Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

14.

982 chợt nhớ ra rằng cả mặt sàn chỉ có một khe hở đủ rộng đút lọt ngón tay cái, tuy người đóng đã ghép thêm một thanh tre để bịt kín, lâu ngày, thanh tre tóp lại nên khe hở vẫn còn. Do khe hở này, cây giũa lọt xuống đất chăng? Mà dưới đất lại toàn là cỏ mọc rậm rạp, bây giờ kiếm tìm cây giũa trong đêm tối mới thật khổ vô cùng!

982 điếng người đi vì hoảng sợ. Chỉ sơ ý một chút mà hậu quả dường này! Bây giờ, phải xuống dưới đất mò kiếm cây giũa. Nghĩ vậy, anh ta trố mắt ra nhìn quanh quẩn, lắng tai nghe ngóng thật kỹ về phía chòi cảnh vệ, khi yên trí không có gì khác thường mới bước xuống thang tre, một tay cẩn thận nhấc sợi xiềng lên cao cho khỏi va chạm thành tiếng.

Đến đất, 982 dò dẫm từng bước chân, đi đi lại lại trên đám cỏ, một tay vẫn nhấc cao sợi xiềng, tay kia rờ lung tung trên cỏ, mò mẫn như người mù kiếm cây gậy. Mười phút đã trôi qua mà không thấy cây giũa đâu, thật nguy vô cùng! 982 vừa giận vừa lo. Anh ngừng kiếm, ôn lại những cử chỉ của mình từ lúc bỏ giũa xuống sàn, đứng lên nhấc ống tre đựng nước, treo ống tre, rờ kiếm chiếc giũa…Không có lý nào!

Một ý nghĩ bỗng nẩy ra trong đầu. 982 lại leo lên sàn ngồi đúng chỗ vừa rồi.

Anh đút ngón tay lọt qua khe hở mò theo lòng ống tre đóng ghép vào mặt dưới sàn, rồi “à” một tiếng trong cổ họng. Thì ra cây giũa đã lọt qua khe hở, nằm dưới lòng ống tre như nằm giữa lòng máng sối.

982 mừng quá, dùng cây căm xe đạp móc ra. Cây giũa đây, trong tay đây rồi. Sợ vô ý làm rớt, anh ta gài cây căm lên mái rạ cẩn thận ngay kế bên đầu cây cột tre cho dễ kiếm rồi vội vã tiếp tục giũa mắt xiềng. Mất mười phút vô ích và kinh hoàng!!

Một lúc sau, khi cánh tay đã mỏi rời và hai hàm răng cũng ê dại vì nghiến chặt vào nhau lấy sức thêm cho cánh tay, 982 đã cắt đứt sợi xiềng khỏi khoen sắt. Anh ta nhẹ nhàng đặt sợi xiềng trên bọc quần áo rồi đi lại vài bước, cân não căng thẳng trước kết quả đầu tiên, mặt nóng bừng như đứng gần bếp lửa mùa Đông. Tình thế thật sự nghiêm trọng. Bước sang giai đoạn hai. Anh ta đếm trên đốt ngón tay, lẩm bẩm:

– Cây giũa.

– Con dao.

– Cây căm.

– Sợi xiềng.

Có bốn thứ tất cả, bốn thứ bằng sắt phải nhớ mang theo vào rừng kẻo nguy hiển cho người ở lại. Trong bốn thứ, ban Quản-trị chỉ lượm được một cũng phăng lần ra tòng phạm vụ vượt ngục.

Bây giờ, lấy cơm cháy, gạo, lưỡi dao găm ra, cột quần áo lại làm một buộc, rồi xuống lều…

Tay không rời chiếc giũa, 982 lại góc lều, móc con dao găm trong ống tre ra gài vào lưng quần, rồi bốc hết những miếng cháy bọc riêng vào một mảnh vải, buộc thật kỹ. Anh ta vét không còn hạt gạo nào bện trong ống tre. Thế là hết, không còn gì bỏ quên ở lều phong vương nữa.

982 đặt bọc cơm cháy vào giữa giải khăn vải rồi, thắt liền giải khăn quanh bụng như mấy người thiếu nữ quê thắt hầu bao. Anh ta bỏ cây căm, sợi xiềng, mấy cái quần áo vào trong bao tải, dùng dây cột chặt chẽ theo chữ thập. Lúc đó, 982 mới cảm thấy hai tay buộc dây run cầm cập. Mồ hôi ướt dinh dính trên trán, trong người lại thấy ớn lạnh, 982 rùng mình mấy lần như sắp lên cơn rét.

Đôi dép cao su đã mang vào chân. Gan bàn chân anh cũng ướt nhèm mồ hôi. Một tay xách bọc quần áo, một tay cầm dao và giũa. Còn ống tre và chiếc nón lá, thôi đành bỏ lại. Hai tấm ván cùm đã xếp bên nhau, đặt sát cột lều. 982 thì thầm: Thế là xong! Trong óc anh ta hiện lên hình ảnh Hợi, người có công sức nhất trong vụ trợ giúp anh vượt trại giam đêm nay. Giờ phút được giải phóng, 982 thấy thương và mang ơn Hợi vô cùng.

– Cây giũa, con dao, cây căm, sợi xiềng bốn thứ đủ cả! Cơm cháy trong ống tre đã vét sạch không còn một hột. Yên trí không để lại dấu vết nào!

982 lần tay rờ ruột tượng (đựng gạo sống và cơm cháy) thắt quanh bụng. Chắc chắn không sợ sút nhưng gạo phồng cả một bên, 982 thót bụng lại, xoay khoảng khăn đựng gạo qua cạnh sườn bên trái.

Vậy là xong hết. 982 ngồi thụp xuống, dáo dác nhìn quanh hai ba lượt, ngó kỹ về nhà Tiểu Công Nghệ, trại ngủ, lấy hết tinh thần lắng tai nghe khắp mọi phía. Sương mù xuống thật dầy, bóng tối đã hoàn toàn ngự trị nên chỉ thấy đen thui. Không còn một ánh đèn. 982 lặng lẽ xuống thang, tim đập như trống làng, hai chân muốn run.

Đến chân thang, anh ta quay mặt lại hàng ráo, lom khom bắt đầu bước, đếm thầm:

– Một…hai…ba…

Rồi đếm 30 bước chân. Theo ước lượng, nhiều nhất cũng chỉ 32 bước chân là phải tới bên hàng rào. 982 chìa tay ra phía trước như người mù do đường. Nhưng đếm đến 32 bước rồi 33, 34, 35…38 cũng chưa gặp hàng rào. 982 băn khoăn, ngồi thụt xuống, suy nghĩ. Có lẽ đi trật đường, đi vòng quanh nên không gặp hàng rào. Trời tối thui, trố mắt nhìn cũng không thấy đầu ngón tay. 982 sực nhớ lại một nhận xét anh đã đọc trong một bài nghiên cứu về cơ thể học, cho rằng: “Những người thuận tay phải khi bị lạc trong rừng thường có khuynh hướng đi quẹo về bên tay phải trong khi thuận tay trái thì có khuynh hướng ngược lại”.

– Có thế chăng?

982 chìa bàn tay ra trước mặt dò dẫm bước hơi xiên qua bên trái…Bỗng có cảm tưởng như cỏ dưới chân rậm và cao hơn, rồi…tay đụng phải chướng ngại! Đây rồi, hàng rào nứa đây rồi, 982 mừng quá, nghe ngóng động tĩnh, vẫn yên lặng hoàn toàn. Đặt bọc quần áo xuống cỏ, anh ta rờ lên rào nắm một cây nứa cho chắc dạ là đúng, rồi dò dẫm trên khoảng đất dưới chân. Gài cây giũa thật kỹ vào thắt lưng cho khỏi rớt lần nữa, 982 cầm lưỡi dao ấn mạnh xuống đất coi cứng, mềm ra sao. Mùa này, trời còn mưa phùn luôn nên đất mềm và ẩm ướt.

982 mừng thầm, khởi sự đào đất liền. Trong trí, anh ta định đào một lỗ tròn lớn bằng cái rổ ở phía bên này rào sâu chừng 40 phân, rồi đào mé bên kia rào một lỗ tương đương để làm nột cái lỗ “chó chui”. Sau đó, 982 sẽ đào van vát từ lỗ ra xa phía ngoài một chút đặng lấy chỗ thấp nằm xuống mà lách mình chui dưới rào.

Bọc quần áo đặt ngay kế bên. 982 luôn tay đào và vét đất. Thỉnh thoảng, dao chạm phải cục gạch hay hòn đá, bật ra tiếng “cách”. Nhưng không sao, chòi lính cảnh vệ xa nơi đây tới 60 thước, dễ gì phát giác được.

Đào xuống sâu, đất lép nhép như đất bùn.

982 khẽ khỏa tay trong lỗ ước lượng đường kính. Đã đủ rộng và đủ sâu. Bây giờ 982 quỳ xuống đào rộng sang phía bên kia. Lưỡi dao không dài quá một gang, bản dao lại hẹp nên đào rất chậm.

Đã thế, dao lại không có cán, khó cầm. Nhưng dù sao, còn hơn phải dùng cây hay mảnh sành, còn khó khăn và mất thì giờ gấp bao lần nữa. Mà chắc đâu đã kiếm được!

Chừng 12 phút sau, 982 nằm sấp xuống chui thử, gần được! Cần đào van vát ra phía ngoài thêm một chút nữa. Việc này không quá năm phút là xong.

982 tự nhủ “đủ chui rồi”, cầm bọc quần áo đưa lọt qua bên kia rào. Rờ tay vào bụng kiểm soát lại, cây giũa còn đây. Yên trí, 982 nằm ngửa cho hai cẳng chân qua trước rồi tuồn dần. Tới khúc bụng, anh vẫn nằm ngửa, nhích dần từng chút…Hai cẳng chân đã đặt lên mặt đất phẳng và mát lạnh. Anh biết đã lọt vào con đường nhỏ chạy giữa hai hàng rào, dùng riêng cho nhân viên trại đi tuần.

982 ý tứ nhè nhẹ ngồi lên, yên lặng ngó bên phải bên trái con đường “tử thần”, rồi xách bọc đồ đến sát mép hàng rào thứ hai. Anh ta dò dẫm, lựa chỗ đất mềm khởi sự đào một lỗ như vừa rồi. Đất phía bên này lổm nhổm đá, khó đào hơn. Nhưng 982 không sợ. Dù sao cũng còn gần hai tiếng đồng hồ nữa, trăng 19 tới 10 giờ mới mọc, dư thì giờ.

982 nghiến răng bẩy từng miếng đất lổm nhổm gạch và đá. Công việc này sở dĩ khó khăn là vì làm ban đêm mò mẫm trong bóng tối, chứ nếu có ánh sáng thì không nghĩa lý đối với tù nhân của trại giam Cộng sản. Anh ta ngừng tay nghỉ mệt một phút, đưa khuỷu tay lên chùi vì mồ hôi chảy vào mắt làm cho xót. Rồi lại nghiến răng tiếp tục đào, nghĩ thầm:

– Đào nốt một nửa lỗ phía bên kia rào là được tự do. Dũng ơi! Rán lên!!

982 gọi tên mình để tự khuyến khích thêm hăng hái mỗi lần phải vượt hiểm nguy.

Rồi nhoài mình xuống đất lia lưỡi dao dưới chân rào, qua mé bên kia. Từng tảng đất lở ra rơi xuống đáy lỗ. Anh ta cúi rạp xuống vốc đất bỏ ra bên ngoài. Lát sau, 982 đưa bọc quần áo qua mé bên kia trước, rồi nằm ngửa đưa trước hai cẳng nhân, tới mình, tới đầu. Lọt qua hết không khó khăn. 982 nhè nhẹ ngồi lên:

– Thế là thoát! Con cảm tạ Trời Phật giúp con tìm được lối thoát.

Trong lòng mừng rỡ như mở cờ nhưng 982 cảm thấy có mấy giọt nước âm ấm trên má. Đúng vậy, anh ta mừng rỡ đến chảy nước mắt vì đã vượt qua phân nửa khó khăn, một nửa đoạn trường.

Sực nghĩ đến Hợi, anh ta tự nhắc nhở để kiểm điểm lại, cây căm và sợi xiềng ở trong bọc. Cây giũa gài ngang bụng. Con dao cầm trên tay. Đủ hết!

Không thèm quay nhìn về phía trại lần cuối, 982 cắp bọc quần áo, một tay lăm lăm con dao làm khí giới tự vệ, hướng về phía rừng cây. Bóng tối dầy đặc quanh mình. Nhưng 982 vẫn dò dẫm bước…

Nhìn lại sau lưng, nhìn về đằng trước, chỉ có đen tối. Trại Đầm Đùn đã chìm nghỉm mất dạng. 982 hồi hộp tưởng đâu như vừa rời khỏi địa ngục, trên đường trở về dương thế.

Bước dò dẫm được một lát, 982 nhận thấy đất dưới chân bớt gồ nghề lồm nhổm. Rồi mặt đất bằng phẳng như anh đang đi trên một con đường mòn hẳn hòi. Khấp khởi mừng thầm 982 còn đang tự nhủ đừng đi chệch đường đã hổng chân bước hụt xuống một cái hố, lộn nhào một vòng, bọc quần áo văng đâu mất chỉ còn con dao nắm trong tay.

Mình mẩy đau nhừ, ê ẩm, anh ta nén cái đau, mò mò trên mặt đất vẫn không tìm thấy bọc quần áo.

– Thôi, đành chờ trăng lên mới kiếm được bọc đồ và đường đi. Ta tìm chỗ ngồi nấp đỡ một lát.

Khi đó, 982 mới thấy khô cổ và hai cánh tay rã rời nhọc mệt. Anh ta ngửa mặt nhìn lên. Nền trời lấp lánh vài ngôi sao và chân trời phía Đông đã hơi sang sáng. Trăng sắp mọc. Như vậy, anh đã tính sai thời gian dùng vào việc đào ngạch hơn nửa tiếng đồng hồ. Nhưng còn may. Trăng đã mọc mà chưa thoát ra ngoài hàng rào trại mới thật là…chết!

Lát sau, đêm đã bớt tối, anh nhận được một lùm cây um tùm cao ngất lờ mờ in trên nền trời. Như vậy, gần đây có một cây cổ thụ lớn. Đúng rồi, mấy bữa trước, ngồi trong lều phong vương ngó ra, anh vẫn thấy tàn một cây cổ thụ vượt lên cao khỏi rừng cây. Nếu thế, chưa đi xa trại bao lăm. Chưa quá 500 thước.

Bỗng 982 đá phải một vật gì mềm. Anh ta mừng rú khi nhận ra bọc quần áo, lượm lên liền, rồi bước về phía trước nhưng không dám đi mau, sợ lọt xuống khe hay hốc thì thật là nguy hiểm.

– Kiếm một cành cây làm gậy chống như người mù lại tốt và đỡ nguy hiểm. Trong khi trăng chưa lên, đi xa được quãng nào, tốt quãng ấy.

Những khu thưa cây, đường đi thấy lờ mờ, 982 ngó về phía Đông, vầng sáng đã lộ hẳn ở chân trời. Trăng đang mọc. 982 quyết định ngồi nghỉ, đợi trăng lên…

Bỗng 982 cảm thấy rờn rợn…Vì Trại Đầm Đùn kinh khủng quá, anh chỉ có ý vượt ngục nên chưa thấy đi một mình vào rừng là việc nguy hiểm và đáng sợ vô cùng. Lúc này, hết sợ trại giam Cộng sản lại bắt đầu thấy sợ nhiều thứ khác, sợ thú dữ, sợ đi một mình trong rừng đêm, sợ ma quỷ…Bao nhiêu người đã bỏ thây trong rừng và trở thành hồn ma bóng quỷ…Để tự trần tình, 982 nhủ thầm:

– Ma quỷ cũng không nguy hiểm bằng giám thị, cảnh vệ Trại Đầm Đùn. Không “đi” đến đâu! Không có gì đáng sợ!

982 nói đúng hoàn toàn: Ma quỷ không hành hạ người, không đánh người lòi xương rách da, không bắt nhịn đói, nhịn khát không đem tù “ra bai” vô cớ. Vậy, đi đêm trong rừng không có gì đáng phải sợ đối với người tù phong vương vượt ngục.

Anh ta chuẩn bị tinh thần như vậy rồi lần đến bên một gốc cây lớn, rễ mọc chồi khỏi mặt đất như mình con trăn, ngồi dựa vào thân cây, ôm bọc hành lý trước bụng, ruỗi thẳng chân cho thoải mái đặng lát đi nữa. Anh lấy làm lạ vì khi còn bị cùm ở lều phong vương tưởng tượng lúc ra bên ngoài sẽ đâm đầu mà chạy, bất kể tối tăm. Vậy mà lúc này anh lại bình tĩnh ngồi nghỉ ngơi đường hoàng chờ trăng lên…Cho hay tưởng tượng với thực tế thường khác nhau rất nhiều.

Mảnh trăng hạ tuần nhô cao dần. Ánh trăng bàng bạc đã lọt vào tới khu rừng, từng mảng sáng rải rác quanh nơi ngồi nghỉ. Anh ngó đôi khoen sắt còn đeo nơi cổ chân. Bùn lấm be bét từ đầu gối trở xuống. Nhưng việc cần làm ngay là chạy cho xa Đầm Đùn. Những cảnh thường ngày trong trại giam lại hiện ra trước mắt.

982 như người tỉnh giấc mơ, lật đật đứng lên tiếp tục đi theo con đường mòn nho nhỏ, tiến vào rừng thưa.

Cứ đi như thế được hơn tiếng đồng hồ vượt qua một quãng đường chừng hơn một cây số, 982 mới kiếm gốc cây, ngồi nghỉ, vì đã mệt và đói bụng.

Sực nhớ đến “ruột tượng” gạo, 982 hốt hoảng kiểm soát lại. Chết rồi, bọc gạo buộc ngang bụng lép xẹp, mất hơn nửa. Anh ta nắn nắn giây lát rồi ngẩn người ra vì tiếc và lo. Thì ra khi nãy té “ruột tượng” bị bung ra, gạo sống theo kẽ hở vãi gần hết.

982 kiếm sợi dây leo buộc chặt nơi khăn rách dồn gạo về phía khác cho khỏi chẩy. May thay, vốc cơm cháy còn nguyên nhờ còn lượt khăn nữa bao kín.

982 ngại ngùng nhìn bốn bề. Nơi anh đang đứng vẫn là khu rừng thưa, đi không cần len lõi bao nhiêu. Nhưng phía trước chỉ thấy đen ngòm, tàn cây rậm rạp quá, ánh trăng không lọt xuống tới mặt đất. Đi nữa cũng sợ và nguy hiểm. Vả lại, cũng mệt rồi. Chi bằng kiếm cây leo lên ngồi nghỉ, mai sớm sẽ tính.

Nghĩ vậy, 982 kiếm chỗ ẩn nấp qua đêm. Tuy trăng đã lên cao mà rừng phía trước còn tối lắm, không nhìn rõ quá hai chục thước. Bỗng 982 thoáng thấy có ánh trăng loang loáng trên tảng đá gần đấy.

Đó là một vũng nước đọng trong một hõm đá, 982 không nghĩ ngợi, cúi xuống uống mấy hơi đã khát rồi tạt nước rửa mặt cho sạch. Mặt anh lấm be bét đất, cát vì đào lỗ và chui qua hàng rào. Xong, 982 kiếm một thân cây thẳng, khá cao, dấu dép cao su trong bụi, leo lên chạc ba ngồi cho vững vàng. Anh cắm con dao và cây giũa vào cành cây kế bên, sợ ngủ quên té xuống dao xóc vào người. Trước đây đã có người làm củi, từ trên cây té xuống, bị dao đâm thủng bụng chết liền.

Không biết nghĩ sao, 982 lại leo lên một chạc cây cao hơn nữa, tới 6 thước. Như vậy không sợ cọp hoặc thú dữ khác. 982 ôn lại trong trí những việc vừa qua từ lúc cắt xiềng, chui qua lỗ “chó chui” rồi đến đây. Lúc này, ở trại giam trăng đã sáng, nếu lính cảnh vệ đi tuần trên con đường nhỏ giữa hai hàng rào tất sẽ phát giác vụ tù vượt trại. Như thế, có thể sáng sớm tinh sương bọn cảnh vệ sẽ rượt theo.

Trống ngực 982 đánh thình thịch. Anh mường tượng đến vẻ mặt thù hận, độc ác, đểu giả của lũ giám thị và cảnh vệ mà phát gớm. Nhưng trong rừng có cả trăm đường lối khác nhau, biết anh trốn ngả nào mà tìm?

– Dù sao, ta vẫn có hy vọng thoát…Không sợ!

Chỉ sợ không kiếm được hoa quả hay thức ăn bỏ vào miệng để có sức chạy nữa. Đó mới là trở ngại ghê gớm nhất.

982 suy nghĩ vẫn vơ rất lâu, sau mệt quá kiếm thế ngồi cho chắc rồi thiếp đi như chết. Lúc anh giật mình mở mắt, trăng đã nằm giữa đỉnh đầu.

982 nghe rào rào đằng xa như có tiếng chân chạy trên lá khô. Rồi gió ào ào trên ngọn cây. 982 lấm lét nghe ngóng nhìn trước ngó sau, bất giác kéo cành lá rậm rạp che lên mình cho kín.

Trong cái yên lặng thăm thẳm của rừng, bỗng có tiếng gà eo óc vẳng đưa lại. Anh ta nghĩ thầm:

– Nơi đây, gần Bản của người Mường, Mán hay sao mà lại nghe tiếng gà gáy? Nếu thế, phải đi thêm một chặng nữa mới được. Kẻo sáng ra, dân địa phương thấy tung tích ta thì nguy.

Thì ra đối với người tù vượt ngục, cái cảm tưởng chung là lúc nào, chỗ nào cũng thấy có “kẻ thù” ở gần.

Chợt anh ngó lại khoen sắt ở cổ chân. Cái đồ quỷ này tố cáo người mang là tù vượt ngục rồi còn gì nữa!

982 co chân lên, lấy giũa mài mũ cây đanh ri-vê đóng vào khoen sắt. Anh tính mài mòn mũ đanh rồi kiếm cách “đột” cho đanh sút ra đặng tháo khoen. Chà, khoen sắt làm trầy trợt rướm máu cổ chân mà anh không lưu ý. Trong rừng vắng, tiếng giũa soèn soẹt nghe bắt rợn người. Chỉ một lát, hai mũ đanh ri-vê mòn hết.

982 ngước nhìn trăng đoán giờ khắc rồi tụt xuống đất sau khi liệng bọc đồ và con dao.

Nửa giờ sau, 982 loay hoay bằng cây giũa và con dao, tháo được hai chiếc khoen ra. Cổ chân anh ta đã bị chẩy máu loang lỗ. Anh nhè nước miếng ra đầu ngón tay bôi lên vết xây sát theo thói quen vẫn thường làm ở trại giam.

Bỏ được khoen sắt rồi, 982 mừng quá đỗi là mừng và cảm thấy hai cẳng chân nhẹ tênh tênh, chỉ muốn chạy một vòng cho khoái. Để phi tang, anh đào lỗ nhỏ dưới gốc cây, bỏ hai khoen sắt xuống, lấp đất. Thế là xóa thêm một dấu vết tù tội, cái dấu vết khó xóa nhất! Mừng ơi là mừng!

Quá nửa đêm về sáng, trời lạnh căm căm. Thời tiết đang vào độ cuối Xuân. 982 mở bọc quần áo ra thay và nhân thể tiêu hủy luôn sợi dây xiềng, sợi dây sắt này không có công dụng gì trong khi 982 đi trốn, tốt hơn hết là tiêu hủy cho mất tang chứng.

982 mở bọc, lấy bộ quần áo còn lành lặn ra thay, lúc đó mới nhớ ra là vẫn còn mặc quần “không đũng”.

982 bận chiếc áo cánh dài tay, quần còn đủ hai ống dài, rất may trên ngực và lưng áo chưa in “số tù”! Anh ta ngắm nghía cây căm xe một cách lưu luyến rồi ngồi xuống lại đào lỗ, bỏ sợi xiềng cùng cây căm xuống, lấp đất, lấy gót chân đạp lên mặt đất mấy cái cho phẳng. Bọc quần áo lúc này nhẹ hều, chỉ còn một bộ đồ rách với bộ đồ mới thay ra, mấy mảnh giẻ với chiếc bao tải, cầm cũng gọn.

Vành trăng khuyết trôi lênh đênh trên trời xám nhạt. 982 cứ nhìn theo trăng đi về phía Tây-Bắc mà anh ước đoán là vùng Chi Nê, Nho Quan. Lúc này, trăng đã từ phía trước mặt rọi lại, bóng anh đổ về sau lưng. Khi trăng mới mọc, còn thấy bóng mình ngã dài phía trước, cũng đỡ cô độc, bây giờ bóng mình cũng không thấy nữa. 982 đã được nghe đồng cảnh kể chuyện có nhiều tù nhân trốn trong rừng nhiều ngày, đi mãi mất phương hướng lại quay vòng trở lại nơi mình khởi hành mà không biết để đến nỗi bị bắt lại. Vì vậy, 982 hết sức chú ý đến phương hướng, luôn luôn ngó trăng làm đích.

982 lầm lũi đi chừng hơn cây số nữa, hai bên cây cối thêm rậm rạp, cỏ gianh nhiều quãng mọc cao đến ngực, con đường mòn biến mất lúc nào. Anh biết, đã bắt đầu tiến vào rừng rậm hoặc đã lộn đường nên ngừng chân suy tính.

Bỗng 982 thấy có nhiều mảng sáng lấp loáng phía trước mặt, những mảng sáng đó liên tục thành một giòng dài và thay đổi vị trí luôn luôn. Nhìn kỹ mới biết là con suối, 982 vạch cỏ tiến lên mươi bước nữa, tự hỏi:

– Nên vượt qua con suối hay dừng lại đây, đợi tảng sáng sẽ hay?

Anh ta lại bên bờ, nhìn dây lát giòng nước lấp lánh ánh bạc đang róc rách, rồi vén quần thò một chân xuống, coi nông sâu ra sao. Nước lạnh buốt như kim châm.

982 nắm một rễ cây mọc vươn ra mép nước, thò ngập cả cẳng chân xuống cũng không thấy đáy. Giữa dòng, suối tất sâu lắm, phải bơi mới qua được. Bề ngang con suối chừng 8 thước, chỉ dăm sải tay là bơi qua bên kia bờ, không khó khăn. Vả lại, đang vào mùa Xuân nên nước không lớn bao nhiêu.

Sau khi suy nghĩ, 982 quyết định ở lại bên này suối, sớm mai trông rõ địa thế sẽ tính. Anh quay trở lại kiếm một cây nhiều chạc để ngồi dựa lưng nghỉ qua đêm, và dựa vào cành cao hơn mặt đất sáu, bảy thước vị trí vững vàng, lỡ ra cọp tới cũng không nguy hiểm.

Nghĩ đến cọp, 982 sực nhớ vùng này có cọp, tù nhân đi làm rừng đã thường gặp vết chân cọp trên mặt đất ẩm ướt. Nghe nói trước đây sáu tháng một tù nhân trốn vào rừng nhân đi làm củi, đã bị cọp bắt. Hồi bị giam ở Việt Bắc, 982 đã nghe nhiều chuyện cọp rình bắt tù ăn thịt, lúc này nhớ lại thấy hoảng. Câu chuyện lạ kỳ dưới đây anh nhớ nhất:

Cũng một đêm sáng trăng, một người tù trốn khỏi trại giam Cộng sản ở giữa rừng leo một ngọn đồi trọc để vượt qua bên kia là vùng thung lũng. Sườn đồi dốc ngược và khá dài, người tù ngã mình về phía trước để leo cho dễ, đăm đăm nhìn xuống lối đi đặng tránh những chướng ngại, đầu óc mải mê suy nghĩ. Gió thổi vù vù hai bên tai. Leo lên đỉnh đồi, người tù dừng lại định kiếm chỗ ngồi núp đặng lấy lại sức. Bất ngờ, khi đó anh ta đã đứng ngay gần đuôi một ông “kễnh” mà không biết.

Thì ra có một con cọp đang nằm dài trên một tảng đá phẳng phiu, say mê ngắm trăng lên. Những người ở miền rừng núi cho rằng cọp thích ngắm trăng khi đã no mồi. Thật không gì hùng tráng bằng cảnh tượng chúa sơn lâm, nằm dài trên phiến đá ngắm cảnh trăng lên, rồi ngắm nhìn bao quát khắp vùng rừng bốn phía dưới chân đồi trong phạm vi sinh sát của cọp. Khi đó cọp có vẻ hiền lành và…mơ mộng như bất cứ một loại thú rừng hiền lành nào.

Trường hợp của người tù nọ thật là tiến thoái lưỡng nan. Tiến lên cũng chết, lùi lại cũng chết mà ngồi dí ở đó chờ đến lúc cọp đi khỏi – mà chắc gì nó đã đi – cũng hiểm nguy không kém. Đúng là trốn cọp Cộng sản lại gặp cọp sơn lâm. Trong lúc vừa sợ hãi, vừa liều lĩnh vì tuyệt vọng, lại thêm cuồng trí, người tù uất ức gào lên một tiếng căm thù cả Cộng sản lẫn cọp, đồng thời nhẩy lên vồ trúng vào đít cọp. Cọp đang mơ mộng lim dim ngắm trăng, bất ngờ bị một vật gì vồ trúng hạ bộ kèm theo một tiếng hét long đồi lở núi, giật mình đến thót một cái mất tinh thần băng xuống bên kia đồi, chạy biến vào rừng.

Người tù nọ thoát chết một cách lạ lùng.

Từ trên chạc cây cao, 982 vẩn vơ suy nghĩ rồi đảo mắt nhìn quanh quất từ phía dưới chân. Đây đó, những khoảng sáng trăng nho nhỏ chập chờn, lúc xa lúc như đang chạy lại gần. 982 nhìn kỹ, lại thấy có nhiều vệt sáng li ti trên mặt đất đột hiện đột biến. Anh ta đoán đó là những sinh vật nhỏ như sâu đất có mang chất lân tinh nên phát quang trong tối.

Một cơn gió ào lướt trên ngọn cây rừng. Cành lá bỗng xào xạc rung động. Nhiều tiếng răng rắc, thân cây kèn kẹt cọ vào nhau bên kia suối. 982 đoán gần đây có nhiều bụi giang hay nứa nên mới có những tiếng ken két rợn người như vậy. Liệu còn phải sống chui sống nấp trong rừng bao nhiêu ngày nữa? Rồi lấy lương thực ở đâu ra dằn cơn đói đặng đủ sức lội bộ cả trăm cây số? Trời tạnh ráo đã vậy, rồi mưa gió bão bùng làm sao đây?

Anh ta thấy gian nguy mỗi lúc một nhiều, khi trước ở lều phong vương không dự tính được hết. Giả sử có hai, ba người tù trốn cùng một lúc với nhau, còn dễ dàng bàn tính và vững tâm hơn. Chứ một thân một mình lang thang, lầm lũi trong rừng lớp thì đói khát, lớp lo gặp thú dữ, khi phải tránh né bộ đội, dân quân du kích, dân làng…Khó lòng quá!

Tuy không dám tự thú nhưng 982 cũng nhận thấy không còn cương quyết và vững tâm như lúc sắp trốn khỏi trại giam…

—>15

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.