cháy, gạo và con dao, lát nữa cắt xiềng xong sẽ lấy sau.

982 ngồi phệt xuống sàn, dựa lưng vào cột, quay lại về phía nhà Tiểu Công Nghệ coi chừng, một tay giữ cứng mắt xiềng nối liền với khoen sắt, tay kia cầm chắc cây giũa, bắt đầu cắt xiềng.

Tiếng giũa cọ trên mắt xiềng bằng sắt ken két như tiếng nghiến răng. Những nhát đầu tiên, giũa chưa “ăn” nên trơn trợt, 982 phát hoảng. Anh dùng đầu ngón tay làm cỡ giũa thật mạnh mươi cái đều tay. Quả nhiên đã có một đường rãnh làm cỡ, 982 tiếp tục giũa theo rãnh đó. Nhờ đã “luyện tập” nhiều lần (nhưng không có giũa) anh không đến nỗi lúng túng. Trời tối mịt, mấy con đom đóm lập lòe nhởn nhơ bay ngoài sân, trên bãi cỏ quanh lều. 982 luôn luôn đảo mắt nhìn tứ phía, đề phòng mọi bất ngờ, tay vẫn giũa đều. Cạnh giũa không bị trơn trợt nữa, 982 rờ vào đường cắt trên mắt xích thấy “rãnh” đã khá sâu, 982 yên trí đều tay giũa tiếp.

Đột nhiên, cây giũa kẹt cứng, 982 dạng hai chân căng thẳng sợi xiềng rồi hai tay nắm giũa giựt mạnh cho bứt ra. Bằng ngón cái và ngón trỏ, 982 rờ thấy mắt xiềng. 982 lại cắm cúi giũa mạnh tay hơn. Chà! Nóng quá, tay nắm mắt xiềng muốn bỏng. 982 ngậm cây giũa ngang miệng, cởi áo làm đồ lót tay sau khi dốc ít nước vào áo cho ướt. Rồi tiếp tục giũa thật hăng, kết quả sờ thấy rồi! Mừng ơi là mừng!

Chừng hút tàn điếu thuốc lá mắt xiềng đã đứt hẳn một đường khá rộng, đủ tháo lọt. Công việc cắt xiềng mới xong một nửa 982 đã thấy phấn chấn quá chừng, anh ta nhe răng ra cười trong bóng tối tự thưởng công rồi dạng chân thật rộng để hưởng cái thú tự do, hai cẳng không bị xiềng liến với nhau nữa tuy một bên chân vẫn đeo sợi xiềng.

982 lại tiếp tục giũa mắt xiềng nối với khoen sắt ở cẳng chân bên phải. 982 thuận tay phải nên công việc cắt mắt xiềng này khó khăn hơn vì luôn luôn tay bị vướng khoen sắt. Anh ta chăm chú hết tinh thần vào công việc, thay đổi cạnh giũa hai, ba lần đề lựa cạnh sắc, nghiến răng lại giũa cho mau đặng kịp thời gian giành cho việc này. Nửa giờ phải cắt đứt một mắt. Công việc còn nhiều khó khăn lắm mà vẫn chưa xong giai đoạn đầu.

982 thấy bàn tay đã tê dại vì gắng sức quá mức. Anh nhẹ nhàng bỏ giũa xuống mặt sàn, rón rén vì thói quen đứng lên nhấc ống tre đựng nước treo trên cột “làm” một miếng nước. Rồi treo ống tre lên, tay rờ rờ trên mặt sàn kiếm cây giũa, tiếp tục cho chóng xong. Thời giờ đi mau quá, nhưng…

Thiếu chút nữa anh ta nói bật thành tiếng:

– Ô hay! Giũa biến đâu mất rồi!

982 xòe rộng hai bàn tay, nhè nhẹ dạo lên mặt sàn, đưa qua đưa lại vẽ thành những hình cánh cung trong đêm tối mười mấy hai chục lượt mà vẫn không rờ thấy cây giũa đâu. Bất giác anh ta toát mồ hôi đầm mình, lặng đi suy nghĩ. Thì mới vừa đặt cây giũa trên sàn, cạnh cột lều mà!!

—>14

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.